ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới, độ ẩm khá cao, diện tích rừng rất rộng do đó hệ thực vật rất phong phú và đa dạng. Từ thời xa xưa, ông cha ta đã biết dùng cây cỏ để chữa bệnh. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các cây thuốc được phát hiện ngày càng nhiều hơn, các kinh nghiệm dùng cây thuốc chữa bệnh đã được tích lũy dần dần trong nhân dân, rồi được truyền từ đời này sang đời khác. Và hiện nay, rừng ngập mặn cũng được coi là tài nguyên quý trên trái đất.
Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ còn gọi là Rừng Sác là một quần thể gồm các loài động, thực vật rừng trên cạn và thuỷ sinh, được hình thành trên vùng châu thổ rộng lớn của các cửa sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ. UNESCO đã công nhận đây là khu dự trữ sinh quyển thế giới vào ngày 21/1/2000 với hệ động thực vật đa dạng độc đáo điển hình của vùng ngập mặn. Nơi đây được công nhận là một khu du lịch trọng điểm quốc gia Việt Nam. Rừng ngập mặn Cần Giờ có 220 loài thực vật bậc cao với 155 chi, thuộc 60 họ; trong đó, các họ có nhiều loài nhất gồm: họ Cúc (Asteraceae) 8 loài, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 9 loài, họ Đước (Rhizophoraceae) 13 loài, họ Cói (Cyperaceae) 20 loài, họ Hòa thảo (Poaceae) 20 loài, họ Đậu (Fabaceae) 29 loài.
Thực vật ngập mặn đã được nghiên cứu là có những hợp chất mới mang nhiều hoạt tính sinh học có giá trị cao như quả cây Vẹt Trụ (Bruguiera cylindrica) có hàm lượng carbohydrate cao là 29. Năng suất quả già lớn hơn quả non với giá trị lần lượt là 9. Trái cây già có hoạt tính kháng oxy hóa hiệu quả hơn (13.47 ppm) so với trái non (81.60 ppm) và được phân loại là chất chống oxy hóa rất mạnh (IC50 < 50 ppm). Các hợp chất hoạt tính sinh học như chất chống oxy hóa là nhóm phenol[1].
Vẹt trụ còn có các hợp chất polysaccharide, cao chiết ethanol có khả năng kháng vi trùng gây bệnh sốt rét tại giá trị IC50 là 173.75 g/ml, hợp chất 3- feruloyltaraxerol từ cao chiết n-hexane chứng minh khả năng gây độc tế bào kháng lại tế bào ung thư phổi[2],. 1 Trên cơ sơ đó mà đề tài “Khảo sát thành phần hóa học từ cao chiết n-hexan của lá Vẹt trụ (Bruguiera cylindrica)” được thực hiện nhằm xác định thành phần hóa học của cao chiết n-hexan của lá cây Vẹt trụ (Brugruiera cylindrica) và tìm ra những hợp chất hóa học có hoạt tính và có lợi về kinh tế để góp phần phát triển các loại thuốc thảo dược sau này. 2 PHẦN I: TỔNG QUAN 1. Mô tả tổng quan về chi Bruguiera Chi Vẹt (Brugueira) thuộc họ Đước (Rhizophoraceae), theo Phạm Hoàng Hồ[3] tại Việt Nam gồm có 4 loài: Vẹt trụ (Bruguiera cylindrica), Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza), Vẹt tách (Bruguiera parviflora), Vẹt đen (Bruguiera sexangul) 1.
Cây Vẹt đen (Bruguiera sexangul)[4] Cây cao khoảng 20m, vỏ cây có màu nâu nhạt đén xám. Lá có hình elip hoặc thuôn dài, nhọn; phiến lá dài 8-16 cm, rộng 3-6 cm, phẳng; cuống lá dài 1.5-5 cm; lá kèm dài 3.5-4 cm, có màu xanh lá hoặc màu vàng-xanh. Hoa đơn dộc, dài 3 cm từ phần gốc; đài hoa dài 10-12 mm, có màu vàng đến màu nâu gỉ. Cánh hoa dài 1.5 cm, 2 thùy, có lông ở gốc và thường mọc theo mép.
