Luận án tiến sĩ khảo sát nồng độ lipid máu chỉ số fmd ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 mới phát hiện trước và sau điều trị statin có phối hợp ezetimibe

Luận án nghiên cứu nồng độ lipid máu và chỉ số FMD ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 trước và sau điều trị statin kết hợp ezetimibe.

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Nội tiết

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học
195
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 VÀ BỆNH LÝ MẠCH MÁU LỚN

1.2. RỐI LOẠN LIPID MÁU Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2

1.3. BIẾN ĐỔI LỚP NỘI MẠC MẠCH MÁU Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2

1.4. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ RỐI LOẠN LIPID MÁU VÀ FMD Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐẶC ĐIỂM YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.2. ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN LIPID MÁU VÀ FMD ĐỘNG MẠCH CÁNH TAY CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.3. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN LIPID MÁU, CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ BIẾN ĐỔI CHỈ SỐ FMD CỦA NHÓM CAN THIỆP

3.4. ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN LIÊN QUAN ĐIỀU TRỊ STATIN VÀ EZETIMIDE

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

4.2. ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN LIPID MÁU Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2

4.3. ĐẶC ĐIỂM FMD Ở ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

4.4. KẾT QUẢ KIỂM SOÁT MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ, BIẾN ĐỔI NỒNG ĐỘ LIPID MÁU, CHỈ SỐ FMD TRƯỚC VÀ SAU ĐIỀU TRỊ

4.5. TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA ĐIỀU TRỊ STATIN VÀ EZETIMIDE

4.6. NHỮNG HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Nồng độ lipid máu và chỉ số FMD ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

Nghiên cứu tập trung vào nồng độ lipid máuchỉ số FMDbệnh nhân đái tháo đường týp 2 trước và sau điều trị statin kết hợp ezetimibe. Rối loạn lipid máu là yếu tố nguy cơ chính gây biến chứng mạch máu ở bệnh nhân đái tháo đường. Chỉ số FMD phản ánh chức năng nội mạc mạch máu, là chỉ báo sớm của xơ vữa động mạch. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của điều trị kết hợp statin và ezetimibe trong việc cải thiện nồng độ lipid trong máuchỉ số FMD.

1.1. Rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

Rối loạn lipid máu là yếu tố nguy cơ quan trọng ở bệnh nhân tiểu đường, đặc biệt là đái tháo đường týp 2. Nghiên cứu chỉ ra rằng tăng cholesterol và triglyceride làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch. Điều trị lipid máu bằng statin và ezetimibe giúp giảm đáng kể nồng độ lipid máu, từ đó giảm nguy cơ biến chứng tim mạch.

1.2. Chỉ số FMD và chức năng nội mạc mạch máu

Chỉ số FMD là phương pháp đánh giá chức năng nội mạc mạch máu, phản ánh khả năng giãn mạch qua trung gian dòng chảy. Ở bệnh nhân đái tháo đường, chỉ số FMD thường giảm do rối loạn chức năng nội mạc. Nghiên cứu cho thấy điều trị kết hợp statin và ezetimibe cải thiện đáng kể chỉ số FMD, giúp ngăn ngừa xơ vữa động mạch.

II. Điều trị statin kết hợp ezetimibe

Điều trị statin là phương pháp chính để kiểm soát nồng độ lipid máubệnh nhân đái tháo đường. Tuy nhiên, tác dụng của statin đơn độc thường bị giới hạn do cơ chế phản hồi tăng hấp thu cholesterol ở ruột. Ezetimibe ức chế hấp thu cholesterol tại ruột, tăng hiệu quả của điều trị statin. Nghiên cứu này khẳng định tác dụng của ezetimibe trong việc tăng cường hiệu quả điều trị rối loạn lipid máu.

