Khảo sát phân đoạn ti f của cao ethyl acetate được điều chế từ hạt me tamarind indica

Khảo sát phân đoạn ti f của cao ethyl acetate từ hạt me tamarind indica l, nghiên cứu ứng dụng và tiềm năng trong ngành công nghiệp.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

63
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về cây Tamarindus indica (L.)

1.1.1. Mô tả thực vật

1.1.2. Phân bố

1.1.3. Những nghiên cứu về dược học

1.1.3.1. Kinh nghiệm sử dụng trong dân gian
1.1.3.2. Hoạt tính sinh học

1.1.4. Những nghiên cứu về thành phần hóa học của cây Tamarindus indica (L.)

1.1.4.1. Thành phần dinh dưỡng

1.2. Định hướng nghiên cứu

1.2.1. Những vấn đề tồn tại

1.2.2. Định hướng nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM

2.1. Hóa chất và thiết bị

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Các phương pháp xử lý mẫu và trích ly

2.2.2. Các phương pháp phân tích, phân tách các hỗn hợp và phân lập các hợp chất

2.2.3. Các phương pháp nghiên cứu về cấu trúc

2.2.3.1. Điều chế các loại cao
2.2.3.2. Phân tách thành phần cao phân đoạn ethyl acetate
2.2.3.2.1. Sử dụng phương pháp TLC để theo dõi tiến trình
2.2.3.2.2. Tiến hành phân tách cao phân đoạn ethyl acetate bằng phương pháp CC
2.2.3.2.3. Phân tích thành phần phân đoạn TI-F của cao ethyl acetate
2.2.3.2.3.1. Sử dụng phương pháp TLC để theo dõi tiến trình
2.2.3.2.3.2. Tiến hành phân tách bằng phương pháp CC
2.2.3.2.4. Phân tách thành phần từ phân đoạn TI-F1
2.2.3.2.5. Phân tách thành phần từ phân đoạn TI-F1

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Khảo sát cấu trúc hóa học của hợp chất TI-F1A

3.2. Tìm hiểu về hoạt tính sinh học của (-)-epicatechin

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về cây Tamarindus indica L

Cây me, tên khoa học Tamarindus indica (L.), thuộc họ Đậu (Fabaceae), là loài duy nhất trong chi này. Cây có thể cao tới 20 mét, với lá kép lông chim và quả đậu màu nâu chứa cùi thịt và nhiều hạt. Hạt me có giá trị dinh dưỡng cao và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, từ thực phẩm đến y học. Theo báo cáo của TS. Phan Thị Anh Đào, hạt me có hoạt tính kháng oxy hóa và tổng hàm lượng flavonoid cao. Việc nghiên cứu về hạt me tamarind indica không chỉ giúp hiểu rõ hơn về thành phần hóa học mà còn mở ra cơ hội ứng dụng trong y dược.

1.1 Mô tả thực vật

Cây me có thân gỗ, lá xanh quanh năm và quả có cùi thịt. Hạt me có dạng bầu dục, bóng, và chứa nhiều chất dinh dưỡng. Hạt me được biết đến với khả năng nảy mầm tốt, nhờ vào cấu trúc đặc biệt của nó. Việc nghiên cứu hình thái và cấu trúc của cây me giúp xác định các hợp chất có giá trị trong y học và thực phẩm.

1.2 Phân bố

Cây me phân bố rộng rãi từ Châu Phi đến Đông Nam Á, thích nghi tốt với khí hậu bán khô hạn. Tại Việt Nam, cây me được trồng phổ biến, không chỉ làm bóng mát mà còn cung cấp nguồn thực phẩm. Việc nghiên cứu phân bố của cây me giúp hiểu rõ hơn về tiềm năng phát triển và ứng dụng của nó trong nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm.

II. Phương pháp nghiên cứu và thực nghiệm

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp chiết xuất bằng dung môi để thu thập các hợp chất từ hạt me tamarind indica. Cao thô được điều chế từ methanol, sau đó phân đoạn thành n-hexane, chloroform và cao ethyl acetate. Phương pháp sắc ký cột và sắc ký lớp mỏng được áp dụng để phân lập các hợp chất tự nhiên. Kết quả cho thấy, tinh chất từ hạt me có khả năng chống oxy hóa và kháng vi khuẩn, mở ra hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực dược phẩm.

