ĐẶT VẤN ĐỀ Glucomannan là một polysacarit gồm các mắt xích D-mannose và D-glucose liên kết với nhau bằng liên kết β-(14) glycosid. Trên một số nguyên tử C6, nhóm OH được axetyl hóa với độ axetyl hóa khoảng 5÷10%. Tỷ lệ mannose/glucose phụ thuộc vào nguồn gốc glucomannan và thường dao động từ 1,6/1 ÷ 3,6/1 [1]. Đây là một chất xơ hòa tan nghèo năng lượng được dùng làm thực phẩm trong khẩu phần ăn của người ăn kiêng để giảm cân, làm giảm cholesterol trong máu, mỡ máu, giảm hấp thu glucose.
Ngoài ra glucomannan còn có nhiều tính chất quý như có khả năng hấp thụ nước trương nở tốt tạo dung dịch có độ nhớt cao nên được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực tạo độ ổn định cho thực phẩm, tạo gel, tạo màng [2–5]. Glucomannan có trong nhiều loài nưa, ở mỗi loài cấu trúc và tính chất khác nhau, trong đó Nưa Konjac (Amorphophalus konjac K.Koch) là loài có hàm lượng glucomannan cao và là cây trồng chủ lực để phát triển ngành Nưa ở một số nước Đông Á và Đông Nam Á như: Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan. Việt Nam có khoảng trên 25 loài Nưa phân bố rải rác khắp các vùng miền trong cả nước. Cây Nưa Amorphophallus konjac K.Koch mới được tìm thấy vào năm 2012 tại một số tỉnh miền núi phía Bắc [6].
Do khối lượng phân tử lớn (khối lượng phân tử trung bình của glucomannan dao động trong khoảng 1,9 106 ÷ 2 106 Da) [7], độ nhớt cao nên khả năng tan trong nước của glucomannan kém (độ tan khoảng 30%), do đó làm hạn chế một phần hiệu quả và phạm vi ứng dụng của glucomannan trong một số lĩnh vực. Để khắc phục hạn chế đó, quá trình thủy phân glucomannan để thu được glucomannan có khối lượng phân tử nhỏ hơn mà vẫn giữ được những tính chất quý của glucomannan thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học. Ngoài tính chất chung của glucomannan (KGM), glucomannan thủy phân (LKGM) còn có nhiều hoạt tính sinh học như lợi khuẩn, chống oxy hóa, điều hòa miễn dịch…[8–11]. Glucomannan thủy phân còn được sử dụng để vận chuyển thuốc [12].
Với các tiềm năng ứng dụng của LKGM trong lĩnh vực thực phẩm và dược phẩm, các nghiên cứu về phương pháp điều chế glucomannan khối lượng phân tử 1 thấp gần đây được nhiều tác giả trên thế giới quan tâm, gồm: thủy phân bằng enzym [13,14,23], [15–22], enzym kết hợp với chiếu xạ [24], thủy phân bằng axit HCl [14,25], axit HCl kết hợp sử dụng sóng siêu âm [26] hay chiếu xạ tia gamma kết hợp etanol [27], bằng kiềm kết hợp nhiệt [28].Tuy nhiên các nghiên cứu trên thế giới mới chỉ tập trung nhiều vào các phương pháp điều chế glucomannan khối lượng phân tử thấp mà chưa có nhiều nghiên cứu chi tiết về tính chất, cấu trúc hóa học, về mối quan hệ giữa cấu trúc và hoạt tính sinh học của chúng, đặc biệt khả năng giảm hấp thu đường huyết và cơ chế tác dụng chưa được nghiên cứu. Những nghiên cứu như vậy về glucomannan có nguồn gốc tại Việt Nam lại càng ít và hầu như chưa có. Để đóng góp nghiên cứu mới có ý nghĩa khoa học cơ bản về glucomannan có nguồn gốc tại Việt Nam, đồng thời góp phần nâng cao giá trị sử dụng của loại hợp chất này nhằm đưa ra những sản phẩm dược phẩm, thực phẩm chức năng có giá trị thực tiễn cao từ cây Nưa Amorphophalus konjac K.Koch ở Việt Nam chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu tách, tinh chế và thủy phân glucomannan từ cây Amorphophalus konjac K.Koch ở Lâm Đồng và định hướng ứng dụng hạ đường huyết”. Các mục tiêu cụ thể cho luận án như sau: 1.