2.1. Tác dụng của statin trong điều trị lipid máu

Statin ức chế tổng hợp cholesterol tại gan, giúp giảm nồng độ lipid máu. Tuy nhiên, tác dụng của statin đơn độc thường không đủ để đạt mục tiêu điều trị, đặc biệt ở bệnh nhân đái tháo đường. Nghiên cứu chỉ ra rằng điều trị kết hợp statin và ezetimibe giúp tăng hiệu quả hạ lipid máu.

2.2. Tác dụng của ezetimibe trong điều trị kết hợp

Ezetimibe ức chế hấp thu cholesterol tại ruột, giúp tăng cường hiệu quả của điều trị statin. Nghiên cứu này cho thấy tác dụng của ezetimibe trong việc giảm LDL-C và cải thiện chỉ số FMDbệnh nhân đái tháo đường týp 2.

III. Kết quả và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của điều trị kết hợp statin và ezetimibe trong việc cải thiện nồng độ lipid máuchỉ số FMDbệnh nhân đái tháo đường týp 2. Kết quả này có ý nghĩa quan trọng trong việc ngăn ngừa biến chứng tim mạch và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

3.1. Cải thiện nồng độ lipid máu

Điều trị kết hợp statin và ezetimibe giúp giảm đáng kể nồng độ lipid máu, đặc biệt là LDL-C và triglyceride. Kết quả này khẳng định hiệu quả của phương pháp điều trị này trong việc kiểm soát rối loạn lipid máu.

3.2. Cải thiện chỉ số FMD

Nghiên cứu cho thấy điều trị kết hợp statin và ezetimibe cải thiện đáng kể chỉ số FMD, giúp ngăn ngừa xơ vữa động mạch. Đây là kết quả quan trọng trong việc phòng ngừa biến chứng tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 VÀ BỆNH LÝ MẠCH MÁU LỚN Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh rối loạn chuyển hóa mạn tính khá phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Theo IDF, năm 2013 thế giới có 382 triệu người mắc ĐTĐ (chiếm 8,3% dân số) và dự kiến con số này sẽ tăng thêm 210 triệu người vào năm 2035. Có tới 80% số BN ĐTĐ đang sống ở các quốc gia chậm và đang phát triển trong đó có Việt Nam.

Cứ 6 giây lại có 1 người chết do ĐTĐ trong đó tử vong do nguyên nhân tim mạch đứng hàng đầu. Tốc độ phát triển tăng nhanh cùng với mức độ nguy hiểm của bệnh nên ĐTĐ đã được coi là ‘kẻ giết người thầm lặng’ [15]. Rối loạn lipid máu được xác định không chỉ là YTNC của bệnh ĐTĐ mà còn là YTNC TM mà người bệnh phải đối mặt [1], [16]. Phát hiện sớm, kiểm soát tích cực các YTNC sẽ làm giảm bớt gánh nặng và biến chứng bệnh ĐTĐ đặc biệt trong phòng ngừa tiên phát và thứ phát các biến chứng tim mạch.

Kháng insulin và suy giảm chức năng tế bào beta trong cơ chế bệnh sinh đái tháo đường týp 2 Sinh lý bệnh của ĐTĐ týp 2 khá phức tạp, cho đến nay còn chưa được hiểu biết đầy đủ. Có nhiều yếu tố đóng góp vào cơ chế bệnh sinh như yếu tố gen, môi trường, béo phì, lối sống ít vận động, nhiễm độc… Đặc điểm nổi trội của sinh lý bệnh ĐTĐ týp 2 gồm: kháng insulin biểu hiện bằng giảm nhạy cảm với insulin ở gan, cơ vân, mô mỡ; suy giảm chức năng tế bào beta biểu hiện rối loạn tiết insulin; tăng tổng hợp glucose tại gan [17], [18], [19], [20]. + Kháng insulin. Trong ĐTĐ týp 2, kháng insulin với biểu hiện giảm đáp ứng của các cơ quan đích với insulin, giảm sử dụng glucose ở tổ chức, 4 giảm khả năng ức chế sản xuất glucose ở gan.

