phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, luận án bao gồm bốn chƣơng với nội dung đƣợc tóm tắt nhƣ sau: Chƣơng 1 của luận án đề cập đến tổng quan tình hình nghiên cứu về thuật ngữ nói chung và TNTC Anh - Việt nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam, có thống kê các công trình từ điển tài chính Anh - Việt với các nhận xét và đánh giá chung. Chƣơng 2 của luận án tập trung vào cơ sở lý luận về thuật ngữ, về ngôn ngữ học đối chiếu, về dịch thuật, mối quan hệ và ứng dụng của ngôn ngữ học đối chiếu với lý luận và thực tiễn dịch thuật. Luận án xác định cơ sở lý luận về ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu chuyển dịch để giải quyết nhiệm vụ của luận án. Chƣơng 3 của luận án đi sâu nghiên cứu phân tích đối chiếu chuyển dịch hai hệ TNTC Anh - Việt cấp độ từ.
Chƣơng 4 của luận án đi sâu nghiên cứu phân tích đối chiếu chuyển dịch hai hệ TNTC Anh - Việt cấp độ ngữ định danh. Phần kết luận của luận án cung cấp ý tƣởng chính, số liệu và ý nghĩa của những phát hiện từ nghiên cứu, đóng góp tri thức, khoa học, thực tiễn và khả năng ứng dụng trong nghiên cứu và giảng dạy về TNTC Anh - Việt. Phần cuối của luận án là danh sách tài liệu tham khảo và các phụ lục cuối gồm: Phụ lục 1 là từ điển tài chính Anh - Việt hoàn chỉnh với các TNTC Anh - Việt đƣợc dịch bằng phƣơng pháp chuyển di, phiên âm và giữ nguyên dạng nhƣng ngoại trừ thuật ngữ tiếng Việt đƣợc dịch từ tiếng Anh bằng hình thức định nghĩa hay giải thích. Cách dịch sang tiếng Việt đầu tiên đƣợc lựa chọn làm ngữ liệu đối chiếu cấu tạo.
Trong trƣờng hợp có những cách dịch khác, thì cách dịch đó đƣợc ghi sau dấu phảy và trong ngoặc đơn để không trùng lặp với cách dịch đầu tiên. Nếu có cách dịch đề xuất, thì cách dịch đề xuất đƣợc ghi trong ngoặc vuông, ở cuối cùng, ví dụ: ex-rights: chưa đủ quyền [cổ phiếu không kèm đặc quyền]; Phụ lục 2 là từ điển tài chính Việt –Anh dùng làm ngữ liệu đối chiếu cấu tạo từ và ngữ; Phụ lục 3 là các TNTC tiếng Anh là các thuật ngữ đƣợc dịch bằng hình thức giải thích, định nghĩa hoặc các danh pháp. Các thuật ngữ này đã bị loại khỏi dữ liệu khảo sát, và có đề xuất dịch với các trƣờng hợp dịch giải thích hay định nghĩa. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUẬT NGỮ TÀI CHÍNH ANH - VIỆT DẪN NHẬP Hoạt động tài chính và nghiên cứu đào tạo về tài chính (hay nói cách khác là khoa học về tài chính ở Việt Nam) đã đƣợc xây dựng, định hình và phát triển cùng với sự phát triển kinh tế của đất nƣớc.
Trong quá trình xây dựng và phát triển nhƣ một ngành khoa học, có một bộ phận vừa là công cụ, vừa đồng thời là tri thức giúp phát triển giáo dục và quảng bá ngành tài chính là thuật ngữ. Trong các nguồn tiếp nhận xây dựng thuật ngữ, có một nguồn rất quan trọng và hiện nay đang ngày một phát triển là thuật ngữ từ tiếng Anh thông qua con đƣờng dịch thuật. Trong chƣơng này, luận án tóm lƣợc tình hình nghiên cứu về thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam nói chung, trong đó tập trung về thuật ngữ đối dịch giữa các ngôn ngữ nói chung và cụ thể là TNTC đối dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt nói riêng với các thống kê về công trình từ điển tài chính Anh - Việt và các nhận xét, đánh giá chung, tình hình nghiên cứu đối chiếu chuyển dịch. SƠ LƢỢC TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUẬT NGỮ TRÊN THẾ GIỚI Trên thế giới, thuật ngữ học - một bộ môn liên quan đến việc nghiên cứu và thu thập các thuật ngữ chuyên dụng không phải là một lĩnh vực nghiên cứu mới, nhƣng chỉ trong những thập niên gần đây bộ môn này mới đƣợc nghiên cứu một cách có hệ thống và đƣợc tiếp cận một cách thực sự khoa học và chính danh.
