Luận văn thạc sĩ: Thành ngữ tiếng Việt trong sách giáo khoa phổ thông

Luận văn thạc sĩ khảo sát thành ngữ tiếng Việt trong sách giáo khoa phổ thông từ lớp 1 đến lớp 12. Nghiên cứu cấu trúc, ý nghĩa và phương pháp giảng dạy thành ngữ hiệu quả.

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học

2008

215
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Cách khảo sát thành ngữ tiếng Việt trong SGK lớp 1 12 Tổng quan và ý nghĩa

Việc khảo sát thành ngữ tiếng Việt trong SGK lớp 1-12 là một nhiệm vụ học thuật mang tính hệ thống và thực tiễn cao. Thành ngữ không chỉ là đơn vị ngôn ngữ đặc trưng của tiếng Việt mà còn là kho tàng tri thức văn hóa, đạo đức và tư duy dân gian. Trong chương trình giáo dục phổ thông, sách giáo khoa (SGK) đóng vai trò trung gian quan trọng để truyền tải tri thức ngôn ngữ đến học sinh. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Nhung (2008) tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã cung cấp bức tranh toàn diện về sự hiện diện, cách giải thích và phân loại thành ngữ trong SGK từ lớp 1 đến lớp 12. Nghiên cứu này không chỉ giúp nhận diện tần suất xuất hiện, loại hình, nguồn gốc (Hán Việt hay thuần Việt) mà còn đánh giá hiệu quả sư phạm của việc dạy thành ngữ. Từ đó, việc khảo sát này trở thành cơ sở để cải tiến phương pháp giảng dạy tiếng Việt, đặc biệt trong bối cảnh đổi mới chương trình giáo dục hiện nay. Mật độ thành ngữ trong SGK phản ánh rõ quan điểm biên soạn: SGK cũ thiên về thành ngữ Hán Việt, trong khi SGK mới chú trọng thành ngữ thuần Việt, gần gũi với đời sống. Đây là xu hướng tích cực, giúp học sinh tiếp cận ngôn ngữ một cách tự nhiên và hiệu quả hơn.

1.1. Từ khóa chính và LSI keywords trong khảo sát thành ngữ

Từ khóa chính: khảo sát thành ngữ tiếng Việt trong SGK lớp 1-12. Các từ khóa LSI (Latent Semantic Indexing) bao gồm: thành ngữ Hán Việt, thành ngữ thuần Việt, giải thích thành ngữ, dạy học thành ngữ, tần suất xuất hiện thành ngữ, phân loại thành ngữ, ngữ liệu SGK, và biến thể thành ngữ. Những từ khóa này phản ánh đầy đủ các khía cạnh ngôn ngữ học và sư phạm liên quan đến chủ đề. Việc tích hợp chúng giúp nội dung đạt độ sâu học thuật và tối ưu hóa khả năng hiển thị trên công cụ tìm kiếm.

1.2. Câu hỏi thường gặp về thành ngữ trong SGK

Người đọc thường tìm kiếm: “Có bao nhiêu thành ngữ trong SGK lớp 1-12?”, “Thành ngữ được giải thích như thế nào trong SGK?”, “SGK mới có khác SGK cũ về cách chọn thành ngữ không?”, “Làm sao dạy thành ngữ hiệu quả ở trường phổ thông?” và “Thành ngữ Hán Việt chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong SGK?”. Những câu hỏi này cho thấy nhu cầu thực tiễn cao từ giáo viên, phụ huynh và nhà nghiên cứu về việc sử dụng thành ngữ trong giáo dục.

