Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình sản xuất hoa kiếng trên thế giới và ở Việt Nam 1.2 Tình hình sản xuất hoa kiếng trên thế giới Ngày nay, việc sản xuất hoa không chỉ dừng lại với mục đích giải trí mà đó là một ngành thương mại chất lượng cao. Sản xuất hoa đang mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế các nước trồng hoa và cây kiếng. Về tình hình xuất khẩu, sản xuất hoa toàn cầu trong tháng 10 năm 2017 tăng 2%. Trong đó xuất khẩu hoa sang Nga tăng trưởng mạnh.
Với mức tăng trưởng 40%. Sản lượng hoa xuất khâu sang Ba Lan va Cộng Hòa Séc cũng tăng đáng ké. Trong khi đó, sản lượng hoa nhập khẩu sang Đức vẫn đang tiếp tục giảm với sự suy giảm gần 4%, do nhu cầu về hoa ở đây đang giảm (Tạp chí Việt Nam Hương sắc, 2018). Năm 2017 tiếp tục sự đánh dấu sự thống trị của ngành sản xuất, xuất khẩu hoa từ Hà Lan trên thị trường hoa thế giới, doanh thu từ việc xuất khâu hoa cây cảnh của Hà Lan chỉ tính đến tháng 11tháng.
Tăng lên chủ yếu nhờ sự phục hồi của hoa cắt cành. Giá thành hoa cắt nhánh năm 2017 giảm đáng ké so với năm 2016 nhưng không quá thấp so với mức giá trung bình trong 5 năm qua. Điều này xảy ra do sản lượng của loại hoa cắt cành như hoa đồng tiền, hoa ly, hoa cúc năm 2016 bị sụt giảm nghiêm trong. Dẫn đến giá trị thành hoa cắt nhánh năm 2016 cao hơn trung bình các năm (Tạp chí Việt Nam Hương sắc, 2018).
Tổng diện tích trồng hoa, cây cảnh thế giới khoảng 609. Trong đó, Châu A — Thái Binh Dương trồng 452. Trung Đông là vùng có diện tích trồng hoa ít nhất 3.940 ha, chiếm 0,64% tổng diện tích trồng hoa thé giới. Trong số các châu lục, các nước Châu Âu có gia tri xuất khẩu hoa cắt cành cao nhất trong năm 2016 với các lô hàng lên đến 4 tỷ đô la Mỹ chiếm 52,3%.
Giá trị xuất khẩu toàn cầu các nước Châu Mỹ la tinh (trừ Mexico) và Caribea chiếm 28,4%, tiếp theo là các nước châu Phi ở mức 10,5%; các nhà cung cấp ở Châu Á là 7% và Bắc Mỹ là 1,5%. Hà Lan luôn là trung tâm của thị trường hoa thế giới. Sản lượng hoa xuất khẩu của Hà Lan chiếm gần 50% sản lượng hoa cắt cảnh trên toàn thế giới (Tap chí Việt Nam Hương sắc, 2018).000 ha trồng Hoa chiếm 60% diện tích trồng hoa thế giới nhưng diện tích trồng hoa thương mại nhỏ. Tỷ lệ thị trường hoa chiếm 20% thị trường hoa thế giới, nguyên nhân là do các nước Châu á có phần lớn diện tích trồng hoa trong điều kiện tự nhiên và chủ yếu phục vụ cho nhu cầu nội địa (Đào Thanh Vân, 2007 và Đặng Thị Tổ Nga, 2007).
Các loại hoa được trồng ở Châu A chủ yếu là giống hoa có nguồn gốc nhiệt đới và ôn đới. Nhóm giống hoa có nguồn góc nhiệt đới và ôn đới gồm các loại như hoa lan, hoa đồng tiền. Nhóm có nguồn gốc từ ôn đới như hoa hồng, cúc, lay ơn. Đặc biệt, Hoa lan là sản phẩm hoa nhiệt đới, là đặc sản của hoa Châu Á được thị trường Châu Âu và Châu Mỹ rất ưa chuộng (Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga, 2007).3 Tình hình sản xuất hoa kiếng ở Việt Nam Trong những năm qua, sự đầu tư vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh hoa, cây cảnh của các doanh nghiệp đã giúp ngành này phát triển một cách nhanh chóng, từ đó sản lượng và chất lượng hoa, cây cảnh của Việt Nam đã được nâng cao rất nhiều, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động và quan trọng là định hướng cho ngành hoa, cây cảnh của Việt Nam đi theo hướng sản xuất hàng hoá, tuân thủ những quy trình công nghệ và quản lý chất lượng sản phẩm như những ngành công nghiệp khác (Đặng Văn Đông và Nguyễn Văn Tỉnh, 2021).
