Khảo sát sinh trưởng và năng suất tám giống bắp lai tại tỉnh Gia Lai

Khảo sát sinh trưởng, phát triển và năng suất của tám giống bắp lai tại tỉnh Gia Lai, cung cấp thông tin hữu ích cho nông dân và nghiên cứu.

Trường đại học

Trường Đại Học Nông Lâm

Chuyên ngành

Nông Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2017

78
6
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM TẠ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình nghiên cứu, sản xuất bắp trên thế giới và Việt Nam

1.1.1. Tình hình nghiên cứu, sản xuất bắp trên thế giới

1.1.2. Tình hình nghiên cứu, sản xuất bắp ở Việt Nam

1.2. Tình hình sản xuất bắp ở Gia Lai trong vùng bắp Tây Nguyên

1.2.1. Vùng bắp Tây Nguyên

1.2.2. Tình hình sản xuất bắp ở tỉnh Gia Lai

1.2.3. Một số giống bắp lai phổ biến hiện nay tại tỉnh Gia Lai

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thời gian địa điểm, đặc điểm đất đai và thời tiết khu thí nghiệm

2.1.1. Thời gian điạ điểm thí nghiệm

2.1.2. Đặc điểm đất đai

2.1.3. Đặc điểm khí hậu thời tiết trong thời gian thí nghiệm

2.2. Vật liệu thí nghiệm

2.3. Phương pháp thí nghiệm

2.3.1. Bố trí thí nghiệm

2.3.2. Qui mô thí nghiệm

2.4. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

2.4.1. Thời gian sinh trưởng và phát dục

2.4.2. Các chỉ tiêu về sinh trưởng

2.4.3. Đặc điểm thân chính

2.4.4. Các đặc trưng về hình thái trái bắp

2.4.5. Tình hình sâu bệnh hại

2.4.6. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

2.5. Các biện pháp canh tác

2.6. Phương pháp xử lý và thống kê số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Thời gian sinh trưởng phát triển của tám giống bắp lai

3.2. Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm) của tám giống bắp lai

3.3. Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây

3.4. Số lá (lá/cây) của tám giống bắp lai qua các giai đoạn sinh trưởng

3.5. Tốc độ ra lá (lá/cây/ngày) của tám giống bắp lai

3.6. Diện tích lá (dm2/cây) của tám giống bắp lai qua các giai đoạn

3.7. Chỉ số diện tích lá của tám giống bắp lai

3.8. Các yếu tố liên quan đến khả năng chống đổ ngã của tám giống bắp lai

3.9. Tình hình sâu bệnh hại của tám giống bắp lai

3.10. Đặc trưng hình thái trái của tám giống bắp lai

3.11. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của tám giống bắp lai

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về khảo sát năng suất bắp lai tại Gia Lai

Khảo sát năng suất và sinh trưởng của tám giống bắp lai tại Gia Lai là một nghiên cứu quan trọng nhằm xác định các giống bắp có năng suất cao và khả năng sinh trưởng tốt. Gia Lai, với điều kiện khí hậu và đất đai phù hợp, là một trong những vùng trồng bắp lớn của Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn góp phần cải thiện đời sống của nông dân địa phương.

1.1. Tình hình sản xuất bắp tại Gia Lai

Gia Lai là tỉnh có diện tích trồng bắp lớn, với sản lượng bắp đạt khoảng 219,3 nghìn tấn. Việc áp dụng các giống bắp lai mới đã giúp tăng năng suất bắp tại đây. Nghiên cứu này sẽ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất bắp tại tỉnh.

1.2. Vai trò của giống bắp lai trong sản xuất

Giống bắp lai đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Việc chọn lựa giống bắp lai phù hợp với điều kiện địa phương sẽ giúp nông dân gia tăng hiệu quả kinh tế.

