CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Kỹ năng Nói và kỹ năng Nói tiếng Trung Quốc Kỹ năng Nói từ lâu đã được nhận định là một trong những kỹ năng quan trọng nhất trong quá trình học tập và sử dụng ngôn ngữ của người học. Các khái niệm, định nghĩa và đặc điểm của kỹ năng Nói trong ngôn ngữ được phản ánh đa dạng thông qua các góc nhìn và thái độ khác nhau của các nhà ngôn ngữ học và các nhà nghiên cứu. Thêm vào đó, tầm quan trọng và vai trò của kỹ năng Nói cũng được quan tâm và chú trọng trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay.
Tuy vậy, do những nhân tố khách quan và chủ quan đã tạo ra những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến năng lực khẩu ngữ của người học. Vậy nên việc tham khảo tiêu chí đánh giá năng lực khẩu ngữ từ Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc và HSKK giúp người học có định hướng chính xác. Định nghĩa và tầm quan trọng của kỹ năng Nói Toàn cầu hóa hay hội nhập quốc tế giờ đây đang là một trong những xu hướng chủ đạo nổi bật của xã hội đương đại, do đó, việc sở hữu năng lực ngoại ngữ, đặc biệt là năng lực khẩu ngữ để có thể sử dụng và giao tiếp trong học tập, công việc và đời sống dần trở thành một tiêu chí quan trọng ảnh hưởng đến thành công của cá nhân. Như đã được đề cập, tiếng Trung Quốc là ngôn ngữ chính của hơn 1 tỉ người bản ngữ và đứng thứ hai trong danh sách ngôn ngữ được nhiều người sử dụng nhất (theo Eberhard, 2022), càng khiến năng lực khẩu ngữ ngôn ngữ này trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Định nghĩa của kỹ năng Nói được đề cập trong nhiều nghiên cứu ngôn ngữ học như là một trong những kỹ năng quan trọng nhất của quá trình học tập và rèn luyện ngôn ngữ của người học. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh rằng kỹ năng Nói có vị trí quan trọng trong cả hai lĩnh vực xã hội học và ngôn ngữ học của con người, đây là kỹ năng thiết yếu giúp con người xây dựng và thể hiện được ý chí của bản thân trong cộng đồng xã hội và trong giao tiếp cụ thể giữa người với người. Ngay từ những năm 80 của thế kỷ trước, kỹ năng Nói đã được Bygate (1987) nhìn nhận và đánh giá như là một phương tiện của (a) sự đoàn kết xã hội thông qua việc kỹ năng Nói tạo dựng nên sự giao tiếp, liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các cá thể trong xã hội; (b) sự xếp hạng xã hội trong việc phân chia các thứ hạng giai cấp trong xã hội, 5 Báo cáo Tổng kết Nghiên cứu Khoa học 2021 Nguyễn Hà Thảo Ngân và cuối cùng là (c) sự thăng tiến và triển vọng phát triển nghề nghiệp. Có thể thấy, những giá trị xã hội của kỹ năng Nói hay quá trình giao tiếp đối với mỗi cá nhân là không thể hạn định, giúp mỗi chúng ta thể hiện và phát triển khả năng, tiềm lực của bản thân trong xã hội nói chung, đặc biệt trong cộng đồng người quanh ta.
Mặt khác, trong lĩnh vực ngôn ngữ học, kỹ năng Nói không chỉ đơn thuần là sự kết hợp âm thanh một các có hệ thống để tạo thành câu có nghĩa (khi xét theo khía cạnh ngữ âm - âm vị) mà còn nhằm mục đích truyền tải những ý muốn, thông điệp cụ thể với đối phương và thể hiện bản thân. Đối với hai nhà nghiên cứu Widdowson (1990) và Brown (2001) thì kỹ năng nói được khái quát bao gồm cả hai khía cạnh cụ thể là hình thức và ý nghĩa, tức kỹ năng ngôn ngữ này không chỉ bao gồm sự chính xác trong việc phát âm các từ và ngữ điệu của câu của ngôn ngữ, mà còn là sự phù hợp khi lựa chọn các lối diễn đạt để truyền đạt chính xác ý muốn của người nói. Nunan (1995) nhận định rằng hành động Nói, tựu chung lại, nhằm phục vụ cho ba mục đích chính là giao tiếp trao đổi, trình bày yêu cầu và phát biểu ý kiến. Hay Baker & Westrup (2003) cho rằng kỹ năng Nói là kỹ năng yêu cầu mỗi người tạo ra lời nói và cách diễn đạt của riêng mình để xây dựng quan điểm và thể hiện ý kiến của bản thân hơn là chỉ máy móc rập khuôn lặp lại những câu nói sáo rỗng, mô típ của người khác.