Mặc dầu việc hệ thống hóa thuật ngữ và địa vị khoa học của thuật ngữ học là những vấn đề thời sự gần đây, nhƣng thực ra các hoạt động trong lĩnh vực này đƣợc bắt đầu từ trƣớc đó rất lâu. Các nghiên cứu trong lĩnh vực hóa học của Lavoisier và Berthollet hay các nghiên cứu trong thực vật học và sinh vật học của Linne trong thế kỉ XVIII đã cho thấy nhu cầu về loại từ vựng khoa học chuyên ngành để diễn đạt các kiến thức chuyên môn sâu là rất cần thiết. Nhu cầu này càng đƣợc khẳng 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định với sự gia tăng tính chất quốc tế của khoa học trong thế kỷ XIX và trở thành đề tài chính thức của nhiều hội nghị khoa học chuyên ngành: hội nghị của các nhà thực vật học năm 1867, hội nghị của các nhà sinh vật học năm 1889, hội nghị của các nhà hóa học năm 1892… Nếu ở thế kỷ XVIII và XIX, các nhà khoa học là những ngƣời đi đầu trong lĩnh vực thuật ngữ thì thế kỷ XX là thời kì của các kỹ sƣ và các nhà kỹ thuật. Những tên tuổi lớn trong lĩnh vực thuật ngữ học thời kì này đều xuất phát từ lĩnh vực kĩ thuật nhƣ Wuster, Lotte,.
Theo Cabré (1999) [110, tr.5-6] thuật ngữ học hiện đại có bốn giai đoạn phát triển cơ bản: a - Giai đoạn hình thành (1930 - 1960) b - Giai đoạn xác lập các chuyên ngành, lĩnh vực (1960 - 1975) c - Giai đoạn bùng nổ (1975 - 1985) d - Giai đoạn mở rộng (1985 đến nay) Theo Cabré (1999), giai đoạn sơ khởi của việc phát triển nghiên cứu thuật ngữ (1930 – 1960) đƣợc đặc trƣng bởi sự xác lập các phƣơng pháp đối với việc hình thành hệ thống các thuật ngữ [110]. Ngƣời sáng lập của thuật ngữ học hiện đại, đại diện tiêu biểu của Trƣờng phái thuật ngữ học Viên là Wuster (1898 – 1977), cùng với Lotte (1889 – 1950), cha đẻ của Trƣờng phái thuật ngữ học Xô Viết là những ngƣời đã đƣa ra những cơ sở lý thuyết đầu tiên cho chuyên ngành này. Trƣớc Wuster là A.Schloman (ngƣời Đức) – ngƣời đầu tiên xem xét bản chất hệ thống của các thuật ngữ, và F. de Saussure (ngƣời Thụy Sỹ) – ngƣời đầu tiên chỉ ra bản chất hệ thống của ngôn ngữ, là E.
Dresen (ngƣời Nga) – ngƣời đi tiên phong trong việc khẳng định tầm quan trọng của việc chuẩn hóa thuật ngữ, và là J. Holmstrom (ngƣời Anh) - ngƣời đƣợc coi nhƣ một nhân vật có công lớn trong việc quảng bá các thuật ngữ trên quy mô quốc tế từ tổ chức UNESCO và cũng là ngƣời đầu tiên kêu gọi thành lập một tổ chức quốc tế để giải quyết vấn đề này. Trong giai đoạn phát triển thứ hai (1960 – 1975), đổi mới quan trọng nhất trong thuật ngữ học bắt nguồn từ sự phát triển của máy vi tính có bộ nhớ dung lƣợng lớn và các kỹ thuật thu thập và lƣu trữ tƣ liệu. Đồng thời, ngân hàng dữ liệu 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đầu tiên cũng xuất hiện, và công việc điều phối trên cấp độ quốc tế các nguyên tắc của công việc xử lý thuật ngữ học cũng bắt đầu.