II. Thách thức trong việc khảo sát giống bắp lai tại Gia Lai

Mặc dù có nhiều giống bắp lai triển vọng, nhưng việc khảo sát và đánh giá chúng gặp phải nhiều thách thức. Các yếu tố như khí hậu, đất đai và kỹ thuật canh tác đều ảnh hưởng đến kết quả khảo sát. Nghiên cứu này sẽ chỉ ra những thách thức chính và cách khắc phục.

2.1. Khí hậu và điều kiện đất đai

Khí hậu tại Gia Lai có sự biến đổi lớn, ảnh hưởng đến sinh trưởng của bắp. Đất đai cũng cần được cải tạo để phù hợp với yêu cầu của giống bắp lai.

2.2. Kỹ thuật canh tác và quản lý

Kỹ thuật canh tác không đồng nhất giữa các hộ nông dân có thể dẫn đến sự khác biệt về năng suất. Cần có các biện pháp quản lý đồng bộ để nâng cao hiệu quả sản xuất.

III. Phương pháp khảo sát năng suất bắp lai tại Gia Lai

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thí nghiệm ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD) để khảo sát tám giống bắp lai. Các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất sẽ được theo dõi và đánh giá một cách chi tiết. Phương pháp này giúp đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả.

3.1. Thiết kế thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên với ba lần lặp lại. Mỗi ô thí nghiệm sẽ theo dõi 10 cây để đảm bảo tính đại diện.

3.2. Các chỉ tiêu theo dõi

Các chỉ tiêu như thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, số lá và năng suất sẽ được theo dõi theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Điều này giúp đánh giá chính xác khả năng sinh trưởng của các giống bắp.

IV. Kết quả khảo sát năng suất bắp lai tại Gia Lai

Kết quả khảo sát cho thấy các giống bắp lai đều có khả năng sinh trưởng tốt. Hai giống bắp lai SK100 và NK67 đạt năng suất cao nhất, vượt đối chứng B9698. Nghiên cứu này sẽ phân tích chi tiết các kết quả đạt được.

4.1. Năng suất và sinh trưởng của các giống bắp

Giống SK100 đạt năng suất 11,79 tấn/ha, cao hơn 17,1% so với giống đối chứng. Điều này cho thấy tiềm năng của giống bắp lai trong sản xuất tại Gia Lai.

4.2. Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất

Các yếu tố như thời gian sinh trưởng, điều kiện khí hậu và kỹ thuật canh tác đều ảnh hưởng đến năng suất. Nghiên cứu sẽ chỉ ra các yếu tố chính và cách tối ưu hóa chúng.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của giống bắp lai tại Gia Lai

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng giống bắp lai có tiềm năng lớn trong việc nâng cao năng suất tại Gia Lai. Việc tiếp tục nghiên cứu và phát triển các giống bắp lai mới sẽ là hướng đi quan trọng trong tương lai.

5.1. Tầm quan trọng của giống bắp lai

Giống bắp lai không chỉ giúp tăng năng suất mà còn cải thiện chất lượng sản phẩm. Điều này có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế địa phương.

5.2. Định hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các giống bắp lai mới, đồng thời áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong canh tác để nâng cao hiệu quả sản xuất.

14/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất bắp trên thế giới và Việt Nam 1.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất bắp trên thế giới Vào nửa cuối thế kỷ 20, trong nền sản xuất lương thực của thế giới có một sự kiện rất quan trọng đó là sự phát triển nhảy vọt của cây bắp. Sự phát triển nhảy vọt đó là kết quả của việc khám phá, ứng dụng ưu thế lai vào sản xuất hạt giống bắp, cùng với việc sử dụng những thành tựu mới nhất của nhiều ngành khoa học đối với nghiên cứu và sản xuất bắp như di truyền học, chọn giống, công nghệ sinh học. Mỹ là nước tiến hành nghiên cứu và áp dụng ưu thế lai cho cây bắp sớm và có hiệu quả nhất. Bắp lai bắt đầu được đưa vào sản xuất từ những năm đầu thập niên ba mươi của thế kỷ trước và phát triển mạnh vào những năm sau đó cho tới năm 1942 thì hầu hết diện tích bắp của Mỹ được trồng bằng giống lai.