2.1 Các phương pháp xử lý mẫu và trích ly

Quá trình chiết xuất bắt đầu bằng việc ngâm hạt me trong dung môi methanol. Sau đó, cao thô được thu hồi và phân đoạn bằng các phương pháp sắc ký. Việc sử dụng tinh chất từ hạt me giúp tối ưu hóa quy trình chiết xuất và nâng cao hiệu suất thu hồi các hợp chất có giá trị.

2.2 Các phương pháp phân tích phân tách

Các phương pháp phân tích như TLC và CC được sử dụng để theo dõi tiến trình chiết xuất và phân tách các hợp chất. Kết quả cho thấy, phân đoạn TI-F từ cao ethyl acetate chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học cao, đặc biệt là (-)-epicatechin, một hợp chất có tiềm năng trong y học.

III. Kết quả và bàn luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy, hạt me tamarind indica không chỉ chứa nhiều hợp chất dinh dưỡng mà còn có hoạt tính sinh học đáng kể. Hợp chất (-)-epicatechin được phân lập từ phân đoạn TI-F1 cho thấy khả năng chống oxy hóa mạnh mẽ. Việc nghiên cứu này không chỉ có giá trị khoa học mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc phát triển các sản phẩm từ thiên nhiên, phục vụ cho sức khỏe con người.

3.1 Khảo sát cấu trúc hóa học của hợp chất TI F1A

Phân tích phổ NMR cho thấy cấu trúc của hợp chất TI-F1A tương ứng với (-)-epicatechin. Hợp chất này có tiềm năng ứng dụng trong ngành dược phẩm nhờ vào hoạt tính sinh học của nó. Việc xác định cấu trúc hóa học giúp mở ra hướng nghiên cứu mới cho các hợp chất tự nhiên khác từ hạt me.

3.2 Tìm hiểu về hoạt tính sinh học của epicatechin

Nghiên cứu cho thấy (-)-epicatechin có khả năng chống oxy hóa và kháng vi khuẩn. Hoạt tính này có thể được ứng dụng trong việc phát triển các sản phẩm thực phẩm chức năng và dược phẩm. Việc khai thác các hợp chất từ hạt me không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe mà còn góp phần vào việc phát triển bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên.

01/02/2025
Đồ án hcmute khảo sát phân đoạn ti f của cao ethyl acetate được điều chế từ hạt me tamarind indica l

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Hiện nay, việc tìm kiếm, phát hiện và nghiên cứu các hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học cao từ nguồn tài nguyên thực vật phong phú của nước ta là mối quan tâm chung của các ngành Hoá, Sinh, , Dược. Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các hợp chất thiên nhiên đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học Cho đến thời điểm này tại Việt Nam, cây me thuộc chi Tamarindus của họ Đậu (Fabaceae) chưa được nghiên cứu về thành phần hóa học, chỉ số ít nghiên cứu về Tamarind Seed Polysaccharide (TSP) của hạt me. Các nghiên cứu về ứng dụng hạt me hay cao chiết hạt me để tận dụng nguồn hoạt chất sinh học chưa được áp dụng rộng rãi và cần được nghiên cứu sâu hơn nữa, về mặt tìm kiếm các hợp chất tự nhiên có trong quả me lại không có nhiều nghiên cứu , do vậy quả me là một đối tượng nghiên cứu có nhiều triển vọng, có ý nghĩa khoa học và thực tế. Theo như báo cáo TS.

