Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1. Quá trình hình thành và phát triển của từ Hán Việt Theo quan điểm của nhiều người, từ Hán Việt lâu nay vẫn luôn bị xem là một thứ từ ngoại lai. Việc hạn chế hoặc giả là không dùng từ Hán Việt được xem như biện pháp để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Hiểu như vậy e rằng không thấu đáo.
Do vị trí địa lí và hoàn cảnh lịch sử, trong tiếng Việt có một lớp từ ngữ gốc Hán rất phong phú về số lượng, có giá trị nhiều mặt, thường được gọi dưới cái tên chung là từ Hán Việt. Lớp từ này thực chất từ lâu đã góp phần tích cực vào tiến trình phát triển của hệ thống từ ngữ tiếng Việt, làm cho tiếng Việt ta ngày 7 thêm giàu có, tinh tế, uyển chuyển hơn, đủ khả năng đáp ứng tốt nhất mọi yêu cầu do cuộc sống văn hoá - xã hội. Không thể phủ nhận từ Hán Việt vốn dĩ ban đầu là thứ từ vay mượn nhưng đồng thời là sự sáng tạo rất độc đáo của bao thế hệ người Việt và từ lâu đã hoà nhập vào dòng chảy ngôn ngữ Việt, trở nên gần gũi với chúng ta. Trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, chúng ta sử dụng không ít từ Hán Việt vào trong phát ngôn của mình dù dưới sự chỉ đạo của ý thức hay vô thức.
Thực tế, trong chúng ta không ít người còn khá mơ hồ về cái được gọi là từ Hán Việt nên mới có những cách hiểu lệch lạc. Khi nói đến những từ như: phi cơ, giáo sư, giang sơn, quốc gia… ta biết ngay là từ Hán Việt. Nhưng khi nói: đầu, học, dân…thì ta cứ ngỡ đó là từ thuần Việt. Vì sao vậy ? Đó là do từ Hán Việt là kết quả của cả một quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Việt - Hán kéo dài ít nhất là hai thiên niên kỷ, trong những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt và những phương thức đặc biệt với sự tài trí của bao thế hệ người Việt Nam nhằm bảo tồn và phát triển ngôn ngữ dân tộc.
Như vậy, đối với việc đưa ra ý kiến không dùng từ Hán Việt như là một biện pháp để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là không cần thiết vì như thế sẽ làm hạn chế đi vốn từ phong phú của tiếng Việt. Ta có thể thay “phi cơ” bằng “máy bay”, nhưng đối với những từ như: tinh thần, viện kiểm sát, phong kiến…không thể có một từ nào khác tương đương để thay thế. Cần chấp nhận vai trò của từ Hán Việt như một bộ phận đã, đang tồn tại và sẽ tiếp tục phát triển góp phần vào sự phát triển chung của tiếng Việt. Điều đó đòi hỏi mỗi người Việt phải có một cách hiểu đúng đắn hơn về lớp từ Hán Việt, tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển từ Hán Việt, đi sâu tìm hiểu thực tế những thành quả ngôn ngữ văn hoá của cha ông đã để lại cho tiếng Việt.
Trên cơ sở đó, chúng ta sẽ tìm cách để phát triển từ Hán Việt theo hướng đúng đắn, góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Theo tác giả Đặng Đức Siêu trong quyển “Dạy và học từ Hán Việt ở trường phổ thông” thì từ Hán Việt là một thực thể vừa quen lại vừa lạ. Trước hết, quen là bởi vì cái vỏ ngữ âm đã được Việt hoá không còn xa lạ với ngữ cảm, cảm quan thính giác của người Việt. Tác giả cũng đã trích dẫn bản “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chủ Tịch để làm rõ cho điều này: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng.
