Chương 1: Cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài. Ở chương này, chúng tôi trình bày quan điểm của các tác giả về từ và từ trong tiếng Việt, phương thức cấu tạo từ tiếng Việt, nghĩa của từ và các cách giải nghĩa từ. Đồng thời trình bày về các căn cứ giải nghĩa từ trong sách giáo khoa Tiếng Việt cấp Tiểu học. Chương 2: Kết quả khảo sát định lượng cách giải nghĩa từ ghép trong sách giáo khoa Tiếng Việt cấp Tiểu học.
Chương này chúng tôi trình bày kết quả khảo sát định lượng cách giải nghĩa từ ghép phân nghĩa và từ ghép hợp nghĩa sau mỗi bài Tập đọc trong sách Tiếng Việt từ lớp 2 đến lớp 5. Sau đó, chúng tôi tiến hành so sánh để tìm ra những điểm giống và khác nhau trong cách giải 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghĩa từ ghép ở sách giáo khoa Tiếng Việt cấp Tiểu học với cách giải nghĩa từ ghép ở từ điển tường giải. Chương 3: Các cách giải nghĩa từ ghép trong sách giáo khoa Tiếng Việt cấp Tiểu học. Trong chương này, chúng tôi sẽ tiến hành nhận xét, phân tích những điểm hợp lí, chưa hợp lí (chung nhất) của việc giải nghĩa từ sau mỗi bài đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt cấp Tiểu học.
Sau đó, chúng tôi đánh giá những ưu điểm và hạn chế của từng cách giải nghĩa. Và cuối cùng là đưa ra một số đề xuất về cách giải nghĩa từ cho học sinh ở từng khối lớp của cấp Tiểu học. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Vài nét sơ lƣợc về từ trong tiếng Việt Tiếng Việt thuộc hệ ngôn ngữ phân tích tính (hay ngôn ngữ đơn lập tính), được nói trong sự phân biệt với các ngôn ngữ thuộc hệ ngôn ngữ tổng hợp tính (hay ngôn ngữ đa âm).
Đặc tính lớn nhất của ngôn ngữ đơn lập (như tiếng Việt, tiếng Hán, tiếng Thái,…) là tính không biến đổi hình thái của từ trong phát ngôn/ câu khi nói/ viết. Do đó, toàn bộ các quan hệ ngữ pháp, ý nghĩa ngữ pháp của từ trong câu không được thể hiện qua hình thái của từ (vì từ không biến đổi hình thái), mà qua hư từ và qua trật tự từ trong phát ngôn/ câu. Mặt khác, hầu hết âm tiết (hay tiếng là thành tố cấu tạo từ) trong tiếng Việt đều có nghĩa và có chức năng khu biệt nghĩa và chúng được viết rời trong các từ đa tiết nên chúng được nhiều nhà Việt ngữ học coi là hình vị tạo từ. Ivanov đã nói, sự khác nhau giữa các ngôn ngữ về mặt loại hình khiến cho không thể có một định nghĩa từ cụ thể thoả mãn tất cả các ngôn ngữ và trong mỗi nhóm ngôn ngữ và có thể cả trong từng ngôn ngữ từ phải có một định nghĩa riêng.
Vậy, từ trong tiếng Việt có diện mạo như thế nào hay được quan niệm và miêu tả ra sao? Hiện các nhà Việt ngữ trong và ngoài nước có những quan niệm khác nhau về từ, song chưa có một quan niệm nào đủ thuyết phục đối với người đọc, cả về cơ sở lí thuyết lẫn thực tiễn cấu trúc và hành chức của tiếng Việt, trừ những quan niệm của Nguyễn Kim Thản và cố gắng chưa hoàn hảo của Đỗ Hữu Châu nhằm thoát ra khỏi những cách kiến giải nhập nhằng, luẩn quẩn của Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Thiện Giáp và một vài nhà nghiên cứu khác,… Riêng Cao Xuân Hạo thì khá nhất quán và dứt khoát trong lập luận về từ trong tiếng Việt, nhưng cái cách thuyết giải của ông lại khó vận dụng vào thực tế hoạt động của từ tiếng Việt một cách suôn sẻ. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Tài Cẩn cho rằng chỉ những tiếng độc lập mới được coi là từ. Theo ông, tiếng với tiếng kết hợp lại với nhau được gọi chung là tổ hợp. Trong đó, có tổ hợp tự do (bàn tròn, học bài, gió thổi,…) và tổ hợp cố định (bù nhìn, cà phê, đất đai,…).
Dựa vào mặt cấu tạo từ, Nguyễn Tài Cẩn phân biệt từ đơn và từ ghép: từ đơn chỉ gồm một tiếng; từ ghép ít nhất do hai tiếng kết hợp với nhau theo một loại quan hệ nhất định. Quan niệm về “từ ghép” của ông không giống với nhiều nhà Việt ngữ khác. Từ ghép mà Nguyễn Tài Cẩn nói tới là một loại tổ hợp cố định, bao gồm cả những từ đa âm như: cà phê, axít, bù nhìn, châu chấu,… Nếu Nguyễn Tài Cẩn dựa vào tiêu chuẩn độc lập/ không độc lập để phân biệt tiếng độc lập với tiếng không độc lập và chỉ coi từ là những tiếng độc lập, thì Cao Xuân Hạo lại coi mỗi tiếng là một từ. Như thế, theo quan điểm của Cao Xuân Hạo thì âm tiết trùng với hình vị và trùng với cả từ.