Tách, xác định tính chất và chứng minh cấu trúc của glucomannan từ củ (thân củ) cây Amorphophallus konjac K.konjac) thu nhận tại Việt Nam. Xác định điều kiện tối ưu cho phản ứng thủy phân glucomannan từ cây A.konjac để chế tạo các loại glucomannan với khối lượng phân tử thấp bằng các phương pháp khác nhau. Thăm dò hoạt tính hạ đường huyết và cơ chế hạ đường huyết của sản phẩm thủy phân. Giới thiệu chung về glucomannan 1.
Nguồn gốc, cấu trúc glucomannan Glucomannan là một polysacarit mạch thẳng gồm các mắt xích D-mannose và D-glucose liên kết với nhau bằng liên kết β-(1→ 4) glycosid, được tách từ củ (thân củ) của một số loài Nưa (Amorphophallus sp. - họ Ráy), cây lô hội (Aloe vera) và trong một số loại rong biển. Các mạch nhánh có thể chiếm khoảng 8% thông qua liên kết β-1,3-glycosid và β-1,6-glycosid. Trên một số nguyên tử C6, nhóm OH được axetyl hóa với độ axetyl hóa (degree of acetylation) khoảng 5÷10%.
Tỷ lệ mannose/glucose phụ thuộc vào nguồn gốc glucomannan và thường dao động từ 1,6/1 đến 3,6/1. Glucomannan là một polysacarit với nhiều tính chất quý như khả năng tương hợp và phân hủy sinh học, có khả năng hình thành gel thuận nghịch và không thuận nghịch, khối lượng phân tử khoảng 200÷2000 kDa [2-9] Hình 1. Cấu trúc hóa học của glucomannan 1. Tính chất vật lý của glucomannan Dạng tồn tại: Ở điều kiện thường, tùy thuộc vào phương pháp tách chiết, glucomannan tồn tại ở dạng bột màu trắng đến vàng.
Tính tan: Khi tồn tại ở dạng tinh thể, trật tự sắp xếp của polyme không phải là của ion, nguyên tử, phân tử như ở các nhóm vật liệu khác mà là của mạch phân tử. Trong polyme tinh thể các mạch sẽ sắp xếp sao cho các nguyên tử ở trong một trật tự nhất định. Mức độ kết tinh của polyme dao động rất mạnh từ không (0) đến gần 3 như hoàn toàn (95%) phụ thuộc vào tốc độ làm nguội khi đông rắn và hình thái cấu tạo của mạch. Để có sắp xếp trật tự, polyme phải được làm nguội chậm để các mạch có thời gian chuyển động và sắp xếp lại theo trật tự.
Đặc điểm chung của các polysacarit là trong mạch phân tử chứa nhóm chức hydroxyl có khả năng tạo liên kết hydro chặt chẽ. Đây là nguyên nhân chính tạo nên tính chất kết tinh của polyme. Khi tồn tại ở trạng thái kết tinh, polysacarit khó hòa tan, khó tham gia phản ứng hóa học nên khả năng ứng dụng bị hạn chế. Khi ở dạng cấu trúc vô định hình, polyme có diện tích bề mặt riêng lớn, dễ tan trong nước và trong một số hệ dung môi, dễ tham gia các phản ứng hóa học…[29] Tùy thuộc vào nguồn gốc cấu trúc khác nhau mà glucomannan có độ tan khác nhau.
Glucomannan tách từ cây A.konjac tan tốt trong nước trong khi glucomannan tách từ cây A.paeoniifolius không tan trong nước. Yếu tố quyết định tính tan của glucomannan chính là khối lượng phân tử và độ axetyl hóa. Glucomannan có độ axetyl hóa thấp, liên kết hydro trong mạch phân tử mạnh sẽ không tan trong nước, trong khi đó glucomannan có độ axetyl hóa cao, khả năng hình thành liên kết hydro nội và ngoại phân tử kém nên có khả năng tan trong nước. Glucomannan có DA≈0 hầu như không tan trong nước lạnh mà chỉ trương trong nước nóng hình thành dạng hồ hóa [30,31].
