Chương 1: Một số cơ sở lý luận có liên quan Chương 2: Khảo sát các dạng thức tỉnh lược trong các bài phóng sự trên báo Hoa học trò 2! Chương 3: Giá trị liên kết và ngữ nghĩa của các phát ngôn tỉnh lược Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN CÓ LIÊN QUAN 1. Khái niệm câu, phát ngôn, văn bản, diễn ngôn, ngữ trực thuộc (NTT) 1. Phát ngôn Lâu nay, người ta coi câu là đơn vị cao nhất, đơn vị thực hiện chức năng thông báo. Định nghĩa về câu được xác định theo 3 tiêu chí: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Có nghĩa hoàn chỉnh hoặc “tương đối” hoàn chỉnh (tiêu chí nội dung); - Được cấu tạo theo những mô hình nhất định với nòng cốt là cấu trúc Chủ - Vị (tiêu chí cấu trúc); - Có những dấu hiệu hình thức nhất định như ngữ điệu, dấu câu.
Một số tác giả có những cách gọi khác nhau. Beloshapkova [1977:182] nói đến cấu trúc ngữ nghĩa, tổ chức hình thức và tổ chức giao tiếp.Kochergina [1976:163-164] nói về tính độc lập giao tiếp, tính vị thể và tính tình thái. Tác giả Hoàng Trọng Phiến đề cập đến sự biểu hiện tư tưởng, sự trọn vẹn về ngữ pháp và hoàn chỉnh về ngữ điệu [Hoàng Trọng Phiến 1980:19]. Một số tác giả khác khi đề cập đến câu, chỉ nói đến hai dấu hiệu mặc dù họ đã nhập tiêu chí thứ nhất và thứ hai thành dấu hiệu ngữ nghĩa - cấu trúc (có khi gọi là “tính vị thể” [Vinogadov 1955:270], [Nguyễn Kim Thản 1964], hoặc nhập tiêu chí thứ hai và thứ ba thành một tiêu chí nói chung.
Vậy tại sao khi nói đến phát ngôn, các nhà nghiên cứu lại đề cập đến câu? Giữa câu và phát ngôn có mối quan hệ như thế nào? Quan điểm phổ biến, người ta coi phát ngôn là câu được hiện thực hoá trong ngữ cảnh, còn câu là thực thể trừu tượng. Dùng thuật ngữ phát ngôn là phù hợp hơn cả. Phát ngôn [ Phạm Văn Tình, Ngữ học trẻ 97: 95] là “một hoặc một chuỗi từ mà trong lời nói nó được giới hạn bằng hai quãng ngắt và trên chữ viết nó được giới hạn bằng hai dấu chấm hoặc các dấu tương đương”. Văn bản và diễn ngôn Trong thực tế, văn bản (text) và diễn ngôn (discours) là hai khái niệm có thể được sử dụng thay thế và phân biệt lẫn nhau.
Văn bản (text) gắn với các thuật ngữ liên kết văn bản, ngữ pháp văn bản, ngôn ngữ học văn bản,. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Diệp Quang Ban là người để tâm nghiên cứu vấn đề này. Ông đã dẫn chứng chi tiết những quan niệm khác nhau về văn bản như sau: L. Hjemslev (1953): “Văn bản được xét như một lớp phân chia được thành các khúc đoạn”.
Koch (1968): “Văn bản được hiểu ở bậc điển thể là phát ngôn bất kỳ có kết thúc và có liên kết, có tính chất độc lập và đúng về ngữ pháp”. Bather (1970): “Văn bản là một đoạn lời nói hữu tận bất kỳ, tạo thành một thể thống nhất xét từ phương diện nội dung, được truyền đạt cùng với những mục đích giao tiếp thứ cấp và có một tổ chức nội tại phù hợp với những mục đích này”. Dressler (1970): “Trong thời đại chúng ta mọi người thừa nhận rằng đơn vị cao nhất, ít lệ thuộc nhất không phải là câu mà là văn bản”.K Halliday (1960) nhấn mạnh: “Đơn vị cơ bản khi chúng ta sử dụng ngôn ngữ không phải là từ hay câu mà là văn bản”. Nghiên cứu về văn bản, H.