II. Vấn đề và thách thức khi dạy thành ngữ trong SGK lớp 1 12

Một trong những thách thức lớn nhất khi dạy thành ngữ tiếng Việt trong SGK lớp 1-12 là sự khác biệt giữa quan niệm cũ và mới về bản chất thành ngữ. SGK trước năm 2000 thường coi thành ngữ là cụm từ cố định, mang tính ẩn dụ và khó hiểu, dẫn đến cách giải thích khô khan, thiếu ngữ cảnh. Trong khi đó, SGK mới (sau 2002) tiếp cận thành ngữ như một đơn vị giao tiếp sống động, gắn với đời sống và văn hóa. Tuy nhiên, việc giải thích thành ngữ trong SGK vẫn còn nhiều hạn chế: nhiều thành ngữ không được chú thích; một số giải thích quá sơ lược hoặc không phản ánh đầy đủ sắc thái nghĩa; thậm chí có trường hợp giải thích sai lệch so với từ điển chuẩn. Ngoài ra, tỷ lệ thành ngữ Hán Việt vẫn còn cao ở cấp THPT, gây khó khăn cho học sinh chưa đủ vốn Hán Việt. Điều này làm giảm hiệu quả tiếp nhận và ứng dụng thành ngữ trong thực tế giao tiếp. Như Nguyễn Thị Nhung (2008) chỉ ra, chỉ khoảng 60% thành ngữ trong SGK được giải thích rõ ràng, còn lại học sinh phải tự suy luận hoặc bỏ qua.

2.1. Sự khác biệt giữa SGK cũ và SGK mới về thành ngữ

SGK cũ (trước 2002) thiên về thành ngữ Hán Việt, mang tính văn chương, ít gần gũi với đời sống học sinh. SGK mới (chương trình cải cách) chú trọng thành ngữ thuần Việt, có tính giao tiếp cao hơn. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi chưa đồng bộ, dẫn đến tình trạng “lệch pha” trong cách tiếp cận thành ngữ giữa các cấp học.

2.2. Hạn chế trong cách giải thích thành ngữ

Nhiều thành ngữ trong SGK không có chú thích hoặc giải thích mơ hồ. Ví dụ, thành ngữ “đồng bệnh tương liên” chỉ được ghi vắn tắt “cùng cảnh ngộ thì thương nhau”, trong khi từ điển giải thích đầy đủ hơn về sắc thái đồng cảm và liên đới xã hội. Sự thiếu chính xác này ảnh hưởng đến việc hình thành năng lực ngôn ngữ cho học sinh.

III. Phương pháp khảo sát thành ngữ trong SGK Hướng dẫn chi tiết

Phương pháp khảo sát thành ngữ tiếng Việt trong SGK lớp 1-12 cần tuân theo quy trình khoa học và hệ thống. Đầu tiên, xác định phạm vi tư liệu: toàn bộ SGK Tiếng Việt và Ngữ văn từ lớp 1 đến lớp 12 theo chương trình chính thức. Tiếp theo, tiến hành lập danh mục thành ngữ xuất hiện trong SGK – bao gồm cả thành ngữ trong văn bản, bài tập, lời dẫn và chú thích. Sau đó, phân loại thành ngữ theo tiêu chí: Hán Việt/thuần Việt, cấp học (tiểu học, THCS, THPT), cấu trúc (4 âm tiết, 6 âm tiết...), và ý nghĩa (đạo đức, lao động, thiên nhiên...). Bước quan trọng tiếp theo là so sánh cách giải thích trong SGK với các từ điển uy tín như Từ điển thành ngữ Việt Nam (Nguyễn Lân) hoặc Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê). Cuối cùng, đánh giá hiệu quả sư phạm dựa trên tần suất, ngữ cảnh và mức độ phù hợp với lứa tuổi. Phương pháp này giúp đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy cao trong nghiên cứu.

3.1. Các bước lập danh mục thành ngữ trong SGK

Bước 1: Đọc kỹ toàn bộ SGK để ghi nhận mọi xuất hiện của thành ngữ. Bước 2: Ghi chú vị trí (bài học, trang, loại văn bản). Bước 3: Xác định dạng xuất hiện (trong văn bản, bài tập, chú thích...). Bước 4: Kiểm tra tính chuẩn của thành ngữ (có bị biến thể không?). Danh mục này là cơ sở dữ liệu cốt lõi cho mọi phân tích sâu hơn.

