CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI SẢN PHẨM NƯỚC MẮM 1. TỔNG QUAN VỀ NƯỚC MẮM 1. Khái niệm Nước mắm theo cách hiểu thông thường là chất nước rỉ từ cá, tôm và một số động vật nước khác được ướp muối lâu ngày. Nó được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực của các quốc gia Đông Nam Á như Việt Nam và Thái Lan, để làm nước chấm hoặc gia vị chế biến các món ăn.
Tại miền nam Trung Quốc, nước mắm cũng được sử dụng, nhưng chỉ dùng để làm dầu hay gia vị trong các món súp và thịt hầm. Trên phương diện khoa học, nước mắm là hỗn hợp muối với các axit amin được chuyển biến từ protein trong thịt cá qua một quá trình thuỷ phân có tác nhân là các hệ enzyme có sẵn trong ruột cá cùng với một loại vi khuẩn kỵ khí chịu mặn. Nước mắm là sản phẩm lên men từ các loại cá là sản phẩm truyền thống của người Việt Nam. Nước mắm là loại thực phẩm và là loại gia vị giàu dinh dưỡng, vì nó chứa khá đầy đủ acid amin không thay thế và có vị thơm ngon đặc biệt.
Nguồn gốc của nước mắm Xuất xứ của nước mắm Việt Nam là một vấn đề từ trước đến nay chưa có một cuốn sách nào ghi chép lại. Một số tác giả người Pháp cho rằng nguồn gốc nước mắm là do người Nhật Bản truyền sang từ thế kỷ 16-17 (người Nhật đến Trung bộ vào khoảng thời gian này). Bác sĩ Tiran cũng nhắc đến một thứ nước chấm khác của những dân tộc thuộc bờ biển Địa Trung Hải, nhất là người Hi Lạp và người La Tinh ưa dùng; năm 1915, nước chấm này mới được bán vào vùng Viễn Đông. Tuy nước mắm Việt Nam và các loại nước chấm này có điểm giống nhau nhưng chưa vì thế mà kết luận nước mắm Việt Nam có nguồn gốc từ các loại nước chấm đó, vì nó có các điểm khác nhau: - Nước chấm Nhật Bản shogu có nguyên liệu là thực vật và sử dụng enzym của nấm mốc để chuyển hóa, nước mắm Việt Nam có nguyên liệu là động vật và sử dụng enzym tiêu hóa và enzym của hệ vi sinh vật có trong nội tạng cá thủy phân dần dần.
9 - Nước chấm sản xuất từ cá của người cổ Hi Lạp có tên là Garum hoặc Garu có nước mắm có thành phần khác nhau, mùi vị khó chịu, chế biến bằng các loại cá trích, cá cơm dầm trong nước muối đã cho lên men theo một cách riêng. Loại nước mắm này cũng rất ngon nhưng mùi vị không thích hợp với người Việt Nam. Hơn nữa người Hi Lạp mới sang Việt Nam buôn bán trong thế kỷ gần đây, vì vậy nước mắm Việt Nam không thể do người Hi Lạp truyền sang. Nước mắm Việt Nam chắc chắn do người Việt Nam làm ra: Bờ biển Việt Nam dài hơn 3.200 km, hơn nữa đất nước có nhiều sông ngòi, có dòng nước nóng thuộc vùng biển nhiệt đới nên tập trung nhiều cá; nhân dân Việt Nam sống bằng nghề đánh bắt cá; nghề muối cũng dần dần được phát triển; cá nhiều, muối nhiều dẫn đến nghề muối cá được hình thành.
Xuất phát từ nghề muối cá mà nghề làm nước mắm từ đó cũng hình thành và phát triển rộng khắp miền ven biển. Mỗi địa phương có kinh nghiệm muối cá và làm nước mắm riêng, được cải tiến theo thị hiếu của nhân dân địa phương mình. Do đó, nước mắm của người Việt Nam có nguồn gốc từ Việt Nam không phải bắt nguồn từ các nước khác. Giá trị dinh dưỡng và thành phần hóa học của nước mắm 1.