Harman đến năm 1965 đã cụ thể hơn ý tưởng của Halliday, tác giả cho rằng: “Các ký hiệu ngôn ngữ chỉ bộc lộ mình chừng nào chúng ta là những cái gắn bó với nhau trong văn bản. Mọi người dùng ngôn ngữ chỉ nói bằng các từ và bằng các câu, ít ra cũng bằng các câu làm thành từ các từ nằm trong văn bản”. Năm 1966, Wenrich lại bổ sung một nhân tố mới quan trọng trong quan niệm văn bản, đó là nhân tố tình huống: “Bình thường chúng ta không nói TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bằng các từ rời rạc mà bằng các câu và các văn bản, và lời nói của chúng ta xây dựng trên tình huống”. Chính vị trí quan trọng của văn bản mà nó trở thành đối tượng của ngôn ngữ học và là cơ sở thúc đẩy hình thành môn học mới trong ngôn ngữ học đó là ngôn ngữ học văn bản.
Vậy văn bản là gì và thực chất đối tượng của nó được thể hiện như thế nào? Tại sao khi nghiên cứu văn bản người ta lại đề cập đến thuật ngữ diễn ngôn? Trần Ngọc Thêm (1985): “Nói một cách chung nhất thì văn bản là một hệ thống mà tỏng đó các câu mới chỉ là các phần tử. Ngoài các câu - phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc. Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung. Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy”.
Ông khẳng định: “diễn ngôn mới là ký hiệu giao tiếp chứ không phải là câu” [Trần Ngọc Thêm 1985:11]. Và ông chứng minh “câu là các ký hiệu giao tiếp ở bậc cao nhất”, “Các lý luận ngôn ngữ học xây dựng trong khuôn khổ câu đã phải trả một giá đắt; chúng ngày càng bộc lộ những hạn chế và bất lực của mình trước những nhu cầu của lý luận và thực tiễn”. Do vậy việc chuyển đối tượng từ câu/ phát ngôn sang diễn ngôn chúng ta mới thấy rõ tính giao tiếp của ngôn ngữ. Đó là sự kết hợp của một loạt các yếu tố nội dung sự kiện, các tham tố cũng như là mối quan hệ giữa các tham tố trong sự tình đó và phương tiện được sử dụng để chuyển tải một nội dung nào đó sẽ mang lại các giá trị giao tiếp khác nhau.
Thuật ngữ diễn ngôn (còn được gọi là diễn từ, ngôn bản, ngôn phẩm) thường được hiểu là một chuỗi phát ngôn được hiện thực trong giao tiếp bằng lời. Trên cơ sở đó diễn ngôn còn là đối tượng nghiên cứu của lý thuyết hội TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Bởi vì nhân tố hội thoại và các nhân tố đơn thoại đã tham gia, hoà trộn vào nhiều văn bản. Beller (1971) cho rằng: “Diễn ngôn là chuỗi liên tục những phát ngôn S1,.Sn trong đó việc giải thuyết nghĩa của mỗi phát ngôn Si (với 2 ≤ i ≤ n) là thuộc vào sự giải thuyết những phát ngôn trong chuỗi S1,.
Nói cách khác sự giải thuyết thoả đáng một phát ngôn tham gia diễn ngôn đòi hỏi phải biết ngữ cảnh đi trước”. Crystal [1922:25] nhìn nhận diễn ngôn là “Một chuỗi ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) liên tục lớn hơn câu, thường tạo nên một đơn vị có mạch lạc” và “Văn bản là một đoạn diễn ngôn nói hay viết, hoặc thể hiện ở dạng ký hiệu, sử dụng tự nhiên, được xác định để phân tích”. Tuy nhiên, Crystal chưa phân biệt được sự khác nhau giữa hai khái niệm này. Tác giả Diệp Quang Ban trong nghiên cứu của mình đã khẳng định: “Đồng thời với quá trình đưa văn bản vào vị trí đối tượng của ngôn ngữ học và tiếp sau đó một loạt định nghĩa về văn bản đã xuất hiện.
