Chương 1: Đặt vấn để Khái quát về việc lựa chọn dé tài , mục đích, phạm vi, mục tiêu, nội dung đề tài nghiên cứu. Chương 2 : Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Nêu lên một số khái niệm cơ bản liên quan đến dé tài như vai trò của cây ăn quả, khái niệm về phát triển nông thôn bên vững, khái niệm về phát triển kinh tế nông thôn, bảo vệ môi trường, vấn dé khuyến nông, quá trình phát triển nông nghiệp của Huyện trong những năm qua. Các phương pháp áp dụng trong quá trình nghiên cứu: phương pháp thu thập, phương pháp phân tích tổng hợp, các chỉ tiêu tính hiệu quả và kết quả, | Chương 3 : Tình hình cơ bản Trình bày về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội , môi trường tại địa bàn nghiên cứu, quá trình phát triển nông nghiệp tại huyện trong những năm qua. Chương 4 : Kết quả nghiên cứu và thảo luận Đặc điểm hệ thống canh tác , thực trạng sản xuất, phân tích hiệu qua sản xuất, phân tích điều kiện thị trường tiêu thu sản phẩm,và một số để suất giải pháp nhằm phát triển vườn cây.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Kết luận chung và các kiến nghị. Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Vai trò của cây ăn quả. Quả là thực phẩm ăn tươi, chứa nhiều nước hơn so với gạo ( chưa nấu chín), tuy nhiên ít chất dinh dưỡng hơn nhưng trong quả có chứa nhiều chất khoáng, đặc biệt nhiều vitamin, nhất là các vitamin A và C rất tốt cho cơ thể con người ( xem phụ lục 1).
Sản lượng quả tính theo đầu người (xem phụ lục 2), trên thực tế mỗi nước tiêu thụ thấp hơn nhiều vì: Quả dễ hỏng, một công trình điều tra của FAO cho biết từ nơi sản xuất qua vận chuyển, giữ ở kho, đến tay người tiêu đùng đối với một loại quả dễ hỏng như chuối và các nước nhiệt đới hao hụt 20-40%. Một phần ngày càng lớn bán ra thị trường trong và ngoài nước. Tính một cách tương đối, mỗi người dân nước ta chỉ tiêu thụ khoảng 30kg/năm. Theo các nhà dinh dưỡng học mỗi người mỗi ngày phải ăn tối thiểu 100g quả, một năm khoảng 36,5kg quả( không kể quả dùng làm rau).
Như vậy bình quân 30 kg quả một người của ta không thấp lắm. Nước ta có điều kiện rất thuận lợi để sản xuất quả và quả là thức ăn để bổ sung các chất cho khẩu phân ăn, nhất là đối với trẻ em và người già, vì vậy cần phát triển nghề trồng cây ăn quả. Khái niệm về phát triển nông thôn bền vững Phát triển bén vững là sự phát triển hài hoà cả về mặt kinh tế, xã hội và môi trường, cuối cùng để đảm bảo được phúc lợi cho con người một cách công bằng trong cùng thé hệ. Như vậy phát triển bén vững không chỉ phát triển về a mặt kinh tế hoặc giải quuyết các vấn để xã hộivà cũng không phải chỉ đơn thuần là bảo vệ môi trường.
Khai niệm về phát triển kinh tế nông thôn. Phát tirển kinh tế nông thôn là một tiến trình gia tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp để có nhiều hơn sản phẩm và dịch vụ mong muốn, từ đó gia tăng mức sống cá nhân và phúc lợi cộng đồng nông thôn. Bên cạnh đó phát triển nông thôn còn quan tâm đến tăng cường hợp tác con người và năng lực của cộng đồng để phát triển kinh tế hộ, tăng tỷ trọng và đóng góp sản phẩm của xã hội nông thôn cho nhu cầu toần xã hội. Phát triển xã hội nông thôn.
