Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa với độ ẩm cao và diện tích rừng ngập mặn rộng lớn, tạo nên hệ thực vật phong phú, có truyền thống lâu đời trong việc ứng dụng cây cỏ làm thuốc chữa bệnh. Trong đó, Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ (Rừng Sác) tại Thành phố Hồ Chí Minh, được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới vào ngày 21/01/2000, là một quần thể sinh thái ngập mặn tiêu biểu với 220 loài thực vật bậc cao thuộc 155 chi và 60 họ. Trong hệ sinh thái này, họ Đước (Rhizophoraceae) chiếm 13 loài và là nhóm thực vật đóng vai trò quan trọng về mặt sinh thái học lẫn giá trị hợp chất tự nhiên.

Các nghiên cứu thực vật ngập mặn đã chứng minh sự hiện diện của nhiều chất chuyển hóa thứ cấp có hoạt tính sinh học giá trị. Đối với loài Vẹt trụ (Bruguiera cylindrica), quả già của loài này chứa hàm lượng carbohydrate cao và có hoạt tính kháng oxy hóa mạnh với giá trị IC50 đạt 13,47 ppm (so với quả non là 81,60 ppm). Bên cạnh đó, cao chiết ethanol của cây thể hiện khả năng ức chế vi trùng gây bệnh sốt rét với IC50 đạt 173,75 µg/ml; hợp chất 3-feruloyltaraxerol cô lập từ phân đoạn cao n-hexane cho thấy độc tính tế bào đối với dòng tế bào ung thư phổi. Xuất phát từ cơ sở đó, đề tài khóa luận tốt nghiệp ngành Công nghệ sinh học do sinh viên Phạm Anh Thư thực hiện tập trung vào việc khai thác thành phần hóa thực vật của lá cây Vẹt trụ tại Cần Giờ.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:

  1. Chiết xuất và điều chế các phân đoạn cao chiết từ lá cây Vẹt trụ (Bruguiera cylindrica).
  2. Phân lập các hợp chất hóa học tinh khiết từ phân đoạn cao chiết n-hexane bằng các kỹ thuật sắc ký thích hợp.
  3. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất cô lập được thông qua các phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) và đối chiếu với các tài liệu chuẩn.
  4. Tìm kiếm các hợp chất có tiềm năng hoạt tính sinh học và giá trị kinh tế nhằm định hướng ứng dụng trong nghiên cứu phát triển dược liệu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Lá trưởng thành màu xanh, có chiều dài khoảng 10–17 cm của loài Vẹt trụ (Bruguiera cylindrica), thuộc họ Đước (Rhizophoraceae). Mẫu thực vật do Tiến sĩ Phạm Văn Ngọt (Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh) định danh.
  • Phạm vi không gian: Nguyên liệu thực vật được thu hái tại rừng ngập mặn huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh. Các thực nghiệm điều chế cao và phân lập chất được tiến hành tại Phòng thí nghiệm Sinh hóa, Khoa Công nghệ Sinh học, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh (địa chỉ: 68 Lê Thị Trung, phường Phú Lợi, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương). Dữ liệu phổ cộng hưởng từ hạt nhân được đo đạc tại Viện Hóa học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Khóa luận hoàn thành và bảo vệ vào năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của nghiên cứu dựa trên cơ sở phân loại học thực vật học chi Vẹt (Bruguiera) và hóa học các hợp chất thiên nhiên (phytochemistry). Về mặt phân loại học, chi Vẹt tại Việt Nam theo giáo trình thực vật học của Phạm Hoàng Hộ gồm có bốn loài: Vẹt trụ (Bruguiera cylindrica), Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza), Vẹt tách (Bruguiera parviflora) và Vẹt đen (Bruguiera sexangula). Về mặt hóa học thực vật, các nghiên cứu trên chi này cho thấy sự tích lũy phong phú của các nhóm hợp chất thứ cấp như triterpenoid (khung lupane, oleanane, dammarane, lanostane), diterpenoid (khung kaurane, beyerane, pimarene), alkaloid, lignan, flavonoid, dẫn xuất phenolic và các hợp chất chứa lưu huỳnh mạch vòng (cyclic disulfides).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được triển khai tuần tự theo quy trình hóa thực vật chuẩn:

  • Phương pháp chiết xuất phân đoạn rắn – lỏng: Bột lá Vẹt trụ khô được ngâm dầm hồi lưu tại nhiệt độ phòng với dung môi ethanol 90% theo tỷ lệ 1:12 (g/ml), thực hiện lặp lại 15 lần (chu kỳ 24 giờ/lần). Dịch chiết gom lại được thu hồi dung môi dưới áp suất giảm bằng máy cô quay chân không để thu cao tổng ethanol. Tiếp đó, cao tổng ethanol được chiết phân bố lỏng – rắn với các dung môi có độ phân cực tăng dần: n-hexane, ethyl acetate và methanol.
  • Phương pháp sắc ký lớp mỏng (TLC): Thực hiện trên bản mỏng tráng sẵn silica gel pha thường DC-Alufolien 60 F254 và pha đảo RP18 F254s (Merck). Các vết chất được phát hiện dưới đèn tử ngoại ở bước sóng 254 nm và 365 nm, hoặc hiện màu bằng thuốc thử dung dịch H2SO4 10% kết hợp hơ nóng trên bếp điện.
  • Phương pháp sắc ký cột (CC): Sử dụng cột thủy tinh với chất nhồi pha thường là silica gel (cỡ hạt 0,040–0,063 mm, Merck) và rây phân tử Sephadex LH-20 để phân tách, tinh chế các phân đoạn.
  • Phương pháp xác định cấu trúc hóa học: Sử dụng phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều gồm phổ 1H-NMR (tần số 500 MHz) và phổ 13C-NMR (tần số 125 MHz) đo trên máy Bruker AM500 FT-NMR Spectrometer / Bruker Avance 500III. Dung môi đo phổ là CDCl3 và DMSO-d6. Cấu trúc chất được giải đoán thông qua độ dịch chuyển hóa học (δ, ppm), hình dạng mũi phổ, hằng số ghép spin (J, Hz) và đối chiếu trực tiếp với các công bố khoa học chuyên ngành.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm dữ liệu thực nghiệm sơ chế mẫu thực vật, khối lượng cao chiết, các phân đoạn sắc ký và hệ phổ NMR thực đo của năm hợp chất tinh khiết, kết hợp cơ sở dữ liệu đối chiếu từ các bài báo khoa học quốc tế về chi thực vật Bruguiera.

Nội dung chính theo từng chương

PHẦN I: TỔNG QUAN

Chương tổng quan hệ thống hóa các đặc điểm thực vật học, lịch sử nghiên cứu hóa học và hoạt tính sinh học của chi Bruguiera:

  • Đặc điểm hình thái học: Mô tả chi tiết 4 loài Vẹt tại Việt Nam. Loài Vẹt trụ (Bruguiera cylindrica) là cây thân gỗ cao khoảng 20 m, có nhiều rễ đầu gối và rễ nhỏ ở gốc, vỏ màu xám. Lá hình elip, nhọn, không lông, kích thước 5–17 cm x 2,5–8 cm; cuống lá dài 1–4,5 cm. Cụm hoa gồm 3 hoa, hoa màu kem đến xanh; quả dài 10–12 cm; trụ dưới lá mầm dài 8–15 cm, rộng 5 mm, thường cong và không có gân.
  • Nghiên cứu thành phần hóa học: Tổng hợp các công bố khoa học từ năm 1969 đến 2018 trên các bộ phận của chi Vẹt. Tiêu biểu gồm alkaloid mới brugine từ vỏ cây Vẹt đen (Loder và cộng sự, 1969); các diterpene và cyclic disulfide như bruguierol, isobrugierol từ thân cây Vẹt đen (Bao Shuyun và cộng sự, 2005); các ent-kaurane diterpenoid từ rễ và thân Vẹt dù; các dẫn xuất triterpenoid ester pentacyclic từ quả Vẹt trụ như 3α-(E)-feruloyltaraxerol, 3α-(E)-coumaroyllupeol, 3β-lupeol (Surat Laphookhieo và cộng sự, 2004, 2005); và các hợp chất taraxerol, β-sitosterol, eicosanol từ lá Vẹt trụ (Nithyamol và cộng sự, 2018).
  • Nghiên cứu hoạt tính sinh học: Đề cập tác dụng dược lý dân gian và thực nghiệm như hoạt tính kháng độc tế bào ung thư (dòng NCI-H460, nguyên bào sợi chuột L-929, bệnh bạch cầu dòng tủy K562), hoạt tính ức chế chọn lọc COX-2 của bruguierin A, khả năng kháng ký sinh trùng sốt rét của 3β-(Z)-caffeoyllupeol (EC50 = 8,6 µM), hoạt tính ức chế enzyme protein tyrosine phosphatase 1B (PTP1B) điều trị đái tháo đường và béo phì của gymnorrhizol và bruguiesulfurol, tác dụng ức chế vi khuẩn Vibrio alcaligenes, Vibrio alginolyticus, cùng khả năng ức chế sinh tổng hợp cholesterol hạ lipid máu.

