Khóa luận tốt nghiệp bệnh học thủy sản khảo sát ảnh hưởng của việc bổ sung enzyme phytase và xylanase trong thức ăn lên tăng trưởng hiệu quả sử dụng thức ăn và thành phần sinh hóa của cá tra pangasianodon hypophthalmus sauvage 1878

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp bệnh học thủy sản khảo sát ảnh hưởng của việc bổ sung enzyme phytase và xylanase trong, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Bệnh Học Thủy Sản

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2018-2022

60
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Sơ lược về cá tra

1.2. Đặc điểm hình thái, phân bố và nguồn gốc

1.3. Đặc điểm dinh dưỡng

1.4. Đặc điểm sinh sản

1.5. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cá tra ở Việt Nam

1.6. Enzyme phytase

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm nghiên cứu

2.2. Dụng cụ và hóa chất

2.3. Thiết kế thí nghiệm

2.4. Các chỉ tiêu môi trường theo dõi

2.5. Các chỉ tiêu theo dõi cá thí nghiệm

2.6. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Các chỉ tiêu môi trường

3.2. Thành phần sinh hóa của thức ăn thí nghiệm

3.3. Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm

3.4. Tăng trưởng của cá thí nghiệm

3.5. Hiệu quả sử dụng thức ăn của cá

3.6. Hệ số gan – thể trọng (HIS) và mỡ – thể trọng (AIS) của cá

3.7. Thành phần sinh hóa nguyên con cá sau thí nghiệm

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Ảnh Hưởng Của Enzyme Phytase Và Xylanase

Nghiên cứu về enzyme phytaseenzyme xylanase đã trở thành một chủ đề quan trọng trong ngành nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là trong việc cải thiện tăng trưởng cá tra. Các enzyme này có khả năng phân giải các hợp chất dinh dưỡng trong thức ăn, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và giảm thiểu chi phí sản xuất. Việc bổ sung enzyme vào thức ăn không chỉ giúp tăng trưởng mà còn cải thiện thành phần sinh hóa của cá tra, một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm thủy sản.

1.1. Đặc Điểm Của Enzyme Phytase Trong Nuôi Trồng Thủy Sản

Enzyme phytase có khả năng thủy phân phytate, giải phóng phospho hữu dụng cho cá. Nghiên cứu cho thấy, việc bổ sung enzyme này vào thức ăn giúp tăng cường khả năng tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng, từ đó thúc đẩy sự phát triển của cá tra.

1.2. Vai Trò Của Enzyme Xylanase Trong Thức Ăn Cho Cá

Enzyme xylanase giúp phân giải các polysaccharide không tinh bột, cải thiện khả năng tiêu hóa thức ăn có nguồn gốc thực vật. Sự bổ sung enzyme này không chỉ tăng cường hiệu quả sử dụng thức ăn mà còn giảm thiểu các chất kháng dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của cá tra.

II. Vấn Đề Trong Việc Sử Dụng Thức Ăn Có Nguồn Gốc Thực Vật

Mặc dù thức ăn có nguồn gốc thực vật rẻ và dễ tiếp cận, nhưng chúng thường chứa các chất kháng dinh dưỡng như phytate và NSP (non-starch polysaccharide). Những chất này làm giảm khả năng tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng của cá tra, dẫn đến hiệu quả tăng trưởng không cao. Việc nghiên cứu và ứng dụng enzyme vào thức ăn là cần thiết để khắc phục vấn đề này.

2.1. Các Chất Kháng Dinh Dưỡng Trong Thức Ăn Thực Vật

Các chất kháng dinh dưỡng như phytate và NSP gây cản trở quá trình tiêu hóa, làm giảm khả năng hấp thu các khoáng chất cần thiết cho sự phát triển của cá tra. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất và kinh tế cho người nuôi.

2.2. Tác Động Của Chất Kháng Dinh Dưỡng Đến Tăng Trưởng Cá Tra

Sự hiện diện của các chất kháng dinh dưỡng trong thức ăn có thể dẫn đến tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng, làm giảm tốc độ tăng trưởng và sức khỏe của cá tra. Việc bổ sung enzyme phytase và xylanase có thể giúp cải thiện tình trạng này.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Enzyme Đến Tăng Trưởng Cá Tra

Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp thí nghiệm ngẫu nhiên với nhiều nghiệm thức khác nhau. Mỗi nghiệm thức được lặp lại nhiều lần để đảm bảo tính chính xác của kết quả. Các chỉ tiêu như tăng trọng, hiệu quả sử dụng thức ăn và thành phần sinh hóa của cá tra được theo dõi và phân tích kỹ lưỡng.