Thành phần acid amin: Mỗi loại cá có thành phần hóa học khác nhau, nước mắm của các loại cá khác nhau cũng có vị ngon khác nhau. Trong nước mắm đã tìm thấy các loại acid amin: Lysine, Threonine, Valine, Methionine, Isoleucine, Phenylalanine, Leucine, Tryptophan, Cysteine, Arginine, Asparagine, Serine, Glycine, Alanine, Tyrosine, Proline, Glutamic acid. Tùy theo nguyên liệu cá mà tỉ lệ giữa các loại acid amin này cũng khác nhau. Vitamin: Thành phần, hàm lượng vitamin thay đổi tùy theo loại cá khác nhau (cá nổi, cá tầng giữa, cá đáy), và cũng thay đổi theo độ tươi, ươn hoặc phương pháp bảo quản, phương pháp chế biến.
Theo phân tích của Drian. A trong nước mắm có: vitamin B1, B2, B12, PP 1. Các hợp chất vô cơ khác: 10 Trong nước mắm ngoài NaCl còn có Photpho, Canxi, Magie, lưu huỳnh, trong đó: - Canxi và magie chỉ có ở dạng vô cơ: Canxi oxit, magie oxit. - Photpho vừa ở dạng vô cơ (anhidrit photphoric), vừa ở dạng hữu cơ (adenosintriphotphat).
- Lưu huỳnh chỉ tồn tại ở dạng hữu cơ trong Cysteine. Ngoài ra, trong nước mắm còn có brom, iôt ở dạng muối vô cơ hoặc tự do.Chất đạm (chất có Nitơ): Chủ yếu và quyết định giá trị chất lượng của nước mắm. Gồm 3 loại đạm: - Đạm tổng số (Nitơ tổng số): tổng lượng Nitơ có trong nước mắm (g/l), quyết định phân hạng của nước mắm - Đạm amin (nitơ amin): là tổng lượng nitơ nằm dưới dạng amin (g/l), quyết định giá trị dinh dưỡng của nước mắm - Đạm amon (đạm thối): là nitơ NH3, nếu lượng nitơ này càng nhiều nước mắm càng kém chất lượng. Nguyên lý chung của quá trình sản xuất nước mắm Cơ sở sinh hóa: là sự thủy phân protein của cá thành acid amin và peptid nhờ enzym protease của hệ vi sinh vật có trong ruột cá.
Nước mắm là dung dịch acid amin, NaCl, các chất thơm được tạo trong quá trình lên men. Bản chất của quá trình sản xuất nước mắm gồm 2 giai đoạn: - Chuyển hóa protein thành acid amin: đây là quá trình chính trong sản xuất nước mắm. Quá trình này xảy ra nhờ enzym protease của vi sinh vật và protease có trong tụy tạng của cá. Trong điều kiện tự nhiên quá trình này gồm 2 giai đoạn: + Giai đoạn I: từ khi bắt đầu ướp cá đến tháng thứ 3.
Trong giai đoạn này hệ enzym metalo protease chủ động thủy phân protein từ đầu N trở đi và hình thành các acid amin như: Alanine, isoleucine, Arginine, acid Aspartic,. đồng thời “tháo gỡ” sự ức chế trong cấu trúc enzym Serin protease. 11 + Giai đoạn II: sau khi chuỗi ức chế được “tháo gỡ” Serin- protease hoạt động mạnh thủy phân các peptid và protein còn lại cho đến khi chượp chín. Các acid amin được hình thành trong thời kỳ này là Proline, Valine, Tyrosine, phenylalanine,.
Như vậy, muốn tăng nhanh quá trình thủy phân và “tháo gỡ” chuỗi ức chế cần giảm bớt độ mặn ở thời gian đầu và tạo điều kiện cho bể chượp ở t o = 40 – 45oC hoặc bổ sung vào chượp những chế phẩm enzym protease. - Quá trình tạo hương thơm: Nước mắm là loại dung dịch không chỉ có acid amin, NaCl mà còn có hương thơm đặc trưng riêng của nó. Quá trình tạo thành hương thơm là do các quá trình lên men do VSV tạo ra các amin, acid hữu cơ bay hơi và các chất có mùi thơm khác. Đây là một quá trình phức tạp, đòi hỏi thời gian cần thiết.