Nhờ sử dụng giống bắp lai và trình độ thâm canh cao, năng suất bắp của thế giới đã tăng 1,83 lần trong vòng 30 năm từ 1960 – 1990. Cũng trong thời gian đó, Mỹ và một số nước châu Âu có năng suất bắp tăng từ 2 – 3 lần. Nghiên cứu lai tạo giống bắp hiện nay đang bước sang một giai đoạn phát triển mới nhờ vào sự hỗ trợ của khoa học công nghệ tiên tiến giúp cho việc tạo ra giống mới nhanh chóng hơn và chất lượng tốt hơn. Với việc ứng dụng công nghệ gen, có thể chuyển các gen ngoại lai để cho ra các sản phẩm đa dạng có gen kháng sâu bệnh, kháng hạn, kháng lạnh, kháng mặn như giống bắp Bt kháng sâu đục thân của công ty Monsanto.

Trong những năm gần đây, các nhà khoa học thế giới đã đưa ra những phương pháp tạo dòng đơn bội kép bằng phương pháp nuôi cấy bao phấn hoặc noãn chưa thụ tinh để rút ngắn thời gian tạo giống mới (chủ yếu là thời gian tạo dòng thuần 3 bố mẹ). Kỹ thuật nuôi cấy phôi non đã sử dụng nhằm tạo ra nguyên liệu ban đầu phục vụ kỹ thuật chuyển gen và phân lập gen. Gần đây, tổ chức Nông Nghiệp thế giới đẩy mạnh chương trình tạo giống bắp chất lượng protein cao và đã đạt được những kết quả quan trọng. Các nhà khoa học dự đoán rằng vào thế kỷ 21, trong nghiên cứu năng suất bắp có thể đạt năng suất trên 30 tấn/ha và trong sản xuất đạt 20 tấn/ha.

Cây bắp là cây có chu kỳ quang hợp C4, có tiềm năng năng suất rất lớn, chưa xác định giới hạn mà không có cây ngũ cốc nào sánh kịp về mặt năng suất (trích dẫn theo Dương Xuân Quang, 2007). Trên thế giới, bắp là một trong những loại cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế, đứng vị trí thứ ba về diện tích, thứ hai về sản lượng và thứ nhất về năng suất. Cây bắp có nền di truyền rộng, được trồng trên nhiều vùng sinh thái khác nhau. Sản phẩm bắp được sử dụng làm lương thực cho con người, thức ăn cho gia súc và làm nguyên liệu cho một số ngàng công nghiệp.

Bắp là cây lương thực nuôi sống 1/3 dân số thế giới. Tất cả các nước trồng bắp nói chung đều ăn bắp ở mức độ khác nhau. Toàn thế giới sử dụng 21% sản lượng bắp làm lương thực cho con người (Trần Văn Minh, 2004). Ngoài các chất cơ bản như: tinh bột, Ptotein và Lipit, hạt bắp còn chứa nhiều axit amin không thay thế như Triptophan, Lyzine và Methionin.