Thông qua việc phát âm đúng, lựa chọn từ ngữ phù hợp và diễn đạt tinh tế, kỹ năng Nói là một kỹ năng thiết yếu trong giao tiếp, giúp mỗi người trao đổi thông tin, thể hiện ý muốn nhu cầu của bản thân và biểu đạt quan điểm góc nhìn với các vấn đề trong cuộc sống. Tầm quan trọng của kỹ năng Nói trong quá trình học tập ngôn ngữ là không thể phủ nhận khi theo Burnkart (1998), một lượng đáng kể người học coi việc thông thạo ngôn ngữ để giao tiếp với người khác quan trọng hơn khả năng đọc hoặc viết ngôn ngữ đó. Họ tập trung vào khả năng hiểu và được hiểu bởi đối tượng giao tiếp thông qua việc vận dụng thuần thục và hiệu quả kỹ năng nói. Và hơn thế nữa, họ đánh giá thành tích, thành quả học tập của bản thân và người học khác dựa trên mức độ thành thạo của kỹ năng Nói và sự đánh giá về năng lực khẩu ngữ.
Tương tự, Boonkit (2010) kết luận rằng đối với bất kỳ ngôn ngữ nào trên thế giới thì kỹ năng Nói đều là một trong bốn kĩ năng chủ yếu và cần thiết cho việc giao tiếp hiệu quả, đặc biệt là khi người nói không sử dụng tiếng mẹ đẻ của bản thân (tức ngôn ngữ thứ nhât, mà sử dụng ngoại ngữ). Efrizal (2012) 6 Báo cáo Tổng kết Nghiên cứu Khoa học 2021 Nguyễn Hà Thảo Ngân cũng đồng quan điểm khi cho rằng việc sở hữu năng lực khẩu ngữ tốt có ý nghĩa rất lớn trong sự tương tác giữa người với người khi đến thực tế cuộc sống rằng mọi người hầu như giao tiếp, trò chuyện, trao đổi với nhau mọi lúc mọi nơi. Kỹ năng Nói cũng được Imane (2015) đánh giá là kĩ năng nhận được nhiều sự ưu tiên từ người học hơn bởi vì bản thân nó chính là phương tiện linh hoạt nhất, thuận lợi nhất và hiệu quả nhất cho việc diễn đạt, bộc lộ ý nghĩ, quan điểm của bản thân. Thông qua định nghĩa và tầm quan trọng của kỹ năng Nói, các nhà giáo dục học như Hedge (2000), Brown (2001), Hughes (2002), Thornbury (2005) và Mazouzi (2013) tổng kết các khía cạnh cơ bản của kỹ năng Nói ngôn ngữ như sau: Khía cạnh cơ bản của kỹ năng Nói ngôn ngữ 1.
Tính lưu loát: là khả năng nói với tốc độ, 4. Ngữ pháp: là khả năng sử dụng chính xác độ chính xác và cách diễn đạt phù hợp. và đa dạng các cấu trúc ngữ nghĩa, thể hiện 2. Tính mạch lạc: là khải năng liên kết các ý qua độ dài và độ phức tạp của câu nói để diễn tưởng và ngôn ngữ với nhau để tạo thành lời đạt ý nghĩ của bản thân người nói.
nói mạch lạc, hợp lý và kết nối chặt chẽ. Phát âm: là khả năng diễn đạt đúng các âm 3. Từ vựng: là khả năng sử dụng và diễn đạt trong hệ thống ngữ âm - âm vị ngôn ngữ. chính xác ý nghĩa và thái độ của người nói 6.
