CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Gới thiệu về cây olax imbricata 1. Phân loại khoa học Bảng 1.1: Phân loại khoa học Giới Plantae Ngành Magnoliophyta Lớp Magnoliopsida Bộ Santalaes Họ Olacaceae Chi Olax Loài Olax imbricata Họ Olacaceae hay còn gọi là họ dương đầu. các cây thuộc họ này là cây bụi đứng, thân gỗ, lá đơn nguyên.
Hoa lưỡng tính thường có màu xanh hoặc trắng, hoa có từ 3- 6 cánh. Họ Olacaceae trên thế giới có 25 chi và 250 loài. Ở Việt Nam có 4 chi và 10 loài được tìm thấy [11]. Miêu tả đặc tính sinh trưởng Chi Olax thuộc họ Olacaceae, có khoảng 200 loài phân bố khắp Trung-Tây Phi và Châu Á [10].
Cây Olax imbricata thuộc dạng cây bụi đứng cao từ 2-5 m. Thân cây màu nâu, cành non màu xám. Lá màu xanh xếp thành hai dãy so le nhau, có hình trái xoan, mắt trên bóng láng, mặt dưới màu hơi vàng và có lông. Hoa màu trắng có mùi rất thơm, khi khô chuyển sang màu vàng.
Cây ra hoa tháng 12-1, có quả vào tháng 8. 1: Các bộ phận của cây Olax imbricata (lá, hoa) 1 Hình 1. 2: Các bộ phận của cây Olax imbricata (quả, rễ) 1. Những nghiên cứu về hoạt tính sinh học 1.
Hoạt tính kháng viêm, kháng oxy hóa Chiết xuất ethanol của lá và thân của cây Olax subscorpioidea được nghiên cứu về khả năng chống tổn thương gan do carbon tetrachloride gây ra ở chuột. Những nghiên cứu này kết luận rằng chiết xuất ethanol của lá và vỏ thân cây Olax subscorpioidea có khả năng kháng oxy hóa mạnh [5, 7]. Trong y học cổ truyền Bờ Biển Ngà, cây Olax subscorpioidea Oliv dùng để điều trị nhiều bệnh bao gồm bệnh vàng da và viêm gan. Kouassi Konan và cộng sự đã có nghiên cứu về khả năng kháng viêm và oxy hóa của lá cây Olax subscorpioidea Oliv trên chuột.
Kết quả cho thấy rằng chất chiết xuất từ lá của Olax có hoạt tính bảo vệ gan và chống oxy hóa in vivo [2]. Olax psittacorum Vahl được xem là là một "thuốc dân gian Issan" thể hiện giá trị y học dân tộc như đặc tính chữa nhiễm trùng đường tiết niệu, giảm đau, hạ sốt, loét da, chống thiếu máu cũng như phụ gia thực phẩm. Các nghiên cứu đã chứng minh và cho thấy đặc tính chống sưng tấy, tác dụng nhuận tràng và hoạt tính kháng vi-rút chống lại vi-rút bại liệt, đặc tính chống oxy hóa. Nghiên cứu của Raja Majumder đã chứng minh khả năng chống viêm, giảm đau và ức chế TNF-α (dựa trên dòng tế bào RAW 264.7) chống loét miệng của cây Olax psittacorum [3].
Chiết xuất từ lá của cây Olax scandens được dùng để tổng hợp vật liệu nano compozit bạc-đồng (Ag-Cu NCs) có khả năng kháng khuẩn tốt. Nghiên cứu cho thấy vật liệu 2 được tạo ra có khả năng chống lại một số loại vi khuẩn như: K. Chiết xuất methanol của cây Olax nama được phân tích bằng phương pháp phân tích dấu vân tay HPLC-DAD cho thấy khả năng kháng oxy hóa, kháng cholinesterase là đáng kể với các giá trị IC50 lần lượt là 71,46, 72,55 và 92,33 μg/mL và khả năng ức chế α-glucosidase ở mức vừa phải với IC50 giá trị là 639,89 μg/mL. Từ những kết quả nhiên cứu trên cung cấp cơ sở khoa học cho các nghiên cứu sâu hơn về tiềm năng bảo vệ thần kinh và chống bệnh Alzheimer của loại cây này [6].