3.1. Thiết Kế Thí Nghiệm Và Nghiệm Thức

Nghiên cứu được thiết kế với 4 nghiệm thức khác nhau, trong đó có nghiệm thức bổ sung enzyme phytase và xylanase. Mỗi nghiệm thức được lặp lại 4 lần để đảm bảo độ tin cậy của dữ liệu thu thập.

3.2. Các Chỉ Tiêu Đánh Giá Hiệu Quả Sử Dụng Thức Ăn

Các chỉ tiêu như tăng trọng, hệ số biến đổi thức ăn (FCR) và thành phần sinh hóa của cá được sử dụng để đánh giá hiệu quả của việc bổ sung enzyme vào thức ăn. Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các nghiệm thức.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Ảnh Hưởng Của Enzyme Đến Cá Tra

Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc bổ sung enzyme phytase và xylanase vào thức ăn giúp cải thiện đáng kể hiệu quả sử dụng thức ăn và tăng trưởng của cá tra. Hệ số biến đổi thức ăn ở nghiệm thức có bổ sung enzyme thấp hơn so với nghiệm thức không có enzyme, cho thấy sự hiệu quả trong việc tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng.

4.1. Tăng Trọng Và Tốc Độ Tăng Trưởng Của Cá Tra

Kết quả cho thấy, cá tra được cho ăn thức ăn có bổ sung enzyme có tốc độ tăng trưởng cao hơn so với cá trong nghiệm thức không có enzyme. Điều này chứng tỏ enzyme có tác động tích cực đến sự phát triển của cá.

4.2. Hiệu Quả Sử Dụng Thức Ăn Của Cá Tra

Hệ số biến đổi thức ăn (FCR) ở nghiệm thức có bổ sung enzyme thấp hơn, cho thấy cá tra tiêu hóa và sử dụng thức ăn hiệu quả hơn. Điều này không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nuôi.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Nghiên Cứu Về Enzyme Trong Nuôi Cá Tra

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc bổ sung enzyme phytase và xylanase vào thức ăn cho cá tra có tác động tích cực đến tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn. Tương lai của nghiên cứu này có thể mở ra hướng đi mới trong việc phát triển thức ăn thủy sản, giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Enzyme Trong Ngành Nuôi Trồng Thủy Sản

Việc ứng dụng enzyme trong thức ăn không chỉ giúp cải thiện tăng trưởng mà còn giảm thiểu chi phí sản xuất. Điều này có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh cho ngành nuôi trồng thủy sản.

5.2. Hướng Nghiên Cứu Tương Lai Về Enzyme Trong Thức Ăn Cho Cá

Cần tiếp tục nghiên cứu để tối ưu hóa liều lượng và loại enzyme phù hợp nhất cho từng loại thức ăn và từng giai đoạn phát triển của cá tra. Điều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm thủy sản.

10/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp bệnh học thủy sản khảo sát ảnh hưởng của việc bổ sung enzyme phytase và xylanase trong thức ăn lên tăng trưởng hiệu quả sử dụng thức ăn và thành phần sinh hóa của cá tra pangasianodon hypophthalmus sauvage 1878

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Sơ lược về cá tra 1.1 Phân loại Hệ thống phân loại của cá tra được xác định như sau: Ngành: Animalia Linnaeus, 1758 Lớp: Actinoptery gi Huxley, 1880 — Ray — finned fishes Bộ: Siluriformes Họ: Pangasidae Bleeker, 1858 Giống: Pangasius Valenciennes in Cuvier and Valenciennes, 1840 Loai: Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878) Các đồng danh của loài cá tra: ° Helicophagus hypophthalmus Sauvage, 1878 ° Pangasius hypophthalmus (Sauvage, 1878) Nguồn: hitp://www. Đặc điểm hình thai Theo mô tả của Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) thì loài cá tra có thân thon dai, phan sau hẹp bên, lưng có màu xám đen va bụng mau trắng bạc. Cơ quan đường bên hoàn toàn va phân nhánh, bat đầu từ mép trên của lỗ mang đến điểm giữa của gốc vi đuôi. Mặt sau của vi lưng, vi ngực có răng cưa hướng xuống gốc vi.