3.2. Phân loại thành ngữ theo tiêu chí học thuật

Tiêu chí Hán Việt/thuần Việt giúp đánh giá mức độ tiếp cận của học sinh. Tiêu chí cấp học cho thấy sự phân tầng kiến thức: tiểu học dùng thành ngữ đơn giản như “bẩn như ma lem”, THPT xuất hiện thành ngữ phức tạp như “thập tử nhất sinh”. Tiêu chí cấu trúc và ý nghĩa hỗ trợ thiết kế bài giảng phù hợp.

IV. Kết quả khảo sát Thành ngữ trong SGK theo cấp học và nguồn gốc

Kết quả khảo sát thành ngữ tiếng Việt trong SGK lớp 1-12 cho thấy sự phân bố không đồng đều theo cấp học. Ở tiểu học, thành ngữ chủ yếu là thuần Việt, ngắn gọn, mang tính hình ảnh cao như “tiền trao cháo múc”, “bẩn như ma lem”. Ở THCS, số lượng tăng dần, xuất hiện cả thành ngữ Hán Việt đơn giản như “an cư lạc nghiệp”. Đến THPT, thành ngữ Hán Việt chiếm tỷ lệ lớn (khoảng 45%), ví dụ “cải tử hoàn sinh”, “vuốt râu cọp”. Tổng cộng, có hơn 200 thành ngữ được ghi nhận trong toàn bộ SGK. Trong đó, khoảng 65% là thuần Việt, 35% là Hán Việt. Về cách xuất hiện, 42% thành ngữ nằm trong văn bản đọc hiểu, 30% trong bài tập, 18% trong chú thích, và 10% trong lời dẫn của tác giả SGK. Điều này cho thấy SGK coi thành ngữ chủ yếu là ngữ liệu học tập, chưa khai thác hết vai trò như công cụ phát triển tư duy ngôn ngữ. Như Nguyễn Thị Nhung (2008) nhận định, cần tăng cường ngữ cảnh giao tiếp thực tế để học sinh hiểu và vận dụng thành ngữ một cách linh hoạt.

4.1. Phân bố thành ngữ theo cấp học Tiểu học THCS THPT

Tiểu học: 30-40 thành ngữ, chủ yếu thuần Việt, dễ hiểu. THCS: 60-70 thành ngữ, bắt đầu có Hán Việt. THPT: 80-90 thành ngữ, Hán Việt chiếm ưu thế. Sự gia tăng này phản ánh yêu cầu nâng cao năng lực ngôn ngữ theo độ tuổi.

4.2. Tỷ lệ thành ngữ Hán Việt và thuần Việt trong SGK

Thành ngữ thuần Việt chiếm 65%, phù hợp với xu hướng “gần gũi đời sống”. Tuy nhiên, ở THPT, tỷ lệ Hán Việt tăng mạnh, gây khó cho học sinh chưa được trang bị kiến thức Hán Việt cơ bản. Đây là điểm cần điều chỉnh trong biên soạn SGK mới.

V. Ứng dụng thực tiễn Đề xuất dạy học thành ngữ hiệu quả

Dựa trên kết quả khảo sát thành ngữ tiếng Việt trong SGK lớp 1-12, có thể đề xuất nhiều giải pháp dạy học thành ngữ hiệu quả. Thứ nhất, giải thích thành ngữ trong ngữ cảnh cụ thể, không tách rời văn bản. Thứ hai, kết hợp phương pháp trực quan – dùng hình ảnh, video, tình huống để minh họa nghĩa thành ngữ. Thứ ba, thiết kế bài tập vận dụng sáng tạo: đặt câu, viết đoạn văn, sưu tầm thành ngữ địa phương. Thứ tư, phân tầng thành ngữ theo năng lực học sinh: tiểu học dùng thành ngữ đời sống, THPT mới đưa thành ngữ triết lý. Cuối cùng, bổ sung chú thích đầy đủ và chính xác trong SGK, dựa trên từ điển chuẩn. Như Nguyễn Thị Nhung (2008) khuyến nghị, cần xây dựng bộ tài liệu hướng dẫn dạy thành ngữ cho giáo viên, kèm ví dụ minh họa và lỗi thường gặp. Việc này giúp nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt, đồng thời bảo tồn di sản ngôn ngữ dân tộc.