Với đặc điểm của nông thôn nước ta hiện nay, để hướng tới sự phát triển bén vững, thì về mặt xã hội cần giải quyết nhiều vấn đề như: hạn chế tăng dân số, xoá đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe, nâng cao trình độ dân trí, môi trường xanh, sạch, dep.Chinh phủ đã chỉ đạo thực hiện những chương trình quốc gia quan trọng như: Chương trình quốc gia về tạo việc làm, chương trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo, chương trình nước sạch và vệ sinh nông thôn, chương trình dân số, kế hoach hóa gia đình.Nhờ đó đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, tuy nhiên ta cần phải tiếp tục phấn đấu nhiều hơn nữa. Về giảm nghèo, về giáo dục, về chăm sóc sức khỏe.là vấn dé thiết thực liên quan tới đời sống vật chất và tỉnh thần của người dân. Vấn dé bảo vệ môi trường. Những vần dé môi trường như: do khí hậu nhiệt đới, lượng mưa hàng năm khác nhau, lại thêm nạn phá rừng cho nên lượng đất bị rửa trôi rất lớn, nhất là những nơi có độ đốc > 20 độ.
Hậu quả của việc này là sự suy giảm chất lượng đất. Ngoài ra chất lượng đất suy giảm còn do chế độ canh tác không hợp lý, bị ô nhiễm do bón phân không phù hợp, dùng thuốc trừ sâu không đúng kỹ thuật, lấy đất làm gạch ngói một cách bừa bãi và tuỳ tiện. Suy thoái và 6 nhiễm nước có nhiễu hướng gia tăng: do điều kiện khí hậu của nước ta lượng bốc hơi rất mạnh, ô nhiễm do nước thải đô thị và khu công nghiệp ngày càng tăng, ô nhiễm nước do sản xuất nông nghiệp là hậu quả của việc dùng không đúng kỹ thuật các loại phân hóa học, hữu cơ và các hóa chất bảo vệ thực vật, việc khai thác quá mức và không đúng kỹ thuật cũng gây tác hại nghiêm trọng tới tài nguyên nguồn nước, ô nhiễm do bụi, rác thải, tiếng ổn, lũ lụt. Phát triển nông thôn cần phải chú trọng tới môi trường, vì môi trường nông thôn hiện nay đang chịu áp lực của sự phát triển khai thác và sử dụng tài nguyên môi trường.
Vậy vấn để làm sao để cải thiện được môi trường nhưng vẫn đáp ứng được nhu cầu phát triển con người ở nông thôn. Cần áp dụng những phương pháp canh tác mới, quy trình kỹ thuật mới nhưng vẫn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, cải thiện môi trường nhằm phát triển nông thôn bén vững. Vấn dé Khuyến Nông. Tất cả các công tác Khuyến Nông đều đặt trong quá trình phát triển và không thể coi là một công tác riêng lẻ.
Các chương trình Khuyến Nông, các dự án và các trung tâm Khuyến Nông đều là những thành phần phát triển cộng đồng nông thôn. Do đó Khuyến Nông là từ tổng quát để chỉ tất cả các công việc có liên quan đến phát triển nông thôn. Đó là một chương trình làm việc với cư dân nông thôn bằng cách hướng dẫn cho họ thực hiện tốt hơn, cải thiện phương pháp và kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi. Mục tiêu của công tác Khuyến Nông là giúp cho gia đình nông dân đạt được một đời sống tốt hơn, trở nên hoạt động hơn và là thành viên tích cực của cộng đồng.
Công tác Khuyến Nông không dừng ở giai đoạn chuyển giao kỹ thuật mà còn phải tạo điểu kiện để nông dân thực hành kỹ thuật được chuyển giao và sự thành công của công tác Khuyến Nông là cải thiện được mức sống của dân nông thôn do các chương trình Khuyến Nông mang lại. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Phương pháp thu thập Đề tài đã tiến hành đánh giá nhanh nông thôn (RRA) nhằm lấy thông tin trực tiếp từ người nông dân, kết hợp với số mẫu là 48 mầu chia đều cho sáu xã mỗi xã phỏng vấn 8 hộ dân và , chọn mẫu ngẫu nhiên theo từng hộ. Ngoài ra để tài cũng đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp các lãnh đạo xã, chịu trách nhiệm về cây ăn quả của sáu xã, gồm sáu mẫu diéu tra cho sáu xã.