Chính vì thế mà người ta nói đến hiện tượng “một thể ba ngôi” trong tiếng Việt. Nguyễn Kim Thản cho rằng từ là những đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ. Ông định nghĩa từ như sau: “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách khỏi các đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và cấu tạo” [22; tr. Trong khi đó, Đỗ Hữu Châu lại đưa ra một định nghĩa khác “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [4; tr.
Hồ Lê thì định nghĩa về từ như sau: “Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về nghĩa” [14; tr. Nguyễn Thiện Giáp thì cho rằng chỉ những tiếng như: bàn, ghế, đi, cười, tốt, đẹp,… mới được coi là từ, những đơn vị từ vựng do tiếng kết hợp với 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiếng mà thành như: xe đạp, máy tiện,… không coi là từ. Để có được kết luận đó, ông đã căn cứ vào nhiều mặt của từ như: mặt ngữ âm, mặt chính tả, mặt ngữ pháp, mặt ngữ nghĩa. Từ đó, Nguyễn Thiện Giáp định nghĩa về từ như sau: “Từ tiếng Việt là đơn vị có nghĩa nhỏ nhất, có tính hoàn chỉnh và khả năng tách biệt khỏi các đơn vị khác; nó có hình thức một âm tiết, một chữ viết liền” [10; tr.
Từ những phân tích đặc điểm cấu tạo và hoạt động của từ trong tiếng Việt, chúng tôi cho rằng: Từ tiếng Việt là đơn vị cơ bản, có sẵn hoặc được tạo ra từ các đơn vị có sẵn, đơn nhất về hình thức và ý nghĩa, có thể độc lập thực hiện chức năng định danh (khi là yếu tố tiềm tàng trong hệ thống ngôn ngữ) và có tính độc lập, kết hợp tự do khi thực hiện chức năng thông báo và chức năng làm thành phần câu (khi là các yếu tố của hệ thống hành chức của ngôn ngữ). Để làm căn cứ cho luận văn, chúng tôi tạm thời chấp nhận định nghĩa sau đây về từ tiếng Việt: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [3; tr. Đơn vị cấu tạo và phƣơng thức cấu tạo từ trong tiếng Việt 1. Đơn vị cấu tạo Có nhiều quan niệm khác nhau về đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt.
Đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt có thể là các tiếng/ âm tiết/ hình vị,… tuỳ theo cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ. Chẳng hạn, Nguyễn Tài Cẩn cho rằng, tiếng là đơn vị cấu tạo từ, mỗi một tiếng “chính là một đơn vị gốc – một hình vị của ngữ pháp tiếng Việt” [1; tr. Về phương diện ý nghĩa, tiếng có thể chia thành hai loại: tiếng tự thân có nghĩa (cây, cỏ, sông, núi,…) và tiếng tự thân vô nghĩa (chã, khứa, khựa,…). Về phương diện cách dùng, có thể chia thành tiếng độc lập và tiếng không độc lập.
Vũ Đức 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghiệu cũng cùng quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn khi cho rằng “đơn vị cơ sở để cấu tạo từ tiếng Việt là các tiếng” [2; tr. Trong khi đó, Nguyễn Thiện Giáp lại cho rằng, trong tiếng Việt, mỗi từ là một âm tiết. Và Đỗ Hữu Châu thì cho rằng, đơn vị cơ sở để cấu tạo từ là các hình vị. Cùng với quan điểm của Đỗ Hữu Châu về đơn vị cấu tạo của từ, tác giả Hữu Đạt cũng cho rằng “xét về mặt cấu tạo, từ là đơn vị được hình thành nhờ việc kết hợp các hình vị lại với nhau” [6; tr.
Trong luận văn, chúng tôi dựa vào quan điểm của Đỗ Hữu Châu về đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt là các hình vị. Nó là những yếu tố không thể phân chia thành những yếu tố nhỏ hơn nữa mà có nghĩa. Phương thức cấu tạo Đỗ Hữu Châu cho rằng, phương thức tạo từ chính là cách thức mà ngôn ngữ tác động vào hình vị để cho ra các từ. Với cách thức đó, tiếng Việt sử dụng ba phương thức: từ hoá hình vị, ghép hình vị và láy hình vị để cấu tạo từ [4; tr.
Như vậy, về mặt cấu tạo, từ tiếng Việt được chia thành: Từ đơn → Phương thức từ hoá Từ phức: Từ láy → Phương thức láy Từ ghép → Phương thức ghép * Từ đơn Từ đơn là những từ một hình vị. Về mặt ngữ nghĩa, các từ đơn không lập thành những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung. Chúng ta lĩnh hội và ghi nhớ từng từ riêng rẽ. Đa số các từ đơn thuần Việt hay đã Việt hoá là từ đơn một âm tiết.
Ví dụ: sông, núi, vui, buồn,… Với những đặc trưng ngữ nghĩa đó, chúng sẽ được dùng để cấu tạo hàng loạt từ phức. Xét trên quan điểm đồng đại, có một số từ đa âm thuần Việt, trong đó các âm tiết đều không có nghĩa/ hoặc mất nghĩa như: bù nhìn, bồ các, chèo bẻo, 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ác là, mắc cọt, mồ hôi, bồ hóng, mà cả,… cũng có thể được coi là từ đơn (thực ra những từ này xét theo nguồn gốc chưa hẳn là từ đơn). Có thể trước kia chúng là từ phức (bù/ bồ: con, cả (mặc cả): giá), song hiện nay cả hai hình vị đều mất nghĩa.