5.1. Giải pháp sư phạm cho từng cấp học

Tiểu học: dùng trò chơi, kể chuyện có thành ngữ. THCS: phân tích nghĩa bóng, so sánh thành ngữ tương đương. THPT: liên hệ văn hóa, triết lý ẩn sau thành ngữ Hán Việt. Mỗi cấp cần phương pháp riêng, phù hợp với nhận thức lứa tuổi.

5.2. Vai trò của giáo viên trong dạy thành ngữ

Giáo viên cần chủ động tìm hiểu nguồn gốc, biến thể và ngữ cảnh sử dụng thành ngữ. Không nên phụ thuộc hoàn toàn vào SGK. Có thể tổ chức “tuần lễ thành ngữ” hoặc cuộc thi sưu tầm thành ngữ dân gian để khơi gợi hứng thú học tập.

VI. Tương lai của việc khảo sát thành ngữ trong SGK Xu hướng và khuyến nghị

Trong bối cảnh đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, việc khảo sát thành ngữ tiếng Việt trong SGK lớp 1-12 cần được cập nhật và mở rộng. Xu hướng tương lai là số hóa dữ liệu thành ngữ, xây dựng cơ sở dữ liệu mở để giáo viên và nhà nghiên cứu truy cập. Đồng thời, cần lồng ghép thành ngữ vào các chủ đề tích hợp như văn hóa, lịch sử, đạo đức – thay vì dạy rời rạc. Một khuyến nghị quan trọng là giảm tỷ lệ thành ngữ Hán Việt không cần thiết ở THPT, thay bằng thành ngữ mang tính hiện đại, phản ánh đời sống đương đại. Ngoài ra, nên khuyến khích học sinh tự phát hiện và sử dụng thành ngữ trong viết và nói, thay vì học thuộc lòng. Như kết luận của luận văn Nguyễn Thị Nhung (2008), thành ngữ không chỉ là “di sản ngôn ngữ” mà còn là “công cụ tư duy”. Do đó, việc dạy và học thành ngữ cần hướng đến phát triển năng lực giao tiếp và tư duy phản biện, chứ không chỉ là ghi nhớ từ vựng.

6.1. Số hóa và mở rộng cơ sở dữ liệu thành ngữ

Cần xây dựng nền tảng số chứa toàn bộ thành ngữ trong SGK, kèm giải thích, ví dụ, audio phát âm và bài tập tương tác. Điều này hỗ trợ dạy học trực tuyến và tự học của học sinh.

6.2. Khuyến nghị cho biên soạn SGK mới

SGK nên ưu tiên thành ngữ thuần Việt, có tính giao tiếp cao. Mỗi thành ngữ cần có chú thích rõ ràng, kèm ngữ cảnh sử dụng. Tránh đưa thành ngữ quá cổ, xa lạ với đời sống hiện đại của học sinh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Ngôn ngữ học sách giáo khoa thành ngữ tiếng việt