Bao phấn dài 4-5 mm, không niêm mạc. Trụ dưới lá mần dài 6-12 cm, rộng 1.5-2 cm, hơi có góc cạnh, thu hẹp ở hai đầu. Cây Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza)[4] Cây cao khoảng 20 m, vỏ cây màu xám đến đen; nhiều rễ đầu gối. Lá hình elip, nhọn; phiến lá dài 8-20 cm, rộng 3-9 cm; cuống lá dài 2-4 cm; lá kèm thường có màu đỏ.
Hoa đơn độc, dài 3.5 cm từ phần gốc, cuống nhỏ dài 1-2.5 cm, được thu lại, ít nhất một bên có màu đỏ. Có khoảng 10-16 đài hoa, màu từ hồng nhạt đến đỏ tươi. Cánh hoa dài 1.5 cm, 2 thùy, màu từ tráng chuyển sang vàng nâu; lề và đáy cánh hoa có lông tơ; có 2 đến 3 lồng mền kết thúc mỗi thùy. 1 trong lõm gian thùy.
Bao phấn dài 4 mm, có chất nhầy. Trụ dưới lá mần dài 10-25 cm, rộng 1.5 cm, thẳng, hơi có gân và trong ở đỉnh. Cây Vẹt trụ (Bruguiera cylindrica)[4] Cây cao khoảng 20 m với rễ cây nhở ở gốc; rất nhiều rễ đầu gối; vỏ cây có màu xám. Lá có hình elip, nhọn, không có lông; phiến lá daì 5-17 cm, rộng 2.5-8 cm; cuống lá dài 4 1-4.5 cm; lá kèm dài 2.
Cụm hoa có 3 hoa; cuống hoa dài 5 mm; cuống nhỏ dài 2 mm; hoa có màu kem đến xanh. Cánh hoa dài 3-4 mm, có lông dọc theo mép cánh. Bao phấn dài 0.5 mm, ngắn hơn sợi tơ, thon dần lên. Quả dài 10-12 cm.
Trụ dưới lá mần dài 8-15 cm, rộng 5 mm, thường cong và không có gân. Cây Vẹt tách (Bruguiera parviflora)[4] Cây cao khoảng 20 m; nhiều rễ đầu gối; vỏ cây nhăn, có màu xám. Lá hình elip, nhọn; phiến lá dài 4-13 cm.5-4 cm; cuống lá dài 1.5-2 cm; lá kèm dài 4. Cụm hoa có 3-10 hoa; cuống hoa dài 2 cm; cuống nhỏ dài 6-13 mm; hoa có màu vàng- xanh.
Có khoảng 8 đài hoa, dài 2 mm, đài cương lên bên trong quả. Cánh hoa dài 1.5-2 mm, có lông ngoài gần đáy cánh hoa; thùy dài 0.5 mm; có 3 lông ở đầu mỗi thùy và 1 lông ở lõm gian thùy. Bao phấn thuôn dài, riêng biệt ngắn hơn sợi tơ. Qủa dài 1-2 cm.
5 Trụ dưới lá mần 7-20 cm, rộng 5 mm, không có gân, mùa lá rụng kèm theo quả; thành quả không rụng như một cổ áo trên cây con, các cánh hướng xuống dưới. Các nghiên cứu thành phần hóa học trên chi Bruguiera Có nhiều nghiên cứu hóa học về các bộ phần khác nhau (lá, thân, vỏ, trái, hoa, rễ và nhánh) của chi Bruguiera đã phân lập được các alkaloids, diterpenoids, triterpenoids, steroids, lignans, flavonoids, phenolics, sulphur… 1. Vỏ cây Vẹt đen (Bruguiera sexangula) Năm 1969, Loder và cộng sự[5] đã cô lập được một alkaloid mới, đó là brugine (1) và các alkaloids được biết đến ở vùng nhiệt đới (2), tropine acetate (3), tropine benzoate 6 (4), tropine isobutyrate (5), tropine isovalerate (6), tropine n-butyrate (7) and tropine propionate (8) từ vỏ cây Vẹt đen (Bruguiera sexangula). Thân cây Vẹt đen (Bruguiera sexangula) Năm 2005, Shuyun Bao và cộng sự[6] đã cô lập và đặt tên cho một dithiobenzoquinone mới (-)-3,4-dihydro-3-hydroxy-7-methoxy-2H-1,5-benzodithiepine-6,9-dione (9); ba diterpenes mới, cụ thể là 17-hydroxy-16-oxobeyer-9(11)-ene-19-al (10), 16,17- dihydroxy-19-nor-ent-9(11)-kaurene-3-one (11), (16R)-13,17-epoxy-16-hydroxy-ent- 9(11)-kaurene-19-al (12); sáu diterpenes đã được biết đến là 17-hydroxy-16- oxobeyerane-19-al (13), 16,17-dihydroxy-ent-9(11)-kaurene-19-al (14), methyl 16,17- dihydroxy-ent-9(11)-kaurene-19-oate (15), methyl (16R)-13,17-epoxy-16-hydroxy-ent- 9(11)-kaurene-19-oate (16), ceriopsin F (17), ent-8(14)-pimarene-1β,15R,16-triol (18); hai cyclic disulfide là brugierol (19), isobrugierol (20); và 2,6-dimethoxy-1,4- benzoquinone (21) từ thân cây Vẹt đen (Bruguiera sexangula), được thu thập từ Haikou, đảo Haiman, Trung Quốc.