Tính chính xác: là khả năng biếu đạt đúng dựa trên sự đa dạng và phù hợp của ngôn từ. các thông tin và nội dung khi nói. Bảng 1: Khía cạnh cơ bản của kỹ năng Nói ngôn ngữ Nhìn chung, Hedge (2000), Hughes (2002) và Mazouzi (2013) đều kết luận rằng kỹ năng Nói của người học nên được đánh giá dựa trên sự kết hợp nhuần nguyễn giữa hai yếu tố cơ bản là tính trôi chảy (bằng cách kết nối các từ và cụm từ, phát âm rõ ràng và sử dụng đúng trọng âm, ngữ điệu và đặc biệt là biến điệu trong ngôn ngữ tiếng Trung) và độ chính xác (về cấu trúc ngữ pháp, từ vựng và cách phát âm). Như vậy, để rèn luyện và phát triển kỹ năng Nói, người học cần có nền tảng kiến thức cơ bản về hệ thống ngữ âm - âm vị, hệ thống từ vựng và các cấu trúc ngữ pháp nhất định cũng như luyện tập nói để đạt được tính chính xác, lưu loát và mạch lạc trong cách diễn đạt ngôn từ và kết nối các thông tin, ý tưởng hợp lý và liền mạch.
7 Báo cáo Tổng kết Nghiên cứu Khoa học 2021 Nguyễn Hà Thảo Ngân 1. Nhân tố ảnh hưởng đến kỹ năng Nói tiếng Trung Quốc Trong tiến trình rèn luyện kỹ năng Nói, người học chịu những ảnh hưởng tác động nhất định từ các nhân tố khách quan và chủ quan. Do đó, việc tổng hợp và nhận định các nhân tố này có vai trò đáng kể trong tiến trình nâng cao năng lực khẩu ngữ. Nhân tố khách quan là những nhân tố ngoại lai, xuất phát từ yếu tố môi trường, điều kiện học tập ngoại ngữ của người học hay những khó khăn tự thân bản chất của ngôn ngữ đó, tạo ra những thách thức đến quá trình học tập ngôn ngữ của học viên.
Nhân tố được nhắc đến đầu tiên chắc hẳn chính là (1) Môi trường CFL (Chinese as a foreign language) hay còn được gọi là Tiếng Trung Quốc như ngoại ngữ theo ngôn ngữ học thuật ngôn ngữ học. Đây là môi trường mà người học tiếng Trung sống ở những khu vực, vùng lãnh thổ hay quốc gia không sử dụng tiếng Trung như ngôn ngữ thứ nhất (tiếng mẹ đẻ) hay thứ hai chính thức. Chính vì lẽ đó, môi trường học tập này đã thu hẹp cơ hội giao tiếp và sử dụng tiếng Trung của học viên, mà như Baker & Westrup (2003) đã khái quát thành ba vấn đề chính mà người học phải đối mặt là: ─ Không bao giờ nghe ngôn ngữ đó từ ai khác ngoại trừ giáo viên, giảng viên; ─ Không bao giờ đọc ngôn ngữ từ các nguồn khác ngoại trừ trong giáo trình; ─ Không bao giờ sử dụng ngôn ngữ trong môi trường khác ngoại trừ lớp học. Tuy rằng với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ và sự phổ biến của các thiết bị điện tử thông minh như máy tính cá nhân hay điện thoại thông minh, mức độ hạn chế tuyệt đối (“Không bao giờ”) đã được cải thiện, song vẫn là một trong những rào cản quan trọng trong tiến trình học tập ngôn ngữ tiếng Trung Quốc.
Một nhân tố khách quan phổ biến nhất và gần như mặc định trong quan niệm của các nhà ngôn ngữ học và người học ngoại ngữ chính là (2) Độ khó của Hán tự và thanh điệu tiếng Trung Quốc.