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề phân loại thành ngữ, nhƣng lại tách ra một trong các loại thành ngữ làm đối tƣợng nghiên cứu, ví nhƣ Trƣơng Đông San (1974), Hoành Văn Hành (1976) tách riêng thành ngữ so sánh để 2 luận giải ; trong khi đó, Bùi Khắc Việt (1981) và một số tác giả khác lại tách riêng thành ngữ đối để luận giải. Nhóm tác giả công trình Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ (Hoàng Văn Hành chủ biên) lại dựa vào hình thái biểu trưng hoá mà chia thành ngữ tiếng Việt thành hai loại : thành ngữ so sánh hay thành ngữ phi đối xứng và thành ngữ ẩn dụ hoá hay thành ngữ đối xứng. Thành ngữ so sánh nhƣ : nóng như lửa, câm như thóc, lạnh như tiền,… Thành ngữ ẩn dụ hoá nhƣ : mặt sứa gan lim, đầu voi đuôi chuột, mắt tròn mắt dẹt, cá mè một lứa,… Ngoài ra, nhóm tác giả này cũng dựa vào cấu tạo của các thành ngữ tiếng Việt mà chia thành ngữ tiếng Việt thành 3 loại là thành ngữ so sánh, thành ngữ đối và thành ngữ thƣờng. Thành ngữ đối đƣợc cấu tạo theo quy tắc đối và điệp giữa các thành tố, kiểu nhƣ : trên đe dưới búa, mẹ tròn con vuông, lừa thầy phản bạn,… Thành ngữ so sánh đƣợc cấu tạo theo các biểu thị so sánh vốn có trong ngôn ngữ, nhƣ : rách như xơ mướp, chậm như rùa, nóng như lửa,… Còn thành ngữ thƣờng là loại thành ngữ đƣợc “tạo thành nhờ phƣơng thức ghép từ thông thƣờng, kiểu nhƣ : theo voi hít bã mía, vạch áo cho người xem lương, gió chiều nào che chiều ấy, trăm voi không được bát nước xáo,… Rõ ràng, ở loại thành ngữ này không sử dụng phép so sánh, cũng không dùng luật đối ứng để ghép nối các yếu tố, mà cố định hoá hay thành ngữ hoá một đoạn tác ngôn vốn đƣợc cấu tạo trên cơ sở luật kết hợp bình thƣờng trong tiếng Việt.

Và theo các tác giả, trong tiếng Việt thành ngữ đối là loại phổ biến nhất, chiếm 56 % tổng số thành ngữ có trong thực tế. Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ – Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến trong công trình Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt lại khẳng định “có nhiều cách phân loại thành ngữ. Trƣớc hết có thể dựa vào cơ chế cấu tạo (cả nội dung lẫn hình thức) để chia thành ngữ tiếng Việt ra hai loại : Thành ngữ so sánh và thành ngữ miêu tả ẩn dụ” [6, tr. Tác giả Nguyễn Công Đức, trong công trình của mình (1994), xuất phát từ cách nhìn thành ngữ nhƣ là một hình thể hình thái cấu trúc – ngữ nghĩa 2 đƣợc cố định hoá từ các đơn vị trên từ nhƣ cụm từ tự do và câu, đã chia thành ngữ tiếng Việt thành 5 loại : a) Thành ngữ có cấu trúc vốn là cấu trúc cú pháp đƣợc “từ vựng hoá” để trở thành thành ngữ.

Loại thành ngữ này đa phần là đoản ngữ, hoặc cũng có thể là các thành ngữ vốn là câu hoàn chỉnh. b) Loại thành ngữ có cấu trúc không bình thƣờng về mặt cú pháp, ví nhƣ loại kết hợp phi lôgíc về mặt trật tự các yếu tố trong thành ngữ nhƣ cao chạy xa bay, mong như mong mẹ về chợ hoặc thành ngữ vắng mặt kết từ nhƣ quá mù ra mưa, qua cầu rút ván, … c) Loại thành ngữ có cấu trúc theo kiểu đan xen. Đây là kiểu thành ngữ đan xen giữa các yếu tố trong hai tổ hợp song tiết để tạo nên sự không bình thƣờng về mặt ngữ nghĩa ở bề mặt cấu trúc nhƣng lại có ý nghĩa khái quát ở bề sâu và chặt chẽ về cấu trúc : ăn sung mặc sướng, đầu trộm đuôi cướp,. d) Loại thành ngữ sử dụng các mô hình kết hợp cú pháp có sẵn.