PHẦN II: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương này mô tả chi tiết nguồn nguyên liệu, trang thiết bị, hóa chất và toàn bộ quy trình thực nghiệm:

  • Chuẩn bị nguyên liệu: 8 kg lá Vẹt trụ khô xay nhuyễn được ngâm dầm với ethanol 90% (tỷ lệ 1:12 g/ml, 15 lần x 24 giờ) ở nhiệt độ phòng. Sau khi thu hồi dung môi dưới áp suất thấp, thu được 900 g cao tổng ethanol.
  • Điều chế cao phân đoạn: Chiết phân bố cao ethanol thu được 100 g cao n-hexane, 300 g cao ethyl acetate và 380 g cao methanol. Phân đoạn cao n-hexane (100 g) được chọn để tiến hành phân lập hợp chất.
  • Quy trình cô lập chất: Sắc ký cột silica gel (cột kích thước 120 x 6 cm) với hệ dung môi n-hexane : ethyl acetate (H:EA từ 98:2 đến 0:100 v/v) và ethyl acetate : methanol (EA:Me từ 90:10 đến 0:100 v/v) chia cao n-hexane thành 5 phân đoạn lớn ký hiệu từ H1 đến H5.
    • Phân đoạn H2 qua cột silica gel hệ H:EA (90:10 đến 0:100 v/v) và tinh chế qua cột Sephadex LH-20 thu được hợp chất BC03 (10,2 mg).
    • Phân đoạn H3 (13,2 g) qua cột silica gel hệ H:EA (80:20 đến 0:100 v/v) và EA:Me (90:10 đến 0:100 v/v) thu được 6 phân đoạn phụ (H31 đến H36).
    • Từ phân đoạn H31, qua sắc ký cột hệ H:EA (95:5 đến 0:100 v/v) và cột Sephadex LH-20 thu được hợp chất BC01 (7,5 mg).
    • Từ phân đoạn H34, qua sắc ký cột hệ H:EA (60:40 đến 0:100 v/v) và cột Sephadex LH-20 thu được hợp chất BC02 (8,2 mg).
    • Phân đoạn H33 (10,5 g) qua cột silica gel thu 6 phân đoạn nhỏ (H33.1 đến H33.6); trong đó phân đoạn H33.1 qua cột hệ H:EA (90:10 đến 0:100 v/v) và Sephadex LH-20 cho hợp chất BC04 (6,1 mg); phân đoạn H33.2 qua cột hệ H:EA (80:20 đến 0:100 v/v) và Sephadex LH-20 cho hợp chất BC05 (5,8 mg).

PHẦN III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Chương này trình bày chi tiết kết quả biện luận cấu trúc hóa học của năm hợp chất cô lập được:

  • Hợp chất BC01 (7,5 mg): Chất rắn vô định hình màu trắng, tan trong CDCl3. Phổ 1H-NMR xuất hiện 7 tín hiệu methyl mũi đơn ở vùng trường cao (δH 0,68–1,68 ppm), 1 cặp tín hiệu olefin đặc trưng của liên kết đôi ngoài vòng tại δH 4,57 ppm và 4,69 ppm đặc trưng cho khung sườn lupane. Tín hiệu proton gắn carbon mang nhóm hydroxy tại δH 3,18 ppm (1H, dd, J = 11,5 Hz, H-3) chứng minh nhóm 3-OH có cấu hình β. Phổ 13C-NMR hiển thị 30 tín hiệu carbon, gồm liên kết đôi ngoài vòng tại δC 109,3 ppm (C-29) và δC 150,9 ppm (C-20), carbon mang nhóm hydroxy ở δC 79,0 ppm (C-3). Hợp chất được xác định là Lupeol.
  • Hợp chất BC04 (6,1 mg): Chất dạng dầu không màu, tan trong CDCl3. Phổ 1H-NMR cũng có 7 tín hiệu methyl đơn và cặp olefin ngoại vòng tại δH 4,57 và 4,69 ppm của khung lupane. Ngoài ra, phổ có 2 tín hiệu proton vòng thơm ghép ortho tại δH 7,43 ppm (2H, d, J = 8,5 Hz) và δH 6,85 ppm (2H, d, J = 8,5 Hz); 2 proton olefin ghép trans tại δH 6,27 ppm và δH 7,61 ppm với hằng số ghép lớn (J = 15,5 Hz), đặc trưng cho nhóm trans-coumaroyl. Tín hiệu methine oxy hóa xuất hiện dạng mũi đơn bầu tại δH 4,74 ppm (1H, brs, H-3) cho thấy cấu hình α. Phổ 13C-NMR có tín hiệu carbon carbonyl tại δC 167,1 ppm (C-9') và carbon C-3 tại δC 78,4 ppm. Hợp chất được xác định là 3α-(E)-coumaroyllupeol.
  • Hợp chất BC02 (8,2 mg): Bột trắng vô định hình, tan trong CDCl3. Phổ 1H-NMR hiển thị 8 tín hiệu methyl mũi đơn (δH 0,84–1,17 ppm), một proton olefin tại δH 5,62 ppm (1H, d, J = 6,0 Hz) và một proton hydroxyl mũi đơn bầu tại δH 3,46 ppm (1H, brs, H-3) với giá trị J thấp đặc trưng cấu hình α. Phổ 13C-NMR cho thấy 30 tín hiệu carbon với liên kết đôi nội vòng ở δC 141,6 ppm (C-5) và δC 122,0 ppm (C-6), carbon gắn nhóm hydroxy ở δC 76,5 ppm (C-3), phù hợp với khung oleanane. Hợp chất được xác định là Glut-5-en-3-ol.
  • Hợp chất BC05 (5,8 mg): Tinh thể hình kim màu trắng, tan trong CDCl3. Phổ 1H-NMR có 8 tín hiệu methyl đơn (δH 0,81–1,19 ppm), hai proton olefin tại δH 5,51 ppm và 5,56 ppm, cùng một proton hydroxyl tại δH 3,24 ppm (1H, dd, J = 12,0; 5,0 Hz, H-3) có cấu hình β. Phổ 13C-NMR có 30 carbon, trong đó có 4 tín hiệu carbon olefin (gồm C-9 ở δC 154,3 ppm, C-11, C-12, C-13) biểu thị hệ liên kết đôi liên hợp diene của khung oleanane, và carbon C-3 ở δC 78,87 ppm. Hợp chất được xác định là 3β-hydroxy-oleana-9(11),12-diene.
  • Hợp chất BC03 (10,2 mg): Chất rắn vô định hình màu vàng, tan trong DMSO-d6. Phổ 1H-NMR cho thấy khung flavone đặc trưng: một proton H-3 dạng mũi đơn tại δH 6,87 ppm; vòng A mang 5,7-dihydroxy với hai proton thơm ghép meta tại δH 6,20 ppm (1H, d, J = 2,0 Hz, H-6) và δH 6,50 ppm (1H, d, J = 2,0 Hz, H-8); nhóm 5-OH liên kết hydro nội phân tử xuất hiện ở vùng trường rất thấp δH 12,96 ppm; vòng B thế tại vị trí 3', 4' gồm các proton tại δH 7,56 ppm (1H, d, J = 2,0 Hz, H-2'), δH 6,94 ppm (1H, d, J = 8,0 Hz, H-5'), δH 7,57 ppm (1H, dd, J = 8,0; 2,0 Hz, H-6'); và một nhóm methoxy tại δH 3,89 ppm (3H, s, 3'-OCH3). Phổ 13C-NMR gồm 16 carbon với carbonyl C-4 ở δC 181,7 ppm, C-2 ở δC 163,7 ppm, C-3 ở δC 103,1 ppm và nhóm methoxy ở δC 56,0 ppm. Hợp chất được xác định là flavonoid Chrysoeriol.

PHẦN VI: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

Tổng kết lại năm hợp chất phân lập được từ lá Vẹt trụ và đưa ra ba đề xuất thực nghiệm nối tiếp nhằm hoàn thiện hướng nghiên cứu của đề tài.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã hoàn thành toàn bộ mục tiêu thực nghiệm đề ra, phân lập và làm sáng tỏ cấu trúc hóa học của năm hợp chất chuyển hóa thứ cấp từ phân đoạn cao n-hexane của lá Vẹt trụ (Bruguiera cylindrica) Cần Giờ.