Do đó, ở các nước Trung Mỹ, Nam Á và châu Phi sử dụng bắp làm lương thực chính cho con người như: Đông Nam Á sử dụng 85% sản lượng, Tây Trung Phi 80%, Bắc Phi 42%, Tây Á 27%, Nam Á 75%, Đông Âu và Liên Xô cũ 4%. Sản lượng bắp trên thế giới tăng nhanh gần đây, chủ yếu là tăng năng suất nhờ ứng dụng rộng rãi ưu thế lai trong chọn giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật, tưới tiêu. Trong hơn mười năm trở lại đây cùng với nhiều thành tựu mới trong chọn giống lai nhờ áp dụng phương pháp truyền thống với công nghệ sinh học thì việc ứng dụng công nghệ cao trong canh tác cây bắp đã góp phần gia tăng sản lượng đáng kể.1 Diện tích, năng suất và sản lượng bắp trên thế giới từ 2008 – 2014 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2008 162,69 5,10 830,62 2009 158,62 5,17 820,24 2010 163,94 5,19 851,30 2011 171,27 5,17 886,92 2012 178,57 4,88 873,15 2013 185,60 5,46 1014,27 2014 184,80 5,61 1037,80 (FAOSTAT, 2017) Bắp được trồng ở hầu hết các nơi trên thế giới như Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Úc, Châu Phi. Trong đó, Châu Mỹ là châu lục sản xuất bắp lớn nhất thế giới và là nơi đã ứng dụng nhiều nhất các thành tựu khoa học kỹ thuật cũng như cơ giới hóa vào trong quá trình sản xuất với diện tích bắp năm 2014 là 68,25 triệu ha; năng suất 7,71 tấn/ha; sản lượng 526,69 triệu tấn chiếm 36,93% về diện tích và 50,75% về sản lượng bắp trên thế giới.

Hiện nay bắp còn là nguồn nguyên liệu quan trọng trong sản xuất năng lượng sinh học (ethanol), đây được coi là giải pháp cho sự thiếu hụt năng lượng trong tương lai.2 Diện tích, năng suất, sản lượng bắp của các châu lục năm 2014 Diện tích Năng suất Sản lượng Châu lục (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) Châu Mỹ 68,25 7,73 526,69 Châu Á 60,70 5,08 303,55 Châu Phi 37,05 2,16 78,01 Châu Âu 18,70 6,92 128,90 Châu Đại Dương 0,08 8,17 0,65 (FAOSTAT, 2017) Hiện nay, Mỹ, Trung Quốc, Braxin là những nước đứng đầu về diện tích và sản lượng Bắp. Trong đó, nước trồng bắp nhiều nhất là Mỹ, với diện tích 33,64 triệu ha, 5 năng suất 10,73 tấn/ha, và sản lượng đứng đầu thế giới 361,09 triệu tấn, kế đến là Trung Quốc với diện tích 37,15 triệu ha; năng suất đạt 5,81 tấn/ha, sản lượng 215,81 triệu tấn. Do có trình độ khoa học kỹ thuật và thâm canh cao nên Israel là nước đứng đầu về năng suất với 34,09 tấn/ha (FAOSTAT, 2017).3 Một số nước sản xuất bắp lớn trên thế giới năm 2014 Diện tích Năng suất Sản lượng Quốc gia (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) Mỹ 33,64 10,73 361,09 Trung Quốc 37,15 5,81 215,81 Brazil 15,43 5,17 79,88 Ấn Độ 9,25 2,55 23,67 Mexico 7,06 3,29 23,27 Indonesia 3,83 4,95 19,00 Argentina 4,83 6,84 33,08 Pháp 1,82 10,05 18,34 Israel 0,004 34,09 0,16 (FAOSTAT, 2017) Theo dự báo của Viện Nghiên cứu Chiến lược Lương thực Thế giới (IFPRI, 2003) vào năm 2020 tổng nhu cầu bắp trên thế giới là 852 triệu tấn trong đó 15% dùng làm lương thực, 69% dùng làm thức ăn gia súc, 16% dùng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp. Ở các nước phát triển chỉ có 5% bắp được dùng làm lương thực nhưng các nước đang phát triển tỷ lệ này là 22%.2 Tình hình nghiên cứu, sản xuất bắp ở Việt Nam Theo La Đức Vực và ctv (2007), bắp là cây lương thực thứ hai sau cây lúa, có những vai trò quan trọng trong nền kinh tế: làm thức ăn chăn nuôi, làm thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, mặt hàng xuất khẩu.