Đây là loại thành ngữ đƣợc cấu tạo lặp lại các động từ để tách các tổ hợp song tiết, ví dụ : có tài có tật, có tai có mắt, bóp mồm bóp miệng, chạy thầy chạy thợ,… e) Loại thành ngữ sử dụng cấu trúc so sánh. Đây là loại thành ngữ đƣợc co là chiếm tỉ lệ nhiều nhất và đa dạng trong thành ngữ tiếng Việt. Các cách phân loại trên đây chủ yếu dựa vào các đặc điểm về hình thái, cấu trúc hay ngữ nghĩa của thành ngữ. Còn một cách phân loại các thành ngữ trong tiếng Việt nữa là sự phân loại dựa vào nguồn gốc của thành ngữ (tức tiêu chí về con đƣờng hình thành của thành ngữ).

Theo tiêu chí này, các thành ngữ đang có trong tiếng Việt có thể phân làm hai loại : thành ngữ Việt và thành ngữ có nguồn gốc nƣớc ngoài. Trong tiếng Việt, thành ngữ đƣợc vay mƣợn nƣớc ngoài chủ yếu là các thành ngữ gốc Hán. Theo Nguyễn Thị Tân [26], hiện có 2710 đơn vị thành ngữ gốc Hán hoạt động trong tiếng Việt, so với các thành ngữ gốc ngoại khác thì thành ngữ gốc Hán chiếm tỉ lệ gần nhƣ tuyệt đối. Vì thế, trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi cũng chƣa có điều kiện tìm hiểu các thành ngữ gốc ngoại khác mà chỉ đi vào tìm hiểu một số vấn đề về thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt.

Những thành ngữ gốc Hán 2 khi mƣợn vào tiếng Việt, có thể đƣợc giữ nguyên hình thái – ngữ nghĩa, dịch từng chữ (một phần hoặc tất cả các yếu tố), dịch nghĩa chung của thành ngữ có thay đổi trật tự các yếu tố cấu tạo. Cách phân loại này đƣợc nhắc đến trong một số công trình nghiên cứu về từ tiếng Việt của các tác giả Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Thiện Giáp, Trƣơng Chính, Lê Đình Khẩn,… Trong công trình Thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt (2004), tác giả Nguyễn Thị Tân đã trình bày rất chi tiết về quan niệm thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt của các nhà Việt ngữ học. Từ ý kiến của các nhà Việt ngữ học, tác giả Nguyễn Thị Tân đã đƣa ra đƣợc khái niệm về thành ngữ gốc Hán dùng trong luận án của mình, theo đó, thành ngữ gốc Hán đƣợc quan niệm nhƣ sau : – Là thành ngữ Việt có nguồn gốc Hán – Nguồn gốc Hán thƣờng để lại dấu vết trong thành ngữ Việt ở ba phƣơng diện : ngữ âm, hình thái cấu trúc và ngữ nghĩa. Về mặt ngữ âm (âm đọc của các yếu tố trong thành ngữ), trên cơ sở này, thành ngữ gốc Hán có thể đƣợc phân làm ba loại nhƣ sau : + Tất cả các yếu tố đều có cách đọc Hán Việt, tức là đều là yếu tố Hán Việt, ví dụ : mai danh ẩn tích, thần thông biến hoá, mã đáo thành công,… + Ngoài các yếu tố có cách đọc Hán Việt, còn có cả các yếu tố phi Hán Việt, ví dụ : buôn Sở bán Tần, cửa Khổng sân Trình, tình sâu nghĩa nặng, trị bệnh cứu người, trăm hình vạn trạng,… + Các thành tố đều là phi Hán Việt, ví dụ : chỉ non thề biển (sơn minh thể hải), ếch ngồi đáy giếng (tỉnh để chi oa), ghi lòng tạc dạ (minh tâm khắc cốt),… Về hình thái cấu trúc, thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt có thể chia làm các loại nhƣ sau : + Giữ nguyên cấu trúc nhƣ trong đơn vị gốc của tiếng Hán, ví dụ : án binh bất động, cải tà quy chính,… + Thay đổi cấu trúc của đơn vị gốc, ví dụ : túc trí đa mưu,… + Giữ nguyên các yếu tố trong đơn vị gốc, ví dụ : duy ngã độc tôn, tiến thoái lưỡng nan, loạn thần tặc tử,… 2 + Thay đổi các yếu tố của đơn vị gốc, ví dụ : bán sống bán chết, bền gốc sâu rễ, cùng bất đắc dĩ, thượng lộ bình an,… Về nội dung ngữ nghĩa, phần lớn thành ngữ gốc Hán có nghĩa biểu trƣng, đó là nghĩa tổng thể đƣợc khái quát từ nghĩa của các yếu tố cấu tạo.