Số lượng các định nghĩa đã nhanh chóng lớn lên đến mức không thể dễ dàng kiểm điểm được. Đằng sau các định nghĩa là các quan niệm, những cách hiểu khác nhau về đối tượng ngôn ngữ học mới mẻ này”. Đồng thời ở đây tác giả cũng toongrhowpj một cách ngắn gọn và khá đầy đủ các quan niệm khác nhau về văn bản được đề cập trong ngôn ngữ học bắt đầu từ L. Cuối cùng, tác giả giới thiệu định nghĩa trích ra trong một bách khoa thư gần đây nhất, nó được cho là có tính khái quát cao, bao gồm được nhiều quan niệm về văn bản cho đến nay.
Theo định nghĩa này thì “Văn bản: (1) Một quãng ngắt hay phát ngôn lớn hay nhỏ mà do cấu trúc, đề tài - chủ đề.của nó, hình thành nên một đơn vị, loại như truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường. (2) Văn học: trước hết được coi như một tài TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com liệu viết, thường đồng nghĩa với sách. (3) Trong phân tích diễn ngôn, đôi khi được đánh đồng với ngôn ngữ viết, còn diễn ngôn thì được dành cho ngôn ngữ nói hoặc diễn ngôn dùng bao gồm cả văn bản”. Thường thì trong những sản phẩm ngôn ngữ viết, và sản phẩm ngôn ngữ nói có mạch lạc nếu ở giai đoạn đầu (giai đoạn của “các ngữ pháp văn bản”) được gọi chung là văn bản.
Còn ở giai đoạn thứ hai (sau ngữ pháp văn bản) ứng với những năm 80, 90 của thế kỉ XX thì xu hướng dùng văn bản để chỉ sản phẩm ngôn ngữ viết, còn diễn ngôn chỉ sản phẩm ngôn ngữ nói. Hiện nay, diễn ngôn có xu hướng được dùng như tên gọi chung cho các sản phẩm ngôn ngữ nói và viết. Trong thực tế, sự phân biệt giữa văn bản và diễn ngôn không hề đơn giản, thậm chí để rõ ràng cần có những cách nhìn khác nữa coi văn bản là sản phẩm, diễn ngôn là quá trình (Brown & Jule (1983), Halliday (1985)). Câu và ngữ trực thuộc (NTT) Trong vấn đề nghiên cứu về câu đã có nhiều quan niệm khác nhau.
Các hướng nghiên cứu chính về vấn đề này có thể quy vào hai hướng chính sau đây: - Hướng định nghĩa câu dựa vào mặt nghĩa - Hướng định nghĩa theo quan điểm ngữ pháp duy lí, dựa vào hành động phát ngôn, mặt hình thức và hành động giao tiếp. Tuy nhiên, vào những năm cuối thế kỉ XX, các nhà ngữ pháp học đã nhận thấy những hạn chế của các nhà nghiên cứu khi định nghĩa về câu chỉ dựa vào một trong hai mặt quan trọng hoặc ý nghĩa hoặc hình thức. Chính vì vậy họ đã đi theo hướng nghiên cứu mới là nghiên cứu dựa vào cả hai tiêu chí là hình thức và ý nghĩa. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là: Diệp Quang TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ban, Lê Cận, Hồ Lê, Đỗ Thị Kim Liên, Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Kim Thản, Hoàng Văn Thung,.
Nguyễn Kim Thản, Hoàng Tuệ, Lê Xuân Thại, Diệp Quang Ban, Hoàng Trọng Phiến cho kết cấu chủ - vị là nòng cốt của câu. Diệp Quang Ban cho rằng: “Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp bên trong và bên ngoài tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói hoặc người truyền đạt tư tưởng, tỉnh cảm.