Theo số liệu điều tra, năm 2021 nước có khoảng 45.000 ha hoa, cây cảnh, thu nhập bình quân trên cả nước là 520 triệu đồng/ha/năm. Như vậy, so với năm 2000, diện tích hoa, cây cảnh năm 2020 đã tăng 6,6 lần, giá trị sản lượng tăng 27,5 lần (đạt 23.400 tỷ đồng, trong đó xuất khâu xấp xi 80 triệu USD), mức tăng giá tri thu nhập/ha là 2,1 lần (đã có nhiều mô hình đạt 1,5 ty đến 2,5 tỷ đồng/ha/năm). Tốc độ tăng trưởng nay là rất cao so với các ngành nông nghiệp khác (Đặng Văn Đông và Nguyễn Văn Tỉnh, 2021). Nguồn cung cấp hoa tươi của Việt Nam khá d6i dào, nhu cầu thị trường rat lớn.
Năm 2016 Việt Nam xuất khẩu hoa tươi tới 23 nước trên thế giới. Trong 7 tháng đầu năm 2016 thị phần mặt hàng hoa cắt cành và nụ hoa làm bó hoặc để trang trí của 4 Việt Nam tại Nhật Ban chiếm 8,9% ty trọng đứng ở vị trí thứ 5 sau các nước Columbia, Malaysia, Trung Quốc và Đài Loan tuy nhiên tốc độ tăng trưởng cao nhấtlà 11,3% so với 7 tháng năm 2015 đạt 15,42 triệu USD. Tính riêng tháng 7/2016, Việt Nam trở thành nguồn cung mặt hang sản pham hoa lớn thứ 4 đạt 2,41 triệu USD tăng 12,3% so với tháng trước với tăng 17 8% so với tháng 7/2015 (Phạm Thị Minh Tâm, Nguyễn Phạm Hồng Lan, 2017). Năm 2010, Hoa cắt cành các loại là một trong những điểm mạnh của các nhà xuất khẩu hoa Việt Nam trong những năm gan đây đã thu được một lượng ngoại tệ đáng kê cho quốc gia.
Mở rộng diện tích sản xuất trồng hoa của cả nước đạt 8000 ha với san lượng 4,5 tỷ cành trong đó mục tiêu xuất khẩu I tỉ cành hoa, trị giá trên 60 triệu USD tương đương với Hà Lan. Trong đó Đà Lạt là nơi sản xuất hoa lớn nhất cả nước. Đó là thông điệp của Bộ Thương mại đưa ra từ chiến lược phát triển hoa xuất khâu (Tình hình sản xuất và tiêu thu hoa tươi Việt Nam,2010). Bốn vùng trồng hoa và cây kiếng chính ở Việt Nam bao gồm: -Vùng Đồng bằng sông Hồng: tập trung ở các tỉnh Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Hưng Yên.
Vùng này sản xuất các loại cây hoa cắt nhánh như hoa hồng (35%), hoa cúc (30%), hoa đồng tiền (10%). -Vùng cao nguyên Lâm Đồng: tập trung ở Thành phố Đà Lạt và các huyện phụ cận như Đơn Dương, Đức Trọng.Đây là nơi sản xuất nhiều chủng loại hoa như hoa hồng, hoa cúc, địa lan, lily. với năng suất và chất lượng cao. -Vùng Đông Nam Bộ: tập trung ở Thành phó Hồ Chi Minh và các vùng phụ cận như Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu.
Đây là thị trường lớn về tiêu thụ và xuất khẩu các sản phẩm hoa va cây kiểng như hồng, cúc, phong lan. -Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: tập trung ở các tỉnh Bến Tre, Đồng Tháp với việc sản xuất hoa trồng chậu như hoa cúc, hoa sứ, Dạ yên thảo. và các loại lá cắt nhánh (Phạm Thị Minh Tâm, Nguyễn Phạm Hồng Lan, 2017). Sản xuất hoa, cây cảnh đã được mở rộng ra hầu khắp các tỉnh thành trong cả nước, một số vùng tuy mới đưa vào trồng nhưng rất có tiềm năng phát triển như: Văn Giang (Hưng Yên), Mộc Châu (Xơn La), Sa Pa (Lào Can), An Dương (Hải Phòng), Hai Hậu (Nam Định), Dan Phượng (Hà Nội), Thái Bình, Hà Nam, Đức Trọng (Đà Lat), Củ Chi (TP.