Tạo hoá đã cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.” Từ đó tác giả chỉ ra rằng: những từ sinh, quyền, bình đẳng, tạo hoá, xâm phạm, địch, mưu cầu, hạnh phúc mà ta thấy rõ ràng là quen thuộc và có chiều sâu ý nghĩa hơn nhiều so với các từ mitting, bit-tết, ten-nít…và còn một số từ khác xét về cội nguồn cũng là từ gốc Hán nhưng vì chúng đã vào Việt Nam khá sớm và đã hoà nhập vào tiếng Việt nên khó nhận ra lai lịch như: cờ, xe, cô, cậu, buồng, vạn, triệu…những từ này còn gọi là từ Hán Việt Việt hoá còn một số từ khác dù có nghĩa sâu rộng như: quân vương, quân tử, tiểu nhân, thiên hạ… 8 nhưng gắn bó với lịch sử văn hoá xã hội Việt Nam ta từ xa xưa nên cũng quen thuộc trong tâm thức người Việt. Tiếp đến, cái lạ, theo tác giả chủ yếu do kết cấu ngữ nghĩa của từ Hán Việt. Những từ cứu cánh, bình sinh, toả chiếu… tuy cũng xuất hiện trong lời nói, văn bản nhưng có mấy ai hiểu hết được ý nghĩa của chúng. Vì vậy mới xảy ra hiện tượng hiểu sai nghĩa của từ Hán Việt hoặc là hiểu không thấu đáo nghĩa của nó, … Nguyên nhân chủ yếu đưa đến nhưng hiện tượng trên là do từ Hán vào Việt Nam rất sớm nhưng do nó qua nhiều giai đoạn khác nhau và bị chi phối bởi nhưng hoàn cảnh lịch sử xã hội khác nhau nên có sai biệt không đồng đều về số lượng, chất lượng, mức độ Việt hoá, … Những điều lý giải trên đây nhằm đưa đến kết luận rằng: để có thể hiểu và sử dụng từ Hán Việt một cách chuẩn xác thì nhất thiết phải xem nó là một bộ phận quan trọng gắn bó chặt chẽ trong suốt quá trình lịch sử với bản ngữ.
Theo ý kiến của các nhà ngôn ngữ học, từ Hán Việt được giải thích là từ Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các qui luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt, còn gọi là từ Việt gốc Hán. Có sự trùng khớp giữa khái niệm từ Hán Việt và từ Việt gốc Hán; tuy nhiên, cần khẳng định rằng, từ Hán Việt chỉ là một bộ phận của từ Việt gốc Hán tồn tại bên cạnh từ Tiền Hán Việt, Hán Việt Việt hoá v. Xem xét quá trình tiếp xúc ngôn ngữ văn hoá Hán - Việt ở nước ta có thể lí giải điều này. Do đặc điểm địa lý, lịch sử mà hai nước Việt Nam và Trung Hoa có quan hệ với nhau từ rất sớm.
Trong mối quan hệ đó có mối quan hệ về ngôn ngữ - văn hoá. Một thực tế mà ai cũng phải thừa nhận là giữa tiếng Việt và tiếng Hán có sự tiếp xúc từ rất sớm, vào khoảng 2000 năm về trước. Sự tiếp xúc này để lại nhiều dấu vết trong tiếng Việt hiện đại. Một số lượng khá lớn từ ngữ Hán thuộc nhiều nguồn khác nhau (Hán, Tạng, Miến, Ấn) đã du nhập vào tiếng Việt qua nhiều giai đoạn và với nhiều phương thức khác nhau.
Mặc dù, tiếng Hán và tiếng Việt không cùng một nguồn gốc. Tiếng Hán thuộc họ Hán - Tạng, tiếng Việt nằm trong nhánh Việt - Mường thuộc họ Nam Á. Thế nhưng chúng lại có ưu thế là cùng loại hình. Đây chính là một điều kiện thuận lợi cho sự tiếp xúc và vay mượn giữa hai ngôn ngữ.