Phan Thị Anh Đào và cộng sự (2017) đã công bố trên tạp chí ―Phân tích hóa, lý và sinh học‖ rằng khảo sát trên các loại hạt hiện có ở đất nước Việt Nam đã chứng minh được hạt me thuộc chi Tamarindus của họ Đậu (Fabaceae) có hoạt tính kháng oxy hóa, tổng hàm lượng flavonoid và phenolic cao. Theo nghiên cứu đó, để góp phần tìm hiểu và nhận danh một số hợp chất có trong thành phần của cây me Tamarindus indica (L.) phục vụ cho lĩnh vực khoa học y dược đồng thời góp phần mở rộng khả năng ứng dụng của nguồn thực vật Việt Nam. Chúng tôi quyết định tiến hành thực hiện đề tài: “Phân lập và định danh các hợp chất tự nhiên từ cao ethyl acetate của hạt me (Tamarindus indica L.  Mục tiêu luận văn: Nghiên cứu phân lập và định danh một số hợp chất từ các cao phân đoạn của hạt me Tamarindus indica (L.), thuộc họ Đậu Fabaceae.

Từ đó làm cơ sở khoa học cho những nghiên cứu sau này.  Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu  Cách tiếp cận Tham khảo tài liệu.  Phương pháp nghiên cứu ix do an Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Trích ngâm dầm trong dung môi MeOH. Cô lập các hợp chất bằng các phương pháp sắc ký cột, sắc ký bản mỏng, sắc ký điều chế.

Phương pháp nghiên cứu phân tích tổng hợp: Phân tích và tổng hợp các dữ liệu phổ nghiệm như phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H, 13C, DEPT, COS , HMBC, HSQC và khối phổ để xác định cấu trúc hóa học các hợp chất tinh khiết phân lập lập được. x do an CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về cây Tamarindus indica (L.1 Mô tả thực vật Cây me, tên khoa học Tamarind indica (L.) hay còn gọi là Tamarindus được nhà khoa học Linn phát hiện vào năm 1753 [1], thuộc họ Đậu (Fabaceae) lớn thứ ba trong các họ thực vật có hoa sau họ Phong lan và họ Cúc [2].) là loài duy nhất trong chi Tamarindus [3, 4]. Mô tả thực vật : Tamarindus indica (L.) là loại cây thân gỗ, có thể cao tới 20 mét, lá cây thường xanh trong những khu vực không có mùa khô và thường có nhiều nhánh với các nhánh lan rộng, rủ xuống ở hai đầu. Rễ cây tạo ra một rễ cọc sâu xuống lòng đất và một hệ thống rễ con chằng chịt xung quanh, nhưng rễ cọc quá sâu có thể làm cho việc cản trở mạch nước ngằm hoặc có thể bị nén chặt lại gây tắt mạch nước ngầm, hệ thống gốc rộng lớn của nó cũng đóng góp cho khả năng chịu hạn hán và gió.

Gỗ của thân cây me bao gồm lớp gỗ lõi cứng, màu đỏ sẫm, và lớp dác gỗ mềm có màu ánh vàng. Lá của nó có dạng lá kép lông chim, bao gồm từ 10 đến 40 lá nhỏ. Hoa tạo thành dạng cành hoa (cụm hoa với trục kéo dài và nhiều cuống nhỏ chứa một hoa, giống như ở cây đậu lupin). Quả là loại quả đậu màu nâu, bên trong chứa cùi thịt và nhiều hạt có vỏ cứng.

Mỗi quả chứa 1-12 hạt dẹt, bóng, có dạng bầu dục, mỗi hạt 3-10 x 1,3 cm và tâm của mỗi mặt phẳng của hạt được đánh dấu với một vết lõm trung tâm lớn. Quả chín khoảng 10 tháng sau khi ra hoa và có thể là thời kỳ ra hoa tiếp theo. Hạt có thể có đường rạch đôi để tăng cường khả năng nảy mầm [2, 3, 5]. 1 do an Hình 1.1: Nhụy hoa ( bên trái ) và Lá ( bên phải) của cây me Hình 1.2: Thân cây Tamarindus indica (L.3: Quả me chín 1.2 Phân bố Họ Đậu (Fabaceae) là một họ thực vật lớn với khoảng 500 chi và 2000 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, ở ôn đới.

Tại Việt Nam, họ Đậu có 90 chi và khoảng 450 loài. Theo Trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam, họ Đậu rất phong phú về dạng sống: cây gỗ, cây bụi, thân thảo, dây leo, dây leo thân thảo. Cây me (Tamarindus indica (L.)) được tìm ra đầu tiên ở Mexico (Châu Mỹ) năm 1615 [5]. Vùng phân bố của Tamarindus indica (L.) trải dài từ Châu Phi đến phía Nam và Đông Nam Á đây là một sự phân bố tuyệt vời, điều này giúp cho bây giờ ta có thể dễ dàng nghiên cứu về loài Tamarindus indica (L.

