ĐẶT VẤN ĐỀ Ngành chăn nuôi hiện nay đóng góp vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành Nông nghiệp Việt Nam. Đặc biệt ngành chăn nuôi bò sữa đang phát triển mạnh về cả số lượng và chất lượng đàn bò, dần đáp ứng nhu cầu tiêu dùng sữa ngày càng tăng của người dân. Theo chủ trương và định hướng của Việt Nam dự kiến đến năm 2020 đạt khoảng 500 nghìn con bò sữa, trong đó chủ yếu là bò sữa cao sản. Tuy nhiên, bò càng cao sản bao nhiêu thì tỷ lệ bệnh buồng trứng cũng tăng lên bấy nhiêu, là do bò quá cao sản nên một phần progesterone đã bị thải qua sữa làm cho nồng độ progesterone trong máu không đủ, dẫn đến mất cân bằng hormone.
Một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất của bò sữa là động dục trở lại trong vòng một 100 ngày sau đẻ và chu kỳ động dục nhịp nhàng, đều đặn 21 ngày trên một chu kỳ động dục. Với bò như vậy thường động dục rất rõ ràng và khả năng thụ tinh có chửa cao và rút ngắn khoảng cách giữa hai lứa đẻ, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân. Tuy nhiên, theo Sử Thanh Long và cộng sự điều tra tại Ba Vì năm 2014 và Vĩnh Phúc năm 2015 thì chỉ 40-45% bò sữa sau đẻ có chu kỳ sinh lý bình thường, còn lại 55-60% thường động dục chậm, động dục không rõ ràng hoặc không động dục kéo dài dẫn đến bỏ lỡ nhiều chu kỳ và kéo dài khoảng cách giữa hai lứa đẻ gây ảnh hưởng lớn cho ngành chăn nuôi bò sữa. Từ những năm 70 của thế kỷ trước, progesterone được chứng minh là hormone có vai trò trọng tâm trong chu kỳ động dục ở động vật nói chung và ở bò sữa nói riêng.
Dựa vào đó, để khắc phục hiện tượng chậm động dục, rối loạn động dục, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu một số biện pháp cải thiện nồng độ progesterone huyết thanh trên bò sữa. Trước đây, người ta thường bổ sung bằng cách cho ăn progesterone, tuy nhiên lượng thức ăn bò thu nhận hàng ngày biến đổi nên không giám sát được hàm lượng progesterone đưa vào cơ thể. Sau đó họ đưa progesterone theo con đường tiêm, nhưng ở quy mô chăn nuôi công nghiệp, bác sỹ thú y hết sức vất vả, vì phải đi xuống trại bò hàng ngày để tiêm từng bò. Sau đó các nhà khoa học đã nghiên cứu viên progesterone cấy dưới da.
Nhưng thời điểm progesterone tan hết vào máu và xuất hiện động dục không cố định nên luôn phải theo dõi biểu hiện động dục trên bò. Sau này, người ta thiết kế ra vòng tẩm progesterone đặt âm đạo, kiểm soát thời gian sử dụng và thời điểm bò động dục. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thông thường, 24h sau khi rút vòng, hàm lượng progesterone huyết thanh giảm đột ngột làm cho bò có biểu hiện động dục rõ ràng, giúp chủ động thời điểm thụ tinh nhân tạo hoặc cấy phôi. Năm 1981, vòng tẩm progesterone nâng cao khả năng sinh sản bò sữa đầu tiên ra đời.
Năm 1986 xuất hiện vòng tẩm progesterone nâng cao khả năng sinh sản trên cừu và năm 1988 xuất hiện vòng tẩm trên dê. Và từ đó đến nay, chưa có một hình thức thay thế nào tốt hơn vòng tẩm progesterone đặt âm đạo góp phần nâng cao khả năng sinh sản cho gia súc nói chung và bò sữa nói riêng. Hiện tại trên thế giới xuất hiện nhiều loại vòng tẩm gồm vòng CIDR (Controlled Internal Drug Release) được làm bởi nhựa dẻo AHI tại Hamilton, New Zealand. Vòng PRID (Progesterone Releasing Intravaginal Device) tẩm 1,55gr progesterone và một viên nén có chứa Estradiol tại Pháp.