Một số trƣờng hợp khác nghĩa của tổ hợp đƣợc tạo thành từ nghĩa cụ thể, nghĩa mặt chữ của các yếu tố cấu tạo. Nhƣ vậy, vấn đề thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt là một vấn đề tƣơng đối phức tạp và chƣa phải đã có sự thống nhất hoàn toàn giữa các nhà nghiên cứu. Ngay cả vấn đề tên gọi là thành ngữ gốc Hán hay thành ngữ Hán Việt trong tiếng Việt hiện nay vẫn chƣa thống nhất giữa các nhà nghiên cứu Việt ngữ học. Việc nhận diện các thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt cũng là một vấn đề rất khó, không phải ai cũng có thể nhận diện đƣợc thành ngữ gốc Hán, nhất là với những thành ngữ đã đƣợc dịch hoàn toàn ra tiếng Việt.

Trong khuôn khổ của luận văn này, vì mục đích nghiên cứu của chúng tôi là xem xét những đơn vị thành ngữ xuất hiện trong SGK nên chúng tôi không phân chia thành ngữ thành thành ngữ gốc Hán và thành ngữ Việt mà chỉ phân chia thành thành ngữ Hán Việt và thành ngữ Việt. Sở dĩ nhƣ vậy bởi vì : – Khái niệm thành ngữ gốc Hán chƣa đƣợc hoàn toàn thống nhất trong giới nghiên cứu Việt ngữ học. Và đây là một khái niệm hết sức phức tạp, đòi hỏi những nghiên cứu công phu và không phải là mục đích hƣớng tới của luận văn này. – Với đối tƣợng nghiên cứu là những đơn vị thành ngữ xuất hiện trong SGK phổ thông, có những đặc điểm riêng chi phối cách nhìn của chúng tôi.

Trong SGK phổ thông, các tác giả không phân biệt thành ngữ gốc Hán và thành ngữ Việt, học sinh chỉ đƣợc học bài học về từ Hán Việt. Do đó, đối với học sinh phổ thông, các em chỉ phân biệt đƣợc từ Hán Việt và từ Việt, chƣa thể phân biệt đƣợc các thành ngữ có nguồn gốc Hán với các thành ngữ Việt (nhất là với các thành ngữ gốc Hán mà tất cả các yếu tố đã đƣợc dịch nghĩa ra tiếng Việt tƣơng đƣơng). Học sinh chỉ có thể phân biệt đƣợc những thành 2 ngữ Hán Việt (có cách đọc Hán Việt) và các thành ngữ Việt. 2 Do vậy, trong luận văn này, với các thành ngữ thu thập đƣợc ở trong SGK, chúng tôi cũng phân loại trên cơ sở đó, để nghiên cứu sự xuất hiện của các thành ngữ Hán Việt và các thành ngữ Việt trong SGK và cách xử lí đối với các đơn vị này của các tác giả SGK là nhƣ thế nào và nếu có điều kiện, chúng tôi muốn nghiên cứu khả năng tiếp nhận hai loại thành ngữ này của học sinh.

Khái niệm thành ngữ Hán Việt trong luận văn này của chúng tôi đƣợc quan niệm nhƣ sau : đó là những thành ngữ mượn từ tiếng Hán, có cách đọc Hán Việt và được sử dụng trong tiếng Việt. Còn thành ngữ Việt là những thành ngữ phi Hán Việt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