Ký hiệu mẫu Tên hợp chất Phân loại hóa học Khối lượng (mg) Trạng thái cảm quan Độ tan
BC01 Lupeol Triterpenoid (khung lupane) 7,5 Chất rắn vô định hình màu trắng Chloroform
BC02 Glut-5-en-3-ol Triterpenoid (khung oleanane) 8,2 Bột trắng vô định hình Chloroform
BC03 Chrysoeriol Flavonoid (khung flavone) 10,2 Chất rắn vô định hình màu vàng Methanol, DMSO
BC04 3α-(E)-coumaroyllupeol Triterpenoid ester 6,1 Chất dạng dầu không màu Chloroform
BC05 3β-hydroxy-oleana-9(11),12-diene Triterpenoid (khung oleanane) 5,8 Tinh thể hình kim màu trắng Chloroform

Về mặt đóng góp khoa học, đề tài đã bổ sung dữ liệu thực nghiệm về thành phần hóa học của bộ phận lá loài Vẹt trụ tại Việt Nam. Trong khi các nghiên cứu trước đây trên thế giới và tại Việt Nam tập trung chủ yếu vào vỏ, rễ hoặc quả cây Vẹt trụ, khóa luận này đã chứng minh lá cây Vẹt trụ tại Rừng ngập mặn Cần Giờ là nguồn tích lũy đa dạng các triterpenoid pentacyclic có giá trị (khung lupane, oleanane, bao gồm cả dẫn xuất coumaroyl ester) và flavonoid tự nhiên.

Về mặt giải pháp và kiến nghị, tác giả đề xuất ba định hướng:

  1. Tiếp tục nghiên cứu thành phần hóa thực vật của hai phân đoạn cao chiết còn lại của lá Vẹt trụ là cao ethyl acetate (300 g) và cao methanol (380 g).
  2. Tiến hành thử nghiệm khảo sát hoạt tính sinh học (in vitro) đối với các phân đoạn cao chiết toàn phần và các hợp chất tinh khiết đã cô lập được.
  3. Thực hiện thử nghiệm khảo sát độc tính cấp của nguyên liệu lá Vẹt trụ để bảo đảm tính an toàn khi định hướng ứng dụng dược phẩm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ giới hạn khảo sát thành phần hóa học trên phân đoạn cao chiết kém phân cực (cao n-hexane, 100 g), chưa tiến hành phân lập trên hai phân đoạn cao phân cực trung bình và cao là ethyl acetate (300 g) và methanol (380 g). Đồng thời, trong khuôn khổ thời gian và trang thiết bị của khóa luận tốt nghiệp, đề tài mới dừng lại ở bước chiết tách và định danh cấu trúc bằng phổ NMR một chiều (1H và 13C), chưa triển khai các phép đo phổ hai chiều (COSY, HSQC, HMBC, NOESY) hoặc khối phổ (MS), cũng như chưa tiến hành thử nghiệm hoạt tính sinh học và đánh giá độc tính thực tế của các hợp chất tinh khiết đã thu nhận.

Các hướng mở tiếp theo bám sát đúng kiến nghị trong văn bản khóa luận:

  • Phân lập hóa thực vật đối với hai phân đoạn cao ethyl acetate và methanol nhằm tận dụng toàn diện nguồn nguyên liệu đã chiết tách.
  • Đánh giá hoạt tính sinh học in vitro (kháng khuẩn, kháng oxy hóa, kháng tế bào ung thư, hạ đường huyết hoặc ức chế enzyme) của lupeol, glut-5-en-3-ol, chrysoeriol, 3α-(E)-coumaroyllupeol và 3β-hydroxy-oleana-9(11),12-diene.
  • Khảo sát độc tính của dịch chiết nguyên liệu thực vật.

Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp này là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Công nghệ sinh học, Dược học, Hóa học các hợp chất tự nhiên và Hóa hữu cơ.

Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên môn cao bao gồm:

  • Quy trình chiết ngấm kiệt quy mô 8 kg bột dược liệu lá tươi phơi khô bằng ethanol, phương pháp điều chế cao phân đoạn theo độ phân cực tăng dần.
  • Kỹ thuật sắc ký cột phân tách phân đoạn cao n-hexane, hệ dung môi giải ly kết hợp n-hexane : ethyl acetate và ethyl acetate : methanol, cùng bước tinh chế cuối bằng gel Sephadex LH-20.
  • Dữ liệu quy kết dịch chuyển hóa học trên phổ 1H-NMR và 13C-NMR của nhóm triterpenoid pentacyclic (khung lupane và oleanane) và flavone (chrysoeriol), phục vụ công tác tra cứu phổ đối chiếu trong phân tích cấu trúc hóa thực vật.

Câu hỏi thường gặp

Khối lượng nguyên liệu bột lá Vẹt trụ ban đầu và hiệu suất thu nhận các phân đoạn cao chiết là bao nhiêu? Nghiên cứu sử dụng 8 kg bột lá Vẹt trụ khô, ngâm dầm 15 lần với ethanol 90% (tỷ lệ 1:12 g/ml) để thu được 900 g cao chiết tổng ethanol. Khi chiết phân đoạn pha rắn, lượng cao thu nhận lần lượt là 100 g cao n-hexane, 300 g cao ethyl acetate và 380 g cao methanol.

Từ phân đoạn cao n-hexane, tác giả đã cô lập được những hợp chất nào và khối lượng tương ứng là bao nhiêu? Từ 100 g cao n-hexane, tác giả đã phân lập được 5 hợp chất tinh khiết: BC01 (Lupeol, 7,5 mg), BC02 (Glut-5-en-3-ol, 8,2 mg), BC03 (Chrysoeriol, 10,2 mg), BC04 (3α-(E)-coumaroyllupeol, 6,1 mg) và BC05 (3β-hydroxy-oleana-9(11),12-diene, 5,8 mg).

Dấu hiệu quang phổ NMR nào trên hợp chất BC04 chứng minh sự hiện diện của nhóm thế coumaroyl tại vị trí C-3? Trên phổ 1H-NMR của BC04, nhóm coumaroyl được chứng minh bởi 2 proton thơm ghép ortho tại δH 7,43 ppm và 6,85 ppm (J = 8,5 Hz), 2 proton olefin ghép trans tại δH 6,27 ppm và 7,61 ppm (J = 15,5 Hz). Nhóm carboxyl ester thể hiện tại δC 167,1 ppm trên phổ 13C-NMR. Vị trí C-3 mang cấu hình α được xác nhận bởi tín hiệu methine dạng mũi đơn bầu tại δH 4,74 ppm (1H, brs, H-3) gắn với carbon C-3 tại δC 78,4 ppm.

Cấu hình nhóm hydroxyl tại vị trí C-3 của hợp chất BC01 (Lupeol) và BC02 (Glut-5-en-3-ol) khác nhau như thế nào? Ở hợp chất BC01, proton H-3 xuất hiện tại δH 3,18 ppm dưới dạng mũi đôi đôi (dd) với hằng số ghép lớn J = 11,5 Hz, chứng minh nhóm hydroxyl ở vị trí C-3 có hướng trục (axial) tương ứng cấu hình β. Ngược lại, ở hợp chất BC02, proton H-3 xuất hiện tại δH 3,46 ppm dưới dạng mũi đơn bầu (brs) với giá trị hằng số ghép nhỏ, chứng minh nhóm hydroxyl ở vị trí C-3 có cấu hình α.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Anh Thư đã khảo sát thực nghiệm thành phần hóa thực vật từ cao chiết n-hexane của lá Vẹt trụ (Bruguiera cylindrica) thu hái tại Khu dự trữ sinh quyển Rừng ngập mặn Cần Giờ. Bằng các kỹ thuật sắc ký cột silica gel pha thường và rây phân tử Sephadex LH-20, nghiên cứu đã cô lập thành công năm hợp chất tinh khiết bao gồm bốn triterpenoid (lupeol, glut-5-en-3-ol, 3α-(E)-coumaroyllupeol, 3β-hydroxy-oleana-9(11),12-diene) và một flavonoid (chrysoeriol). Cấu trúc của các hợp chất được định danh rõ ràng thông qua phân tích phổ 1H-NMR, 13C-NMR và đối chiếu với tài liệu quốc tế. Kết quả này đóng góp dữ liệu khoa học nền tảng cho việc khai thác hợp chất tự nhiên từ các loài thực vật ngập mặn chi Bruguiera tại Việt Nam.