2 do an Cây me Tamarindus indica (L.) chiếm khoảng 1/3 diện tích rừng ở Madagascar [7] thuộc địa phận Châu Phi và được phân bố rộng rãi ở các khu vực như: phía nam Ấn Độ, Philippines, phía Bắc Malaysia, các đảo Caribbean bao gồm Jamaica, Cuba, Antilles Greater and Lesser, Cộng hòa Dominican và một số vùng lận cận ở Châu Á và Đông Nam Á. indica thích nghi rất tốt với điều kiện khí hậu bán khô hạn [8]. Thời tiết khô là yếu tố rất quan trọng trong thời kỳ phát triển của quả me chính vì vậy ở Puerto Rico và Madagascar cây me được trồng đại trà, sản xuất hàng năm, hệ sinh thái ở vùng này rất thích hợp để trồng Tamarindus indica (L. Ở nước ta, cây me có thể mọc hoang hay trồng phân bố ở khắp cả nước, được trồng làm bóng mát và cây ăn quả, dọc theo các con đường , trong sân vườn và công viên.3 Những nghiên cứu về dược học Quả me thường được sử dụng như một phương thuốc sức khỏe trên khắp Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ.

Sản phẩm me, lá, quả và hạt giống đã được sử dụng rộng rãi trong y học Ấn Độ và y học cổ truyền Châu Phi. Trong đông y quả me có vị chua, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giúp tiêu hoá, lợi trung tiện và nhuận tràng.1 Kinh nghiệm sử dụng trong dân gian Vỏ cây me có vị chát, có tác dụng làm săn da, dùng làm thuốc cầm máu, điều trị một số bệnh về tiêu hóa (kiết lỵ, tiêu chảy,.) và nấu nước để ngậm chữa viêm lợi, viêm nha chu [9]. Lá me có tác dụng giải độc, chữa rôm sảy, mẩn ngứa, thường được dùng để nấu nước tắm cho trẻ em đề phòng bệnh ngoài da vào mùa hè [10]. Thịt me, lá và hoa được kết hợp với nhau trong nhiều bài thuốc đông y để đắp vào các khớp bị đau.

Quả me cũng được biết như một loại thuốc chữa bệnh thiếu máu (hàm lượng sắt 2,8%) và có tác dụng hỗ trợ cơ chế đông máu (hàm lượng calcium 7% kết hợp với vitamin K) [11, 12]. Ở Ấn Độ, cây me được dùng để điều trị một số bệnh liên quan đến dạ dày hay đường tiêu hóa nói chung và trong hoạt động bảo vệ tim mạch. Ở miền bắc Nigeria, vỏ 3 do an thân cây me tươi và lá tươi được sử dụng để điều trị các rối loạn dạ dày, đau cơ thể, sốt vàng da và là loại thuốc bổ máu [13]. Ở Philipine, lá me được dùng trong một số loại trà thuốc để giảm sốt rét.2 Hoạt tính sinh học a) Nghiên cứu trong nƣớc Hạt me là sản phụ phẩm trong công nghiệp chế biến thực phẩm từ me, việc tận dụng nguồn phụ phẩm làm giảm bớt được lượng rác thải ra môi trường.

Kết quá nghiên cứu của Bùi Ngọc Tân (2016) thực hiện xác định thành phần hóa học của Tamarind Seed Polysaccharide bằng phương pháp sắc kí thẩm thấu gel, phương pháp phổ IR, NMR, MS, tán xạ ánh sáng và tán xạ tia X góc nhỏ đã cho được kết quả cấu trúc của Tamarind Seed Polysaccharide trong hạt me là một galactoxyloglucan. Song, điều chế được dẫn xuất của Tamarind Seed Polysaccharide với khả năng ly giải được máu đông, khả năng chống đông tụ máu và hoạt tính kháng vi khuẩn kiểm định [14]. Nhìn chung, trong nước chưa có nhiều nghiên cứu về thành phần và hoạt tính sinh học của cây Tamarind indica (L. Song trên thế giới, hiện đã có một số nghiên cứu hoạt tính sinh học về cây T.