Kháng insulin xảy ra từ giai đoạn tiền ĐTĐ. Ở giai đoạn này chức năng tế bào bêta còn bù trừ, nồng độ insulin trong máu vẫn ở mức bình thường hoặc cao. Chính sự bù trừ này giữ cho mức đường máu trong giới hạn bình thường hoặc tăng nhẹ vì vậy bệnh thường không được chẩn đoán trong nhiều năm đầu do đường huyết lúc đói vẫn bình thường, đường huyết sau ăn tăng chưa thường xuyên. Ở giai đoạn này, insulin tăng tiết nhằm đáp ứng lượng glucose đưa vào, trong khi các yếu tố như béo phì, THA, tăng TG và/hoặc giảm HDL-c… được xem là các YTNC tạo điều kiện xuất hiện và tiến triển kháng insulin.

Hậu quả của kháng insulin gây ra chuỗi rối loạn chuyển hóa gồm: tăng glucose, RLLP, THA, rối loạn đông máu [21], [22]. Vì vậy, có thể nói kháng insulin là một trong những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH). Về biểu hiện, HCCH là tập hợp các YTNC mà mẫu số chung là sự bất thường kháng insulin bao gồm: THA, thừa cân, béo phì (đặc biệt béo bụng), HDL-c thấp, tăng TG, tăng glucose. Đây đều là những nguy cơ tiềm tàng, góp phần xuất hiện ĐTĐ và những biến chứng tim mạch sau này [22], [23].

+ Rối loạn chức năng tế bào bêta Ở BN ĐTĐ týp 2 ngay tại thời điểm mới phát hiện bệnh, khối lượng đảo tụy chỉ còn lại 50% so với bình thường và sẽ tiếp tục suy giảm theo thời gian. Thông thường, suy giảm chức năng tế bào bêta tụy xảy ra trước khi chẩn đoán bệnh từ 10 đến 12 năm, khi chức năng tế bào β chỉ còn < 50% cũng là lúc bệnh xuất hiện trên lâm sàng. Đái tháo đường týp 2 điều trị bất kỳ bằng phương pháp nào thì chức năng tế bào bêta vẫn liên tục suy giảm. Bên cạnh đó, nghiên cứu giải phẫu bệnh cho thấy có hiện tượng lắng đọng amyloid ở đảo tụy.

Ngoài những thay đổi hình thái, cấu trúc tiểu đảo tụy nói trên, ở BN ĐTĐ týp 2 còn thấy những bất thường trong bài tiết insulin bao gồm: giảm khả năng tiết insulin, giảm độ nhạy của tế bào beta với glucose, mất pha tiết insulin sớm 5 với glucose, tăng phóng thích proinsulin, tăng tỷ lệ proinsulin/insulin, mất nhịp điệu bài tiết insulin [17], [19], [20]. Bên cạnh đó còn nhiều yếu tố góp phần suy giảm chức năng tế bào beta đã được ghi nhận gồm: tình trạng độc glucose, độc lipid, incretin, yếu tố tự miễn, các yếu tố viêm. Cơ chế bệnh sinh ĐTĐ týp 2 được coi là do đa yếu tố. Ngoài 2 yếu tố chính kể trên còn có vai trò của rối loạn tổng hợp glucose tại gan, giảm tác động của các incretin, tăng tái hấp thu glucose máu tại thận, rối loạn dẫn truyền thần kinh ở não … Những năm gần đây, vai trò của stress oxy hóa và các gốc tự do là những cơ chế bệnh sinh ở mức tế bào, phân tử ngày càng thu hút mối quan tâm của các nhà khoa học [20], [25], [26].

Mối liên quan giữa đái tháo đường týp 2 và bệnh lý mạch máu lớn Biến chứng tim mạch là nguyên nhân chính gây tử vong, tàn phế và tốn kém nhất trong chi phí trực tiếp và gián tiếp ở BN ĐTĐ. Nguyên nhân tử vong ở BN ĐTĐ týp 2 do chứng mạch máu lớn chiếm 75% [15]. Cơ chế bệnh sinh cơ bản gây biến chứng tim mạch ở BN ĐTĐ týp 2 là XVĐM [27]. Xơ vữa động mạch thường không gây ra triệu chứng cho đến khi động mạch bị hẹp nặng hoặc tắc hoàn toàn.