Hoạt tính kiểm soát béo phì, đường huyết và lipid trong máu Võ Thị Ngà và cộng sự đã có những nghiên cứu về thành phần và hoạt tính sinh học của cao chiết xuất từ rễ của cây Olax imbricata Roxb được thu hoạch ở tỉnh Phú Yên. Trong đó có nghiên cứu so sánh về khả năng ức chế enzyme α-glucosidase của dịch chiết n–hexane từ rễ cây Olax imbricata Roxb và acarbose trên chuột nhắt đực. Kết quả thử nghiệm in vitro cho thấy dịch chiết rễ cây Olax imbricata Roxb có tác dụng ức chế enzym α–glucosidase cao hơn của acarbose (2,83 lần). Cụ thể, giá trị IC 50 (µ g/mL) của dịch chiết rễ cây Olax imbricata Roxb và acarbose lần lượt là 47,8 ± 0,3 và 135,4 ± 0,2.
Từ nghiên cứu trên cũng cho thấy dịch chiết rễ cây Olax imbricata Roxb có hoạt tính sinh học mạnh trong việc phòng ngừa và hỗ trợ điều trị các bệnh lý liên quan đến thừa cân, béo phì, giúp kiểm soát lượng đường trong máu từ đó làm giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường týp 2. Từ đó tìm cách tổn hợp các chất có hoạt tính sinh học nhằm phục vụ cho việc điều chế và sản xuất thuốc chữa bệnh [8]. Hoạt tính chống ung thư và gây độc tế bào Vào năm 2019, nhóm nghiên cứu của Võ Thị Ngà đã tiến hành nghiên cứu hoạt tính ức chế tế bào ung thư của cây Olax imbricata Roxb. Kết quả thử nghiệm hoạt tính sinh học trên các cao chiết cho thấy: cả ba loại cao n-hexane, cao ethyl acetate và cao methanol đều có hoạt tính trên 2 dòng tế bào ung thư vú MCF7 và ung thư phổi LU.
Riêng cao n-hexane và cao ethyl acetate còn có hoạt tính trên dòng tế bào ung thư gan HepG2 và có hoạt tính ức chế enzyme α-glucosidase [16]. Hoạt tính về những tác nhân thần kinh Olax subscorpioidea là một loại cây bụi hoặc cây gỗ được tìm thấy ở Nigeria và các vùng khác của Châu Phi. Nó được chỉ định trong việc kiểm soát chứng rối loạn viêm, bệnh tâm thần, co giật, đau và ung thư. Dựa trên việc sử dụng dân gian trong việc kiểm soát bệnh tâm thần, hoạt tính chống trầm cảm, Adebayo O Adeoluwa và cộng sự đã nghiên cứu chỉ ra thành phần butanol của cây Olax subscorpioidea có tác dụng như thuốc trầm cảm.
Từ đó tạo cơ sở cho nghiên cứu sử dụng cây Olax subscorpioidea để kiểm soát bệnh tâm thần [1]. Những nghiên cứu về hóa học 1. Hợp chất béo Vào năm 2018, từ cao chiết ethyl acetate của rễ cây Olax imbricata, Võ Thị Ngà và cộng sự đã phân lập được 3 hợp chất béo (E)-henicos-7-en-9-ynoic acid (1), (E)- henicos-7-en-9-ynoylglycerol (hoặc 2,3-dihydroxypropyl (E)-henicos-7-en-9- ynoate) (2) và 6,7,8,9-tetrahydroxyhexadeca-4,10-diynoic acid (3) [15]. Vào năm 2016 từ dịch chiết chloromethane của cây Olax dissitiflora, Mavundza và cộng sự đã phân lập thành công 3 hợp chất acid béo gồm: santalbic acid (4), exocarpic acid (5), octadec-9,11-diynoic acid (6) [14].