Năm 2007, Shuyun Bao và cộng sự[7] cũng cô lập được bốn phenolic glycosides mới, được đặt tên là rhyncoside A–D (22–25) và hai dẫn xuất mới của lignan, được đặt tên là rhyncoside E—F (26-27) cùng với mười hai thành phần phenolic đã được biết dến bao gồm hai phenolic glycoside là 3,4,5-trimethoxyphenyl-β-D-glucopyranoside (28), 1-(α- L-rhamnopyranosyl-(1–6)-β-D-glucopyranosyloxy)-3,4,5-trimethoxybenzene (29); bốn flavonoids là tricin (30), rutin (31), nicotiflorin (32) và myricetin 3-O-rutinoside (33); và sáu lignans gồm lyoniside (34), (+)-lyoniresinol 3α-O-α-L-rhamnopyranoside (35), (+)- 5′-methoxyisolariciresinol 9′-β-D-xylopyranoside (36) và hedyotisols A–C (37–39) từ thân cây Vẹt đen (Bruguiera sexangula), được thu thập từ đường bờ biển gần Xiamen, Fujian province, Trung Quốc. Năm 2010, Liang Li và cộng sự[8] đã cô lập được triterpenoid mới thuộc khung lanostane, đặt tên là sexangulic acid (40) từ thân cây Vẹt đen (Bruguiera sexangula). Từ rễ cây Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza) Năm 1999, Chitti Subrahmanyam và cộng sự[9] đã cô lập được steviol (41) và năm diterpene là 13-hydroxy-16-ent-kaurene-19-al (42), 16-ent-kaurene-13,19-diol (43), isopimar-7-ene-15S,16-diol (44), methyl (16R)-13,17-epoxy-16-hydroxy-ent-9(11)- kaurene-19-oate (45) and ent-8(14)-pimarene-1β,15R,16-triol (46) từ rễ cây Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza). Từ thân và lá cây Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza) Năm 2004, Li Han và cộng sự[10] đã cô lập được ba ent-kaurane diterpenoid, đặt tên là 13,16α,17-trihydroxy-ent-9(11)-kaurene-19-oic acid (47), 16α,17-dihydroxy-ent- 9(11)-kaurene 19-al (14), 17-chloro-13,16β-dihydroxy-ent-kaurane-19-al (48) và một ent-beyerane diterpenoid, đặt là (4R,5S,8R,9R,10S,13S)-ent-17-hydroxy-16- oxobeyerane-19-al (13) cùng với 9 ent-kaurane diterpenoid đã biết tên bao gồm methyl 16α,17-dihydroxy-ent-kaurane-19-oate (49), 16α,17-dihydroxy-ent-9(11)-kaurene-19- oic acid (50), methyl 16α,17-dihydroxy-ent-9(11)-kaurene-19-oate (15), 16α,17- dihydroxy-ent-kaurane-19-al (51), 16αH-17-hydroxy-ent-kaurane-19-oic acid (52), 16αH-17,19-ent-kauranediol (53), 13-hydroxy-16-ent-kaurene-19-al (42), 16-ent- kaurene-13,19-diol (43) and 16-ent-kaurene-19-ol (54) từ thân cây Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza).