Các số liệu thứ cấp được thu nhập số liệu thứ cấp từ Sở NN & PTNT tỉnh Bình Dương, phòng Nông nghiệp và Địa chính huyện Thuận An, Phòng Thống Kê Nông Nghiệp huyện Thuận An và tại các xã. Phân tích và tổng hợp Các dữ liệu điều tra thu thập được xử lý bằng các phương pháp tính bình quân, so sánh, phân tích những chỉ tiêu đo lường sự phát triển cây ăn quả tại huyện Thuận An. Và nhằm giải thích rõ những thành công và hạn chế của từng yếu tố có liên quan đến sự phát triển. Cae chỉ tiêu đánh giá hiệu quả - kết quả “+ Lợi nhuận= doanh thu - chỉ phí lao động nhà - thuế Trong đó: Doanh thu ( GTTSL): toàn bộ giá trị sản phẩm tiêu thụ trong một kỳ nhất định.
Doanh thu = tổng san lượng * đơn giá sản phẩm. Tổng chi phí sản xuất = chi phí vật chất + chi phí lao động. “+ Thu nhập: Thu nhập = doanh thu — ( chi phí vật chất + Chi phí lao động + thuế) Hay thu nhập = lợi nhuận + chi phí lao động nhà. Trong đó: ; Chi phí vật chất (CPVC) gồm: chi phí giống, phân, thuốc.
Chi phí lao động(CPLĐ) gồm: chi phí công làm đất, làm mương lip, gieo trồng, phun thuốc, chăm sóc, thu hoạch. Lợi nhuận(LN) : là phần lãi thu được sau khi béi dap chi phi vật chất lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh. “> Ty suất thu nhập theo chi phí san xuất: Tỷ suất thu nhập (TSTN): TSTN/CP = TCP Tỷ suất thu nhập có nghĩa là cứ 1 đồng chi phí bổ ra sản xuất trong một năm thì thu được bao nhiêu đồng thu nhập. “ Tỷ xuất lợi nhuận ( TSLN): LN TSLN/CP = TCP Có nghĩa một đồng chi phí bỏ ra một năm thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
s* Hiệu quả đồng chi phí: DT TSDT/CP = TCP Có nghĩa là một đồng chi phí bỏ ra trong một năm ta sé thu được bao nhiêu đồng doanh thu. Chương 3 TÌNH HÌNH CƠ BẢN 31. DIEU KIỆN TỰ NHIÊN. Vị trí địa lý.
Thuận an nằm trong vùng tứ giác chiến lược trọng điểm kinh tế phía nam: TP.HCM - Bình Dương - Đồng Nai - Vũng tàu. Thuậ n An là một trong những trung tâm kinh tế — Văn hoá — Chính trị quan trọng của tỉnh Binh Dương. Với tổng diện tích 84.2582km2 trong số 2695,54ha, chiếm 0,31% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh. Huyện Thuận An được tách ra từ huyện Thuận An cũ vào năm 1999, nằm 6 cực nam của tỉnh Bình Dương, có tọa độ địa lý và ranh giới tứ cận như sau:Tọa độ địa lý là 10°55’ 00”- 10°59°30” vĩ độ Bắc, 105951°00°-106948?45 ” kinh độ Đông.
Tứ cận: Phía Bắc giáp thị xã Thủ Dầu Một và huyện Tân Uyên, phía Nam giáp TP.HCM, phía Đông giáp: huyện Dĩ An, phía Tây giáp sông Sài Gon ( TP. Huyện là cầu nối giữa TP.HCM với thị xã Thủ Dầu Một thông qua đại lộ Bình Dương, là cửa ngỏ từ TP.HCM đi các tỉnh Bình Phước, Tây Ninh. huyện Thuận An gồm 8 xã và 2 thị trấn. Trong đó có 4 xã và 2 thị trấn trồng cây ăn quả.