Vòng DIB (Bovine Intravaginal Device) thiết bị silicon trơ ngâm tẩm tại Argentina,… Đàn bò sữa Việt Nam đang sử dụng các sản phẩm vòng nhập khẩu này. Mặc dù, hệ thống phân phối rộng khắp nhưng giá thành mỗi vòng tẩm khá cao, giao động từ 250.000 đồng, đồng thời không chủ động vòng tẩm. Vì vậy, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Khảo sát hàm lượng progesterone và cortisol trong huyết thanh sau khi đặt vòng ProB vào âm đạo ở bò cắt buồng trứng”. Mục tiêu của đề tài Theo dõi sự biến thiên hàm lượng progesterone sau khi đặt vòng ProB.
Đánh giá mức độ ảnh hưởng của vòng ProB. Ý nghĩa của đề tài Giúp chúng ta chủ động được nguồn vòng tẩm progesteron để nâng cao khả năng sinh sản bò nói chung và bò sữa nói riêng ở Việt Nam. Đồng thời, giảm chi phí cho các trang trại trong nước. Nâng cao được năng lực nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. PROGESTERONE VÀ ỨNG DỤNG TRONG SINH SẢN 2. Vai trò của progesterone Với các kết quả nghiên cứu hiện nay về progesterone, chúng ta có thể thấy rõ vai trò của hormone này thể hiện theo hai hướng.
Hướng thứ nhất: Tác động tới cơ quan sinh dục Đối với buồng trứng: Với liều lượng thấp (mới bắt đầu phân tiết) nó kích thích sự phát triển của thể vàng, liều lượng cao sẽ gây thoái hoá nang trứng và ức chế sự rụng trứng. Ngoài ra, progesterone còn được xem là nhân tố quan trọng trong quá trình rụng trứng. Dưới ảnh hưởng của LH nồng độ cao trước thời kỳ rụng trứng, sự tạo thành progesterone có tác dụng làm tăng hoạt tính của enzyme phá vỡ thành bao noãn và cùng với estrogen phát triển tập tính sinh dục ở con cái (Homeida, 2002). Đối với tử cung, progesterone có tác dụng giảm tính mẫn cảm co bóp của nội mạc tử cung thông qua cơ chế ức chế các men oxy hoá như glucuronidaza, photphataza và anhydraza, vì vậy nó được coi là loại hormone an thai.
Theo Hammond et al. (1975), dưới tác dụng của progesterone, biểu mô nội mạc tử cung tăng lên, chứa nhiều nguyên liệu để hình thành chất tiết, các tuyến tử cung của nội mạc tử cung bắt đầu lớn lên, trở thành uốn khúc và tăng tiết dịch, dịch tiết này là nguồn dinh dưỡng chủ yếu nuôi phôi cho đến khi làm tổ. Đối với tuyến vú, progesterone kích thích sự hình thành các tiểu thùy và các túi (bao) tuyến của bầu vú, chuẩn bị cho tiết sữa. Hướng thứ hai: Tác động ngược trở lại hypothalamus và tuyến yên nhằm kích thích hoặc ức chế tiết các hormone sinh dục (cơ chế điều hòa ngược - feedback).
Tiết progesterone là chức năng chủ yếu của thể vàng, tuy nhiên có quan điểm cho rằng sự tạo thành thể vàng và tiết progesterone là do prolactin (PRL) giữ vai trò chính. Một số công trình nghiên cứu hiện nay đã chứng minh rằng việc kiểm soát sự chế tiết progesterone ngoài thời kỳ mang thai được đảm nhiệm bởi những luteotrophin có nguồn gốc từ tuyến yên (LH, PRL) và một số chất có vai trò phân 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giải lutein đã được xác định rõ là PGF2α. Ngoài ra ở một số loài, estradiol cũng là một yếu tố luteotrophin (Cù Xuân Dần và Lê Khắc Thận, 1985). Cùng với quan điểm này, nhiều tác giả cho rằng PRL kích thích và duy trì sự có mặt của các thể tiếp nhận LH trên tế bào lutein.