3: Các cấu trúc hợp chất béo được phân lập từ cho Olax 1. Hợp chất terpenoid (7) (8) (9) 5 (10) (11) (12) (13) Hình 1. 4: Các cấu trúc hợp chất terpenoid được phân lập từ chi Olax Vào năm 2011, Sue và cộng sự đã phân lập thành công 2 hợp chất từ cao chiết acetone của cây Olax mannii là: rhoiptelenol (7) và glutinol (8) [19]. Vào năm 2018, Pertuit và cộng sự đã phân lập được oleanolic acid (9) từ cao của rễ và thân cây Olax obtusifolia [18].
Vào năm 2019, Võ Thị Ngà và cộng sự đã phân lập thành công 3 hợp chất chứa nhóm dẫn xuất 1,2,3,4-tetrahydronapthalene trong cao chiết methanol từ rễ cây Olax imbricata là: (2R)-6-hydroxy-2-(1-hydroxy-1-methyl)ethyl-8-methyl-1,2,3,4- tetrahydronaphthalene (10); (2R,11R)-(1,2-dihydroxy-1methyl)ethyl8-methyl-5-O- β-D-glucopyranosyl-1,2,3,4- tetrahydronaphthalene (11); (2R,11R)-(1,2-dihydroxy- 1methyl)ethyl8-methyl-5-O-β-D-glucopyranosyl-1,2,3,4-tetrahydronaphthalene (12) [22]. Ngoài ba hợp chất trên, nhóm đã thành công phân lập được hợp chất có tên gọi là: (2R)-6-hydroxy-2-(1-hydroxy-1-methyl)ethyl-9-methylbicyclo[5. Hợp chất polyphenol Vào năm 2015 từ cao methanol của rễ cây Olax imbricata, S.Huynh cùng cộng sự đã phân lập thành công các hợp chất gồm: 1-(3,4-dihydroxyphenyl)-8-(4-hydroxy- 3-O-β-D-glucopyranosylphenyl)oct-5-ol-4-one (14); (4E)-1-(3,4-dihydroxyphenyl)- 6 7-(3-hydroxy-4-O-β-D-glucopyranosylphenyl)hept-4-ene-6-ol-3-one (15); 1-O-(4- hydroxy-2,6-dimethoxyphenyl)-6-O-(4-hydroxy-3,5-dimethoxybenzoyl)-β-D- glucopyranose (16); 1-O-(4-hydroxy-2-methoxyphenyl)-6-O-(4-hydroxy-3,5- dimethoxybenzoyl)-β-D-glucopyranose (17); leonuriside A (18) ; vanillic acid (19) [9, 21]. Vào năm 2015, Okoye và cộng sự đã phân lập thành công 17 hợp chất flavonoid glycoside từ hai phân đoạn ethyl acetate và n-butanol điều chế từ cao chiết methanol tổng của lá cây Olax mannii là: kaempferol 3-O-α-L-arabinofuranosyl-7-O-α-L- rhamnopyranoside (20), kaempferol 3,7-O-α-L-dirhamnopyranoside (21), kaempferol 3-O-[β-D-glucopyranosyl-(1-4)-α-L-rhamnopyranoside]-7-O-α-L- rhamnopyranoside (22), quercetin 3,7-O-α-L-dirhamnopyranoside (23), kaempferol 7-O-α-L-rhamnopyranoside (24), kaempferol 3-O-α-L-rhamnopyranoside (25), kaempferol-3-O-β-D-xylopyranosyl-7-O-α-L-rhamnopyranoside (26), afzelechin 3- O-β-D-glucopyranoside (27), kaempferol 3-O-β-D-glucopyranoside (28), quercetin- 3-O-β-D-galactopyranoside (29), quercetin 3-O-β-D-xylopyranoside (30), morin 3-O- α-L-rhamnopyranoside (31), kaempferol 3-O-β-D-xylopyranoside (32), morin 3-O-β- D-xylopyranoside (33), kaempferol 3-O-[α-D-apiofuranosyl-(1→2)-α-L- arabinofuranoside]-7-O-α-L-rhamnopyranoside (34), kaempferol 3-O-[β-D- glucopyranosyl-(1→2)-α-L-arabinofuranoside]-7-O-α-L-rhamnopyranoside (35), kaempferol 3-O-[β-D-arabinopyranosyl-(1→4)-α-L-rhamnopyranoside]-7-O-α-L- rhamnopyranoside (36) [20].