Đặc điểm tổn thương ĐMV ở BN ĐTĐ týp 2 là gây hẹp lan tỏa, phức tạp, nhiều nhánh với hệ thống tuần hoàn nghèo nàn dẫn đến khó khăn trong điều trị [28]. Các tổn thương XVĐM thường xảy ra sớm, nặng hơn, lan rộng hơn và tác động nhiều hơn đến các mạch máu ở xa. Tổn thương XVĐM phát triển là kết quả của kích thích viêm, phát hành tiếp theo của các cytokine, phổ biến các tế bào cơ trơn, tổng hợp các mô liên kết và tích tụ của các đại thực bào và lipid và qua các giai đoạn: Giai đoạn đầu: Biểu hiện sớm nhất là rối loạn nội mạc mạch máu. Các tế bào nội mạc bị tổn thương làm giảm sản xuất các NO, tạo điều kiện cho các phân tử lipiprotein trọng lượng phân tử thấp (LDL-C) lắng đọng nội mạc.

Tổn thương nội mạc gây tiết chất tiền huyết khối vascular cell adhesion molecule-1 6 (VCAM-1). Các phân tử kết dính tế bào nội mạc mạch máu cũng điều hòa sự di chuyển của bạch cầu vào tổ chức thông qua các phân tử kết dính. Các phân tử này điều chỉnh sự kết dính bạch cầu với nội mạc mạch máu. Tăng độ bám dính của tế bào nội mô và rối loạn chức năng tương ứng sau đó tạo điều kiện cho các tế bào viêm, giải phóng các cytokine và bám dính, lắng đọng lipid thành các mảng bám XVĐM.

Tiếp theo là sự hình thành những vệt mỡ trên bề mặt nội mạc. Giai đoạn hai: Nhờ các chất gây kết dính VCAM-1 làm tăng tập trung của các bạch cầu đơn nhân Monocyte và lympho T. Các monocyte và lympho T tiết chất hấp dẫn protein-1(MCP-1) có tác dụng kích hoạt các bạch cầu và phát triển các tế bào cơ trơn. Các monocyte di chuyển xuyên qua tế bào nội mạc vào mô liên kết tạo thành các đại thực bào (macrophage), tăng tiết các Matrix metaloproteinases (MMPs) có tác dụng phân hủy protein và gây chết tế bào.

Các phân tử LDL-c sau khi di chuyển qua tế bào nội mô bị oxy hóa. Đại thực bào có khả năng bắt giữ các hạt lipid đặc biệt là các hạt đã bị biến đổi để tạo thành tế bào bọt. Các tế bào bọt giữ lại các hoạt động trao đổi chất và tiết ra một loạt các cytokine và trung gian gây viêm, điển hình là interleukin (IL)-1β, tumor necrosis factor (TNF) α and β, IL-6, M-CSF, MCP- 1, IL-18 and CD-40L và C-reactive protein (CRP). Kết quả của quá trình này là kích hoạt, tập trung thêm các monocyte, tiếp tục quá trình oxy hóa LDL và phát triển các tế bào cơ trơn, gây tổn thương thêm các tế bào nội mô.

Sự phát triển của các mảng bám XVĐM được đặc trưng bởi sự mở rộng dần dần theo thời gian do sự tích tụ của các tế bào bọt. Các tế bào sợi cơ trơn di cư từ lớp trung mạc đến hàng rào tế bào nội mạc, phát triển, các sợi collagen, fibrin… phát triển xung quanh với lõi là các phân tử LDL-c. Giai đoạn sau cùng là sự biến đổi thành mảng vữa gây biến chứng làm tắc nghẽn đường kính động mạch và tai biến thiếu máu cục bộ [29], [30]. 7 Ở BN ĐTĐ týp 2 có nhiều YTNC tác động đến mạch máu và khởi phát tình trạng XVĐM.