Sự có mặt của LH thông qua các thể nhận này có vai trò ức chế sự dị hoá của progesterone thành 20α dihydro progesterone (Nguyễn Tấn Anh và Nguyễn Duy Hoan, 1998). Vai trò của LH trong điều hoà phân tiết progesterone Ở phần lớn các loài động vật, LH cần thiết cho việc duy trì sự chế tiết bình thường của progesterone tại thể vàng. Khi mới bắt đầu phân tiết, nồng độ progesterone trong máu tăng dần có tác dụng kích thích trung khu sinh dục vùng dưới đồi hypothalamus tăng tiết các yếu tố giải phóng LRF. LRF kích thích tuyến yên tiết FSH và LH thông qua hệ thống “thông tin thứ hai” là inositol triphosphat (InsP3 hay IP3) và Diacylglycerol hay diglycerid (DAG hay DG) (Cù Xuân Dần và Lê Khắc Thận, 1985).
InsP3 và DAG là hệ thống thông tin thứ hai đối với các hormone giải phóng (GnRH), là các thông tin nội bào được hình thành từ phosphatydin inositol 4-5 diphosphat (PIP2) sau khi đã thuỷ phân phospholipaza C (PLC), một loại phospholipid màng tế bào có bản chất là enzyme Cơ chế tác dụng: Khi có mặt của hormone GnRH, nó gắn với thể nhận trên bề mặt tế bào tạo thành phức hợp Hormone - Thể nhận (H-R), cụ thể: GnRH - Thể nhận. Tín hiệu từ phức hợp này thông qua protein kích hoạt trung gian thứ ba có tên là protein G đến và hoạt hóa phospholipaza C. Protein G được tạo thành bởi sự kết hợp giữa protein và guanylnucleotid, có khối lượng phân tử 42.000 Dalton và có khả năng kết hợp với guanosine triphosphate (GTP) và guanosine diphosphate (GDP) (Nguyễn Xuân Tịnh và cs. Phospholipaza C thuỷ phân tạo ra InsP3 và DAG.
Đây chính là thông tin thứ hai trong cơ chế tác dụng của hormone protein. DAG hoạt hoá proteinkinaza C làm tăng ái lực của proteinkinaza C với ion 2+ Ca. Mặt khác proteinkinaza C được hoạt hoá sẽ phosphryl hóa những protein đặc hiệu trong tế bào làm thay đổi hoạt động xúc tác của những protein này. Một trong những hoạt động của các protein này là tham gia vận chuyển FSH và LH ra ngoài tế bào (Nguyễn Xuân Tịnh và cs.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Còn InsP3 kết hợp với thể nhận ở màng lưới nội nguyên sinh chất kích thích sự giải phóng ion Ca2+ vào bào tương. Nồng độ Ca2+ trong bào tương tăng sẽ hoạt hóa proteinkinaza C. Sau khi gắn vào thể nhận đặc hiệu của nó ở màng tế bào, LH kích thích sự hoạt hóa của men adenyl cyclaza, kích thích sự tổng hợp AMP vòng (cAMP). Một trong những “thông tin thứ hai” là cAMP, có vai trò hết sức quan trọng trong cơ chế tác động của LH (thuộc nhóm hormone protein).
Sự tăng nồng độ của nó ở trong bào tương sẽ làm thay đổi nhiều quá trình hoạt động của enzyme trong tế bào đồng thời làm thay đổi sự thẩm thấu của màng tế bào, gây co giãn cơ. Theo Nguyễn Xuân Tịnh và cs. (1996) hệ thống Adenylat cyclaza (AC) là cơ chế dẫn truyền thần kinh phổ biến đối với hormone protein (trong đó có LH) và các chất dẫn truyền thần kinh của tế bào. Hệ thống này bao gồm protein Adenylat cyclaza có bản chất là một protein màng.
Khi hệ thống này được kích hoạt sẽ kích thích sự tạo thành cAMP, còn khi bị ức chế, quá trình này sẽ ngừng lại. Hệ thống này được Sutherland tìm ra năm 1950 khi nghiên cứu tác dụng của adrenalin tới sự phân hủy glycogen thành glucoza ở tế bào gan. cAMP sau khi được tạo thành sẽ hoạt hoá một loại proteinkinaza trong tế bào (còn gọi là proteinkinaza A), giải phóng ra các tiểu đơn vị điều hoà.