Vi bụng của cá kéo dài chạm tới khởi điểm của gốc vi hậu môn. Đầu cá rộng, hẹp bang, mom ngắn, khi nhìn từ trên xuống chót mdm tròn. Khi quan sát, thấy miệng cá rộng ngang, có hình vòng cung nằm trên mặt phẳng ngang. Cá tra có răng nhỏ, mịn, răng vòm miệng chia thành 4 đám nhỏ, mỏng nằm trên đường vòng cung.

Lỗ mũi sau của cá gần lỗ mũi trước hơn mắt và nằm trên đường thắng kẻ từ lỗ mũi trước đến cạnh trên của mắt. Cá tra có hai đôi râu, râu mép kéo dài chưa chạm đến gốc vi ngực, râu cẦm ngắn hơn. Đặc điểm phân bố và nguồn gốc Cá tra Pangasianodon hypophthalmus có nguồn gốc từ lưu vực sông Mekong, bao gồm các nước Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam (Nguyễn Văn Thường, 2000). Tuy nhiên, cá tra cũng đã được du nhập vào các quốc gia khác như Indonesia, Malaysia, Bangladesh, Trung Quốc, An Độ, Myanmar (FAO, 2010-2011) với mục đích phát triển ngành nuôi trồng thủy sản ở các quốc gia này.

Ở Việt Nam, cá tra là loài cá nuôi truyền thống trong ao ở các tỉnh thuộc ĐBSCL và chúng được tìm thấy ở các vùng lưu vực sông Mekong, nhiều nhất là ở các sông rach, ao đầm của sông Tiên, sông Hậu hay cả sông Hong và các sông ở miền Trung Việt Nam. Ngoài ra, do cá tra có cơ quan hô hấp phụ bằng bóng khí và da nên chúng có khả năng sống tốt trong điều kiện ao tù nước đọng, nhiều min bã hữu cơ, oxy hòa tan thấp và cá có thé được nuôi với mật độ rất cao. Theo Bộ NN&PTNT năm 2014 thì các thông số chất lượng nước thích hợp cho sự phát triển của cá tra như sau: hàm lượng oxy hòa tan (DO) > 2 mg/L, pH dao động từ 7-9, NH3 < 0,3 mg/L và nhiệt độ dao động từ 25 — 32 °C. Đặc điểm dinh dưỡng Cá tra sau khi nở tiêu hết noãn hoàng thì chúng sẽ bắt đầu ăn thức ăn tươi sống, di động bên ngoài môi trường, nếu không được cung cấp thức ăn day đủ thì chúng sẽ ăn thịt lẫn nhau ngay cả trong bề ấp.

Cau trúc dạ dày của cá tra phình to, hình chữ U, co giãn được, ruột cá ngắn, không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục. Cá tra là loài cá ăn tạp thiên về động vật (Rainboth, 1996). Trong tự nhiên cá tra ăn mùn bã hữu cơ, rễ cây thủy sinh, rau quả, tôm tép, cua, côn trùng, Ốc và cá. Cá tra nuôi trong ao sử dụng các loại thức ăn khác nhau như cá tạp, thức ăn viên, cám,.

Thức ăn có nguồn gốc từ động vật hoặc hàm lượng đạm cao sẽ giúp cá lớn nhanh (Dương Nhựt Long và c?. Nghiên cứu của Lê Thanh Hùng, 2000 thì cá tra bột khi ăn trùn chỉ cho tỉ lệ sống cao và sinh trưởng của cá tốt nhất. Phân tích thành phần thức ăn trong ruột cá tra ngoài tự nhiên gồm có nhuyễn thẻ, côn trùng, giáp xác (Phạm Văn Khánh, 2000).1: Thành phan thức ăn trong ruột cá tra phân bé ngoài tự nhiên (Phạm Văn Khánh, 2000) Loại thức ăn Tỷ lệ (%) Nhuyễn thê 35,4 Cá nhỏ 31,8 Côn trùng 18,2 Thực vật thượng đẳng 10,7 Thực vật đơn bào 1,6 Giáp xác 23 1. Đặc điểm sinh sản Trong tự nhiên, cá tra thành thục sau 3 — 4 năm tuổi.