Glucomannan từ cây A.konjac có khả năng hấp thụ nước từ 100 - 200 lần, tạo ra dung dịch dạng dẻo nhớt, độ nhớt của dung dịch glucomannan 1% vào khoảng 5000 - 40000 mpas, cao nhất trong các tác nhân làm đặc có nguồn gốc tự nhiên [30, 31]. Glucomannan có độ axetyl hóa càng cao, khả năng hình thành gel càng giảm. Glucomannan có độ axetyl hóa thấp, gel có thể hình thành khi được gia nhiệt. Glucomannan có khả năng tạo gel ổn định trong môi trường kiềm loãng như NaOH, Ca(OH)2 hay Na2CO3 có pH=9 10.
Trong môi trường kiềm, quá trình hình thành gel xảy ra do sự deaxetyl hóa nhóm axetyl trong mạch đại phân tử. Sự thay đổi cấu trúc này tạo điều kiện cho việc thiết lập các liên kết hydro, hình thành các tương tác kỵ nước giữa các phân tử glucomannan. Kết quả của quá trình này là hình thành cấu trúc mạng lưới không gian hay cấu trúc gel của glucomannan [32–36]. 4 Dung dịch konjac glucomannan loãng không tạo gel ở nhiệt độ thường.
Konjac glucomannan còn có khả năng tạo gel tốt khi sử dụng phối hợp với các tác nhân tạo gel khác như alginat, carrageenan, xanthan…[37,38] Khối lượng phân tử: Khối lượng phân tử của polyme là một đại lượng quan trọng ảnh hưởng đến tính chất cơ-lý-hóa của polyme như: độ bền cơ học, tính chất đàn hồi, độ mềm dẻo, khả năng hòa tan…Khối lượng phân tử trung bình của polyme là đại lượng mang tính chất thống kê trung bình và được biểu diễn qua 3 giá trị: Khối lượng phân tử trung bình số Mn, khối lượng phân tử trung bình khối Mw và khối lượng phân tử trung bình nhớt Mv. Để xác định khối lượng phân tử trung bình của polyme người ta có thể dùng phương pháp trực tiếp như: đo độ thẩm thấu hoặc phương pháp gián tiếp như: đo độ nhớt. Theo các nghiên cứu, glucomannan có khối lượng phân tử trung bình từ 200 2000 kDa tùy thuộc vào nguồn gốc và phương pháp tách chiết [39–41]. Tính chất hóa học của glucomannan Trong mạch đại phân tử glucomannan có chứa các nhóm chức có khả năng tham gia các phản ứng hoá học khác nhau, gồm: phản ứng thủy phân liên kết β- (14) glycosid, phản ứng ở nhóm hydroxyl (-OH) và nhóm axetyl (CH3CO-).
Phản ứng thủy phân cắt liên kết β-(14) glycosid Glucomannan bị đề polyme hóa với sự cắt đứt các liên kết β-(14) glycosid trong phân tử tạo ra các oligoglucomannan và cuối cùng là D-mannose và D- glucose, tác nhân thủy phân có thể là axit hoặc enzym. Trong số các phương pháp thủy phân hợp chất cao phân tử thì phương pháp sử dụng tác nhân axit kết hợp tiền xử lý mẫu bằng rung siêu âm (sonication) cho phép nhận được sản phẩm có sự phân bố khối lượng phân tử đồng đều hơn so với các phương pháp khác. Sử dụng rung siêu âm đơn thuần cũng có thể thủy phân mạch glucomannan mà không gây ra bất kỳ thay đổi nào đến cấu trúc hóa học của nó. Một số hệ enzym như: β-mananase, β-manosidase, β-glucosidase có thể phân cắt chọn lọc liên kết β-(1 4) glycosid của glucomannan tạo ra oligome có 5 khối lượng phân tử thấp mà vẫn giữ được các đặc tính và tác dụng sinh học quý của glucomannan ban đầu [23,25].
Phản ứng deaxetyl hoặc axetyl hóa Tác giả Chen và các cộng sự đã thực hiện phản ứng đề axetyl hóa glucomannan bằng các tác nhân khác nhau như NaOH, Na2CO3, Na3PO4, Ca(OH)2 và sử dụng glucomannan đã đề axetyl hóa làm chất tạo màng. Kết quả cho thấy, độ đề axetyl hóa có ảnh hưởng đến các tính chất cơ lý của màng glucomannan. Phản ứng này cũng được Lui và cộng sự đã thực hiện tạo sản phẩm không tan trong nước hấp phụ tanin [42]. Nhiều tác giả đã sử dụng NaOH để thủy phân nhóm acetyl của glucomannan ở pH >10.