Trong giai đoạn này các đƣờng hƣớng tiếp cận đầu tiên cũng đƣợc đƣa ra nhằm chuẩn hóa thuật ngữ học trong ngôn ngữ. Giai đoạn phát triển thứ ba (1975 - 1985), giai đoạn bùng nổ đƣợc đánh dấu bằng sự gia tăng các chính sách hoạch định ngôn ngữ và thuật ngữ học với những ví dụ điển hình là các chính sách ngôn ngữ ở Liên Xô và Israel. Tầm quan trọng của thuật ngữ học trong công cuộc xây dựng ngôn ngữ đã trở nên rõ ràng trong giai đoạn này. Trong giai đoạn mở rộng (1985 đến nay), khoa học công nghệ máy tính là một trong những xung lực quan trọng nhất đứng đằng sau những thay đổi trong thuật ngữ học.
Về mặt lý thuyết, thuật ngữ học có ba trƣờng phái - đó là các trƣờng phái Áo, trƣờng phái Xô viết và trƣờng phái Czech – tƣơng ứng với ba đƣờng hƣớng tiếp cận với thuật ngữ: - Đƣờng hƣớng thứ nhất cho rằng thuật ngữ học là một bộ môn khoa học liên ngành nhƣng là một thực thể độc lập trong việc hỗ trợ, phục vụ cho các bộ môn khoa học và kỹ thuật khác. - Đƣờng hƣớng thứ hai tập trung vào nội dung triết học, quan tâm trƣớc hết đến sự phân loại mang tính lô-gic của các hệ thống khái niệm và tính tổ chức của tri thức. Từ những thập niên 60, 70 của thế kỷ XX, các nhà ngôn ngữ học Xô viết đã có những nghiên cứu khá đa dạng và những đóng góp đáng kể về các khía cạnh của thuật ngữ. - Đƣờng hƣớng thứ ba tập trung vào nội dung ngữ dụng học, nhìn nhận thuật ngữ học nhƣ một cấu phần nhỏ của vốn từ vựng ngôn ngữ và nhìn nhận các ngôn ngữ nhƣ những tiểu hệ thống của ngôn ngữ nói chung.
Lý thuyết đại cƣơng về thuật ngữ học đƣợc đặt căn bản trên đƣờng hƣớng tiếp cận thứ nhất: tập trung vào hƣớng đi từ quan niệm tới thuật ngữ đã khu biệt các phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong thuật ngữ học với các phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong từ điển học. Mục đích của các nhà thuật ngữ học là tạo ra các thuật ngữ cho 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các quan niệm, tức là họ đi từ quan niệm đến thuật ngữ (quá trình lô-gic định danh). Trái lại, các nhà biên soạn từ điển lại bắt đầu từ - đơn vị từ - các mục từ trong từ điển – và miêu tả nó chủ yếu trên bình diện chức năng và ngữ nghĩa; tức là họ đi từ đơn vị từ - đến quan niệm, đúng theo đƣờng hƣớng ngƣợc lại (quá trình lô-gic định nghĩa). Đây là quan điểm mà ngày nay coi nhƣ một đƣờng hƣớng tiếp cận lý thuyết mang tính nhất quán cao, khác biệt hẳn so với lý thuyết về từ vựng - từ điển học trên ba phƣơng diện: 1- ƣu tiên đặt khái niệm lên trƣớc việc tạo ra thuật ngữ; 2 – chỉ duy nhất quan tâm tới cấp độ của đơn vị thuật ngữ chứ không quan tâm tới các cấp độ khác của việc miêu tả ngôn ngữ; 3 – loại bỏ mọi đƣờng hƣớng tiếp cận hay thông tin nào mang tính lịch đại.
Thuật ngữ học gắn kết chặt chẽ với các chuyên ngành hẹp, chuyên biệt. Thuật ngữ học không phải là mục đích tự nó.