Do đó, trong công nghệ sản xuất nước mắm cần thời gian để sản phẩm tích lũy hương thơm đặc trưng, nếu thiếu quá trình này thì nước mắm chỉ là dung dịch acid amin thuần túy, không có hương vị thơm ngon đặc trưng. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chế biến nước mắm Quá trình chế biến nước mắm là quá trình lên men với sự tham gia của enzym trong nội tạng cá và enzym vi sinh vật. Do đó, quá trình chế biến nước mắm cũng chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: - Nhiệt độ ảnh hưởng lớn đến quá trình chế biến nước mắm, bởi nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt lực của enzym và tốc độ thủy phân protid cá. Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy chượp được tiếp nhiệt từ 40 – 50 oC đã rút ngắn được thời gian chín từ 6 tháng xuống còn 3 tháng.
-pH của môi trường cũng ảnh hưởng đến quá trình chế biến nước mắm. Hệ protease trong cá có thể hoạt động thích hợp ở môi trường trung tính, acid và bazơ. Qua thực nghiệm nếu điều chỉnh pH môi trường về 1,5 đến 2,5 thì màu sắc của chượp đẹp nhưng mùi vị kém hơn môi trường tự nhiên. Nếu điều chỉnh pH về 7,5 đến 8,5 thì tốc độ thủy phân nhanh nhưng đạm thối nhiều và màu sắc sẫm.
Do vậy, người ta duy trì môi trường chế biến là môi trường tự nhiên của chượp (pHchượp ≈ 6), ở môi trường này cho màu sắc và mùi vị ưu việt hơn cả. 12 - Muối NaCl là vật liệu quan trọng trong chế biến nước mắm. Muối này có vai trò bảo quản nguyên liệu và các vật chất sinh ra khỏi bị thối rữa do vi sinh vật và tạo vị mặn cho nước mắm. Muối lẫn nhiều tạp chất sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của nước mắm.
Nồng độ muối cũng ảnh hưởng đến tốc độ thủy phân thịt cá, nếu nồng độ muối cao ngay từ đầu thì quá trình thủy phân sẽ rất chậm do kìm hãm vi sinh vật và hoạt động của protease. - Diện tích tiếp xúc giữa enzym với cơ chất: Nếu thịt cá được cắt nhỏ, đập dập, xay vụn thì tốc độ thủy phân được tăng lên. Trong các phương pháp làm nhỏ cá thì phương pháp đập dập cá là ưu việt hơn cả. Đánh đảo chượp trong quá trình chế biến cũng làm rút ngắn thời gian chượp chín.
- Nguyên liệu ban đầu cũng ảnh hưởng lớn đến quá trình chế biến và chất lượng nước mắm. Cá có thành phần dinh dưỡng cao, có độ tươi nhất định sẽ cho nước mắm chất lượng tốt. Cá có kết cấu cơ thịt lỏng lẻo, ít vẩy thì chượp mau chín hơn. Cá có hàm lượng chất béo cao thường làm cho nước mắm có mùi khét.
Nguồn nguyên liệu sản xuất nước mắm: 1. Nguyên liệu dùng sản xuất nước mắm nói chung: Nguyên liệu dùng để sản xuất nước mắm là các loại cá, chất lượng nước mắm phụ thuộc rất nhiều vào từng loại cá. Cá dùng để chế biến nước mắm có thể là cá biển và cá nước ngọt. Cá biển thường được dùng loại con mình nhỏ, nhiều thịt, như cá nục, cá trích; cá mềm xương như cá cơm, cá sọc phấn; cá thịt dai nhiều mỡ như cá mòi, cá lẹp; cá thịt dai cứng như cá chuồn, cá căng; cá tạp gồm các loại cá như cá ớt, cá phèn, cá lưỡng, cá mối,.
Trong những loại cá biển làm nước mắm cá nổi tốt hơn cá đáy, cá đánh ngoài khơi xa bờ tốt hơn cá ven bờ, vì cá ven bờ, cá đáy thường ăn những rong rêu bùn đất, ăn tạp chất trong phù sa của các con sông lớn đổ ra biển Cá nước ngọt chế biến nước mắm chất lượng ngon không kém nước mắm cá biển.