Vào năm 2016, Okoye và cộng sự tiệp tục tiến hành nghiên cứu cao chiết n-butanol điều chế từ cao chiết methanol của lá cây Olax mannii và đã phân lập được 2 hợp chất là: kaempferol 3-O-[α-L-rhamnopyranosyl (1→2)-α-L-arabinofuranoside]-7-O- α-L-rhamnopyranoside (37) và kaempferol 3-O-[α-L-apiofuranosyl(1→2)β-D- galactopyranoside]-7-O-α-L-rhamnopyranoside (38) [17]. 5: Các cấu trúc hợp chất polyphenol được phân lập từ chi Olax 9 1. Hợp chất chứa nitrogen Vào năm 1993, Thumfort và cộng sự đã phân lập thành công một hợp chất mới có tên gọi là S-ethenylcysteine (39) từ cao chiết ethanol của rễ cây Olax phyllanthi bằng các phương pháp phân tích HPLC, GC – MS và NMR [20].Majumder và cộng sự đã phân lập được một hợp chất amide của acid béo (Z)-docos-13-enamide (40)từ cao methanol của lá cây Olax psittacorum [13]. 6: Các cấu trúc hợp chất chứa nitrogen được phân lập từ chi Olax 10 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM 2.
Đối tượng nghiên cứu Cao được chiết xuất từ rễ cây dương đầu được thu hái ở huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên, Việt Nam vào tháng 8 năm 2020. Mẫu cây có tên khoa học là Olax imbricata Roxb (Olacaceae) do ông Hoàng Xuân Lâm, Trung tâm Nghiên cứu và Sản xuất Dược liệu Hữu cơ Miền Trung, tỉnh Phú Yên, Việt Nam xác nhận. Tiêu bản thực vật được ký hiệu UTE-A002 và lưu giữ tại Khoa Công nghệ Hoá học và Thực phẩm, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp nghiên cứu 2.
Phương pháp phân lập chất 2. Sắc ký lớp mỏng Phương pháp SKLM được sử dụng trong khóa luận tốt nghiệp này giúp ta bước đầu xác định thành phần của phân đoạn cần khảo sát từ đó dò tìm hệ dung môi phù hợp đẻ triển khai sắc ký cột nhằm phân lập hợp chất mong muốn. Ngoài ra SKLM còn dùng để theo dõi qua trình chạy sắc ký cột nhằm thay đổi hệ dung môi phù hợp đẻ đạt được hiệu quả cao trong quá trình chạy sắc ký cột Tùy vào tính chất của mẫu để chọn SKLM silicagel pha đảo(RP-18) hay silica gel pha thường (NP, normal phase). SKLM silica gel pha thường - Có các các nhóm hydroxyl trên bề mặt silca gel - Các chất phân cực bị giữ lại, các chất có độ phân thấp sẽ ra trước có và Rf lớn hơn - Hệ dung môi Cf: MeOH: H2O: Af SKLM silica gel pha đảo RP-18 - Các nhóm hydroxyl bị thay thế bởi mạch hydrocarbon dài có 18 carbon.
- Các chất kém phân cực bị giữ lại, các chất phân cực cao sẽ ra trước có Rf lớn hơn - Hệ dung môi H2O: MeOH 11 2. Sắc ký cột SKC với chất hấp phụ thường dùng là silica pha đảo hoặc silica pha thường Tùy vào tính chất và khối lượng mẫu để tiến hành chọn cột, chất hấp phụ và phương pháp nạp mẫu.