Cũng trong năm này, Yan-Qiu Sun and Yue-Wei Guo[11] đã cô lập được một hợp chất mới đặt tên là gymnorrhizol (55) từ những phân thân cây bị bong ra và lá cây Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza). Năm 2005, Li Han và cộng sự[12] đã cô lập được năm hợp chất aromatic, đặt tên là bruguierol A–C (56–58), 1-(3-hydroxyphenyl)hexane-2,5-diol (59) và 3-(3- hydroxybutyl)-1,1-dimethylisochroman-6,8-diol (60); ba pimaren diterpenoids tên là ent-8(14)-pimarene-15R,16-diol (61), ent-8(14)-pimarene-1a,15R,16-triol (62) và (5R,9S,10R,13S,15S)-ent-8(14)-pimarene-1-oxo-15R,16-diol (63); tiếp đến là ba diterpenoids đã biết, đó là ent-8(14)-pimarene-1β,15R,16-triol (46), isopimar-7-ene- 8 15S,16-diol (44) và isopimar-7-ene-1β,15S,16-triol (64) từ thân cây Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza) sống trong rừng ngập mặn. Năm 2007, Li Han và cộng sự. Năm 2008, Suisheng Shang và Shengjing Long[14] đã cô lập được một neolignan dioate là brugnanin (72) từ thân cây Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza).
Năm 2009, Xiao-Ying Huang và cộng sự[15] đã cô lập được hai novel polydisulfides là trans-3,3′-dihydroxy-1,5,1′,5′-tetrathiacyclodecane (73), cis-3,3′-dihydroxy-1,5,1′,5′- tetrathiacyclodecane (74), tiếp đến là năm cyclic disulfides đã được biết đến, gymnorrhizol (55), neogymnorrhizol (75), bruguiesulfurol (71), brugierol (19) and isobrugierol (20) từ thân và lá cây Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza). Năm 2011, You-Sheng Cai và cộng sự[16] đã cô lập được bảy hợp chất mới, đặt tên là palmarumycins BG1–BG7 (76–82) cũng như một dẫn xuất mới của preussomerin BG1 là preussomerin BG1 (83) từ các bộ phần trên không của cây Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza). Từ hoa của cây Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza) Năm 2006, Sudarat Homhual và cộng sự[17,18] đã cô lập được ba dammarane triterpenes, là bruguierins A–C (68–70); a new cyclic 4-hydroxydithiosulfonate, đặt tên là bruguiesulfurol (71) cũng như hai hợp chất đã biết là 4-hydroxydithiolane 1-oxide, brugierol (19) và isobrugierol (20) từ hoa của cây Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza). Từ quả Vẹt trụ (Bruguiera cylindrica) Năm 2004, Surat Laphookhieo và cộng sự[19] đã cô lập được sáu pentacyclic triterpenoid esters, đặt tên là 3α-(E)-feruloyltaraxerol (84), 3α-(Z)-feruloyltaraxerol (85), 3β-(E)-feruloyltaraxerol (86), 3β-(Z)-feruloyltaraxerol (87), 3α-(E)-coumaroyltaraxerol (88) and 3α-(Z)-coumaroyltaraxerol (89) together with two known compounds such as 3α-taraxerol (90) và 3β-taraxerol (91) từ quả cây Vẹt trụ (Bruguiera cylindrica).
9 Năm 2005, Chatchanok Karalai và Surat Laphookhieo[20] đã cô lập được ba pentacyclic triterpenoid esters mới, đã đặt tên là 3α-(E)-coumaroyllupeol (92), 3α-(Z)- coumaroyllupeol (93) và 3α-(E)-caffeoyltaraxerol (94), cùng với sáu lupane-type triterpenoids đã biết bao gồm 3β-(E)-coumaroyllupeol (95), 3β-(Z)-coumaroyllupeol (96), 3β-(E)-caffeoyllupeol (97), 3β-lupeol (98), 3α- lupeol (99) và lupenone (100) từ quả Vẹt trụ (Bruguiera cylindrica). Từ rễ và lá Vẹt trụ (Bruguiera cylindrica) Năm 2007, từ rễ cây Vẹt trụ (Bruguiera cylindrical), Suchada Chantrapromma và cộng sự[21] đã cô lập được hợp chất ent-kaurane diterpene đó là 16-ent-kaurene-19-al (101); Abdul Wahab Salae và cộng sự[22] cũng đã cô lập được một hợp chất diterpenoid, as 16-ent-kaurene-13,19-diol (43).