Sự du nhập của tiếng Hán vào Việt Nam có lúc diễn ra chậm chạp nhưng có lúc lại diễn ra hết sức ồ ạt. Cũng có khi nó đã vào tiếng Việt rồi lại được biến đổi đi theo các sự biến đổi ngữ âm của tiếng Việt. Ngay từ đầu công nguyên, từ khi có sự đô hộ của phong kiến phương Bắc, tiếng Hán được truyền vào Giao Châu bằng nhiều con đường, chủ yếu là nhằm đồng hoá tiếng nói của dân tộc ta. Chúng đã thi hành hàng loạt những biện pháp từ trắng trợn đến tinh vi nhằm xoá bỏ ngôn ngữ, phong tục, tập quán, 9 truyền thống dân tộc ta, ép dân ta hoà đồng vào khối Đại Hán.
Song, với tinh thần yêu nước, dân tộc ta đẩy lùi được sự đồng hoá của chúng. Và vì thế, tiếng Việt đã có cơ sở vững vàng từ trước vẫn tiếp tục tồn tại. Dù vậy, người Việt vẫn mượn một số từ ngữ Hán để lấp vào những chỗ trống thiếu hụt trong tiếng Việt như buồng, muộn, đúc,… làm phong phú thêm nhưng không làm mất được bản sắc ngôn ngữ của mình. Có thể chia quá trình này làm hai giai đoạn: trước thế kỷ X và sau thế kỷ X.
Các từ Hán du nhập vào tiếng Việt vào thời kì trước được phát âm theo hệ thống ngữ âm Hán thượng cổ. Các từ này đã Việt hoá hoàn toàn, như: búa, buồm, đuổi, muỗi, đục, đũa, vua,… Tiếng Hán lúc này tồn tại với tư cách là một sinh ngữ. Vào khoảng thời nhà Đường người Hán đã mở nhiều trường học ở Giao Châu, các thư tịch Hán thuộc các loại kinh, sử, tử, tập được truyền bá rộng rãi. Giai đoạn này có thể nói là việc du nhập và phổ biến ngôn ngữ văn tự Hán đã được triển khai thuận lợi hơn nhưng không có nghĩa là do người Việt nô nức kéo nhau đến các trường học do chính quyền đô hộ đời Đường mở mà do nguyên nhân khác.
Ta biết rằng, trước đó thì một số thiền sư người Ấn Độ và người Hán cũng sang truyền giáo ở xứ Giao Châu, một số kinh phật cũng được truyền vào Giao Châu cùng với sự phổ biến các trước tác của Nho gia và Thiền gia. Lớp từ đông đảo này đã dần dà làm cho tiếng Việt tách khỏi tiếng Mường tạo thành hệ thống ngữ âm riêng. Sang thời tự chủ, thế kỷ X, khi âm Hán Việt đã hình thành thì lớp từ trên càng có điều kiện chuyển sang tiếng Việt nhiều hơn. Với nền độc lập tự chủ của mình, tiếng Hán và chữ Hán vẫn được các triều đại phong kiến Việt Nam tiếp tục sử dụng trong cơ quan hành chánh, trường học, khoa cử cũng như sáng tác văn chương nhưng lúc này tiếng Hán đã mất đi tính cách là một sinh ngữ.
Người Việt đọc chữ Hán theo cơ chế ngữ âm tiếng Việt đương thời nhưng vì đọc chữ Hán một cách có hệ thống nên âm đọc là âm phản chiếu của âm Hán đời Đường và khá sát với âm này. Quá trình này khơi màu từ thế kỉ X nhưng chắc chắn phải kéo dài hàng thế kỉ mới hoàn thiện hệ thống âm đọc Hán Việt. Trong lúc hệ thống Hán Việt ở Việt Nam vẫn giữ cách phát âm của thời kì nhà Đường thì ngay ở chính Trung Quốc diện mạo ngữ âm đã thay đổi dần để trở thành âm Hán hiện đại ngày nay.