Với những vai trò quan trọng đó, cây bắp luôn được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quan tâm, đưa ra những chính sách, biện pháp phù hợp để khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng ưu thế lai vào trong sản xuất, giúp gia tăng năng suất. Chương trình chọn tạo giống bắp lai ở nước ta đã được bắt đầu từ những năm 6 60 của thế kỷ 20, nhưng quá trình nghiên cứu và thử nghiệm không đạt kết quả như mong muốn. Do nguồn vật liệu ban đầu và các giống bắp lai có nguồn gốc ôn đới dài ngày không thích hợp với điều kiện nhiệt đới, ngắn ngày ở nước ta. Từ năm 1973, với những định hướng đúng đắn mà Viện Nghiên cứu Ngô Quốc gia đã đưa ra, chỉ sau 15 – 20 năm, một loạt các giống ngô thụ phấn tự do ra đời và được trồng rộng rãi sản xuất như: TSB1, TSB2, LS, HL-36, Q-2.

Sự ra đời của các giống bắp thụ phấn tự do như là một bước đệm, tạo tiền đề cho sự phát triển chương trình giống bắp lai. Chương trình chọn tạo giống thụ phấn tự do ngoài tác dụng trực tiếp là phục vụ sản xuất thì các giống này còn là nguồn vật liệu quý giá phục vụ cho chương trình chọn tạo giống bắp lai. Năm 1992 – 1993, Sự ra đời của các giống bắp lai không quy ước do Viện nghiên cứu ngô Quốc gia lai tạo, đã đánh dấu quá trình chuyển tiếp từ giống thụ phấn tự do sang giống lai. Giá thành của các giống này rẻ, thích nghi với điều kiện khó khăn và đầu tư thấp, cho năng suất 4 - 8 tấn/ha như các giống: LS-4, LS-5 (chín sớm), LS-6 (chín trung bình) và LS-7, LS-8 (chín muộn).

Giai đoạn 1993 – 1995 là giai đoạn quan trọng nhất được đánh dấu bằng sự ra đời của các giống bắp lai quy ước mang tên LVN (lai Việt Nam) của Viện Nghiên cứu Ngô chọn tạo và một số các giống bắp lai của các cơ quan khác. Trong đó LVN10 đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và sản lượng bắp của cả nước. Giai đoạn gần đây nhất, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam đã chọn tạo ra một số giống bắp lai đơn và đã được chấp nhận trong sản xuất: Giống VN25-29, giống lai đơn ngắn ngày V98-1 và trung ngày V2002 giống bắp lai đơn VN112 (trích dẫn theo Đào Thị Hiền, 2008) Hiện nay, Viện khoa học kỹ thuật Nông Nghiệp lai tạo chủ yếu định hướng vào việc lai tạo ra các giống bắp hín sớm và chín trung bình có tiềm năng năng suất cao phù hợp với trình độ thâm canh tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Đồng thời áp dụng phương pháp tạo dòng đơn bội kép bằng phương pháp nuôi cấy bao phấn hoặc noãn chưa thụ tinh để tạo dòng thuần rút ngắn thời gian, tiền của và công sức tạo ra giống mới.

Họ đã thu được kết quả hết sức khả quan là tạo thành công 9 dòng đơn bội kép có thể tham gia vào quá trình lai thử tiếp theo. 7 Trong những năm gần đây, ở nước ta có những bước tiến đáng kể trong công tác chọn tạo các giống bắp lai. Những giống lai quy ước của chúng ta đang có sức cạnh tranh, giá hạt giống rẻ chỉ bằng một nửa giá giống nhập khẩu. Năng suất và chất lượng bắp của chúng ta không thua kém các giống bắp lai của các công ty nước ngoài.

Theo Quyết định 09 của Chính phủ, chỉ tiêu sản lượng bắp năm 2010 phải đạt 5 – 6 triệu tấn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