b) Nghiên cứu ngoài nƣớc  Hoạt tính kháng khuẩn Muthu, Shankar Esaki, Vaghasiya và cộng sự (2005), đã nghiên cứu chiết xuất methanol từ lá của loài T. indica rằng có hoạt tính kháng khuẩn đáng kể chống lại Burkholderia pseudomallei [15], Klebsiella pneumoniae [15, 16]. Hoạt tính được so sánh với chất chuẩn là thuốc Amikacin và Piperacillin [17, 18]. Escalona-Arranz và cộng sự (2010), đã nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn của chiết xuất từ vỏ, thân và lá với dung môi nước và dung môi hữu cơ (acetone và ethanol).

Hoạt tính kháng khuẩn của dịch chiết cô đặc được đánh giá bằng cách xác định đường kính vùng ức chế chống lại vi khuẩn gram âm và gram dương và nấm bằng phương pháp khuếch tán đĩa giấy [19], chất kháng sinh so sánh là Ampicilin, Streptomycin, Amphotericin B và mẫu trắng [20, 21]. Kết quả: nghiên cứu cho thấy hoạt tính kháng khuẩn được chiết xuất từ thực vật không bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ nhưng bị giảm ở pH kiềm, sự hiện diện của tannin, saponin, sesquiterpen, alkaloid và phlobat vitamin có hoạt tính kháng khuẩn mạnh đối với Salmonella paratyphoid, Bacillus subtilis, Salmonella typhiand Staphylococcus aureus [22, 23]. 4 do an  Hoạt tính chống oxy hóa Takanori Tsuda và cộng sự (1994) đã định danh được các hợp chất tự nhiên như 2-hydroxy-3’,4’-dihydroxyacetophenone; metyl 3,4-dihydroxybenzoate; 3,4- dihydroxyphenylacetat và epicatechin. Đây là những chất có hoạt tính chống oxy hóa mạnh.

Bên cạnh đó, chất chống oxy hóa ưa lipid (linoleic acid) cũng được phân lập và định danh từ hạt me, thử nghiệm hoạt tính theo mô hình thử với acid thiobarbituric [24]. Theo như Yean-Yean Soong , Philip J. Barlow và cộng sự (2004) đã nghiên cứu khả năng chống oxy hóa và tổng hàm lượng phenolic của các phần ăn được với hạt me. Các thử nghiệm cation và FRAP của ABTS đã được sử dụng để xác định hoạt tính chống oxy hóa, thử nghiệm FCR được sử dụng để đo tổng hàm lượng phenolic [25].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khảo sát phân đoạn ti f của cao ethyl acetate từ hạt me tamarind indica" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình chiết xuất và phân đoạn các hợp chất có giá trị từ hạt me tamarind indica. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ các phương pháp chiết xuất hiệu quả mà còn chỉ ra tiềm năng ứng dụng của các hợp chất này trong ngành công nghiệp thực phẩm và dược phẩm. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách thức tối ưu hóa quy trình chiết xuất, cũng như những lợi ích sức khỏe mà các hợp chất này mang lại.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức của mình về các phương pháp chiết xuất và ứng dụng của các hợp chất tự nhiên, hãy tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ kỹ thuật hóa học nghiên cứu trích ly dầu và các hợp chất polyphenol trong dầu hạt đu đủ carica papaya l. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình chiết xuất polyphenol từ hạt đu đủ, một nguồn tài nguyên quý giá khác.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Dự thảo luận án nghiên cứu tách tinh chế và thủy phân glucomannan từ cây amorphophallus konjac k koch ở lâm đồng và định hướng ứng dụng hạ đường huyết, nơi khám phá quy trình tách và ứng dụng glucomannan, một polysaccharide có lợi cho sức khỏe.

Những bài viết này không chỉ mở rộng kiến thức của bạn về chiết xuất hợp chất tự nhiên mà còn cung cấp những ứng dụng thực tiễn trong lĩnh vực y học và dinh dưỡng.