Tình trạng RLLP, béo phì, cường insulin và kháng insulin cũng đóng vai trò quan trọng trong tình trạng viêm mạn tính đặc trưng bởi phản ứng stress oxy hóa tại chỗ, rối loạn chức năng nội mô, hoạt động của hệ thống thần kinh giao cảm và hệ RAA, rối loạn chức năng mô mỡ. Tăng glucose máu sẽ hoạt hóa protein C kinase của tế bào nội mô gây tăng trương lực và tính thấm mạch máu. Tăng nồng độ insulin ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến XVĐM. Thêm vào đó, tình trạng rối loạn huyết động, tăng kết dính tiểu cầu và tăng nồng độ các yếu tố đông máu góp phần gây XVĐM trên bệnh nhân ĐTĐ [29], [30], [31], [32].

THA ↑ lipid Gen RLLP máu ↑ Insulin Tăng glucose máu Tạo huyết khối ĐTĐ Hình 1. Cơ chế gây xơ vữa động mạch ở bệnh nhân đái tháo đường * Nguồn: theo Sena C. RỐI LOẠN LIPID MÁU Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 1. Dịch tễ học rối loạn lipid ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 Rối loạn lipid máu thường gặp ở BN ĐTĐ týp 2, có thể xảy ra trước, trong hoặc sau khi ĐTĐ xuất hiện.

Tỷ lệ RLLP máu thay đổi giữa các tác giả. Trần Văn Hiên và cs (2006): tỷ lệ RLLP ở BN ĐTĐ phát hiện lần đầu tại Bệnh 8 viện Nội tiết trung ương là 65,3% [33], Phạm Thị Hồng Hoa (2009) là 68% [34]. Nghiên cứu MRFIT cho thấy tỉ lệ tử vong do bệnh tim mạch tăng theo mức độ cholesterol trên những cá thể không mắc ĐTĐ và tăng cao gấp 3 - 4 lần trên những cá thể bị ĐTĐ týp 2 [1. Vì vậy, kiểm soát lipid máu là một trong những biện pháp chính giảm YTNC ở BN ĐTĐ đặc biệt đối với bệnh mạch vành (BMV).

Tuy nhiên, thực tế hiệu quả kiểm soát lipid máu còn thấp. Nghiên cứu CEPHEUS khu vực châu Âu cho thấy 44,7% BN đang điều trị thuốc hạ lipid máu không đạt mục tiêu LDL-c [35].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Khảo sát nồng độ lipid máu và chỉ số FMD ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 trước và sau điều trị statin kết hợp ezetimibe là một nghiên cứu quan trọng tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của liệu pháp kết hợp statin và ezetimibe trong việc cải thiện nồng độ lipid máu và chỉ số FMD (Flow-Mediated Dilation) ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự cải thiện đáng kể về các chỉ số lipid máu và chức năng nội mạc, giúp giảm nguy cơ biến chứng tim mạch ở nhóm bệnh nhân này. Đây là thông tin hữu ích cho các bác sĩ và nhà nghiên cứu trong việc tối ưu hóa phác đồ điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường týp 2.

Để hiểu sâu hơn về các yếu tố liên quan đến bệnh đái tháo đường týp 2, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu nồng độ serp5 rbp4 il18 huyết thanh ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2, Luận án nghiên cứu mối liên quan giữa resistin visfatin huyết thanh với một số nguy cơ tim mạch chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2, và Mô tả nguy cơ mắc bệnh lý tim mạch trong 10 năm theo thang điểm framingham và who ish ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại bệnh viện e năm 2020 2021. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn toàn diện về các yếu tố nguy cơ và phương pháp điều trị liên quan đến bệnh đái tháo đường týp 2.