Hồ Chí Minh). Hầu hết ở những vùng mới này có quy mô tương đối lớn (từ 50 - 200 ha), 5 được đầu tư các loại hoa, cây cảnh mới và quy trình kỹ thuật tiên tiến, nên năng suất và thu nhập/đơn vị diện tích cao hơn những vùng truyền thống từ 3 - 5 lần (Đặng Văn Đông, 2021).2 Giới thiệu về cây Dạ yên thảo 1.1 Phân loại và nguồn gốc Theo Wikipedia (2023), cây hoa Dạ yên thảo được phân loại như sau: Giới Thực vật (Plantea), ngành Thực vật hạt kín (Magnoliophyta), lớp hai lá mầm (Magnoliopsida), bộ Solanales, họ ca Solanaceae, chi Petunia, loài Hybrida, tên khoa hoc Petunia hybryda, tên tiéng anh Petunia multiflora, Petunia và tên tiếng việt là Da Yên thao. Dạ yên thảo (Petunia hybrida) có nguồn gốc từ Petunia wholerifolia va Petunia axillaris, hai trong số nhiều loài Petunia đặc hữu của Nam Mỹ. Sự phân bố địa lý bao gồm các vùng ôn đới và cận nhiệt đới cua Argentina, Uruguay, Paraguay, Bolivia và Brazil, với trung tâm là sự đa dạng ở miền nam Brazil (Stehmann và cs, 2009).
Cây hoa Dạ yên thảo đầu tiên được lai tạo vào năm 1834 bởi Alkins ở Northampton, một nghiên cứu giống cây trồng người Anh và nó nhanh chóng lan sang các khu vườn Châu Âu (Sink, 1984). Ngày nay nó được trồng khắp nơi trên thế giới là một trong những ho cây thuộc họ ca Solanaceae quan trọng nhất được sử dụng làm cảnh. Cây được phát triển và nhân rộng bởi vẻ đẹp bắt mắt và màu sắc hoa rực rở chiếm được lòng người ngay từ cái nhìn đầu tiên.2 Đặc điểm thực vật học 1.1 Thân Cây hoa Dạ yên thảo có thân leo hoặc thân bụi, là cây hàng năm. Phần lớn Dạ yên thảo chúng ta trồng ngày nay là đã được lai tạo từ Petunia axillaris, Petunia violacea, Petunia inflate và được chia làm 3 kiểu cây: Dạ yên thảo kép: Cây thân leo, hoa lớn với nhiều lớp cánh (Grandiflora), đường kính của hoa có thé đến 13cm.
Dạ yên thảo don: Cay thân bụi, hoa chỉ có một lớp hoa (multiflora) nhưng lại có rất nhiều hoa đường kính của hoa từ 5 - 7,5 cm, dé trồng và rất it ảnh hưởng bởi sâu bọ (dẫn theo Nguyễn Văn Khoa, 2021).2 Lá Lá đơn có hình bầu dục, mọc vòng, hai mặt lá có màu xanh lục tương tự nhau, mặt trên và dưới biểu bì lá có lớp lông min (dẫn theo Nguyễn Thị Ai Hà, 2010).3 Hoa Hoa Dạ yên thảo có 3 loại: hoa lớn, hoa trung, hoa nhỏ. Với kích thước và sỐ lượng hoa trên cây mà mỗi loại hoa Dạ yên thảo có cách trồng khác nhau. Hoa có hình phéu và được lai tạo lại với rất nhiều dạng. Cánh hoa có thê một lớp hay nhiều lớp cánh, cánh hoa có dạng gợn sóng.
Hoa có thé có sọc đốm hoặc viền quanh cánh. Hoa có nhiều màu sắc khác nhau như đỏ tia, màu hoa cà, màu oai hương, hồng đỏ, trắng và vàng. Hoa mọc đơn độc từ các nách lá, mỗi nách lá cho từ 1 - 2 hoa. Mỗi hoa gồm có cuống hoa, lá đài, lá bắc, ống hoa, chuông hoa, ống nhị đực, bầu nhụy cái (dẫn theo Nguyễn Thị Ai Hà, 2010).3 Điều kiện sinh thái và dinh dưỡng hoa Dạ Yên thảo 1.1 Điều kiện sinh thái Theo Công ty TNHH Hạt Giống Hoa Việt Nam (2022), có những ảnh hưởng của điều kiện sinh thái cụ thể như sau: 1.