Mùa vụ thành thục của cá trong tự nhiên bắt đầu từ tháng 5 — 7 âm lịch hàng năm, cá có tập tính di cư tìm đến những bãi đẻ có điều kiện sinh thái phù hợp đề sinh sản. Ở Việt Nam, cá tra không có bãi đẻ tự nhiên, chúng thường di cư sinh sản về các bãi đẻ nằm ở khu vực từ địa phận Cratie của Campuchia trở lên thượng nguôn. Tại bãi đẻ, cá tra bố mẹ đẻ trứng và thụ tinh tự nhiên, do trứng cá có tính dính nên sau khi thụ tinh, trứng cá sẽ dính vào các cây cỏ thủy sinh xung quanh đó. Sau khi trứng nở, cá bột sẽ theo dòng nước lũ về hạ lưu đến các vùng gặp nước ở Campuchia và Việt Nam.

Trong sinh sản nhân tạo, cá tra có thể thành thục và đẻ sớm hơn (từ tháng 3 dương lịch hàng năm) và có thê tái phát dục 1 — 3 lần trong năm. Hệ số thành thục của cá tra có thé đạt 12% (Vương Học Vinh, 2007). Tình hình sản xuất và tiêu thụ cá tra ở Việt Nam Cá tra là loài cá da trơn được nuôi phố biến ở nước ta, đặc biệt là ở vùng ĐBSCL. Theo báo cáo của Phan va ctv.

(2009) thì cá tra đạt sản lượng ky lục 683 nghìn tan với giá trị xuất khẩu hơn 645 triệu đô la vào năm 2007, đến năm 2010 thì sản lượng cá tra đạt 1.000 tấn và dat kim ngạch xuất khâu khoảng 1,4 tỷ đô la (De Silva và Phuong, 2011). Trong 10 năm, từ năm 1997 đến 2007 được xem là giai đoạn hoàng kim của nghề nuôi cá tra với diện tích nuôi tăng 8 lần (từ 1.000 ha), sản lượng cá tra thương pham tăng 45 lần (từ 22.000 tan) và giá trị xuất khâu tăng 50 lần (từ 19,7 triệu đô la Mỹ lên đến 979.036 triệu đô la Mỹ) (Phuong và Oanh, 2010). Báo cáo của Thủy sản Việt Nam (2013), năng suất nuôi cá tra sau thu hoạch dat giá tri cao mặc dù diện tích nuôi chỉ khoảng 6.000 ha, bằng 1% diện tích nuôi tôm, trong đó tập trung chủ yếu ở vùng ĐBSCL và nhiều nhất ở các tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ. Sản lượng cá tra phi lê xuất khẩu đạt hơn 640 nghìn tấn năm 2012, xuất khâu hơn 140 quốc gia trên thế giới (VASEP, 2013).

Nguyên nhân làm diện tích và sản lượng cá tra nuôi ở ĐBSCL tăng cao là do khả năng thích nghỉ tốt với điều kiện môi trường, thời tiết khắc nghiệt và chúng là loài cá rất thích hợp tăng trưởng ở vùng này (Đỗ Thị Thanh Hương và cứ. Hiện tại, cá tra đã được nuôi thâm canh ở hầu hết các tỉnh ĐBSCL, trong đó An Giang, Cần Thơ và Đồng Tháp là các tỉnh có diện tích và sản lượng cá nuôi lớn nhất vùng (Phan ef ai, 2009). Theo báo cáo của De Silva và Phuong (2011) thì phần lớn cá tra nuôi ở nước ta 4000 =®>= Tông sản lượng thủy sản nuôi (ngàn tan) 3500 —@—San lượng cá tra (ngàn tan) 3000 ~®—=Kim ngạch xuất khẩu cá tra (triệu USD) 2500 2000 1500 1000 500 0 1999 000 2006 ^ )03 004 2005n £ + 001 > 00 4 a 00 2011 a a a bênh nên sản lượng và diện tích nuôi cá tra ở những năm gần đây đã suy giảm.2: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cá tra của ĐBSCL giai đoạn 1997-2014 (Nguyễn Thanh Phương và ctv. Enzyme phytase Phytase hay còn được biết đến về mặt hóa hoc là myo-inositol (1,2,3,4,5,6) — hexakisphosphate phosphohydrolase, xúc tác quá trình thủy phân phytate để giải phóng ra Phospho (P) hữu dụng giúp cơ thé vật nuôi dé dang hap thu.

Enzyme phytase có thể được tìm thấy ở các loài động vật, thực vật, nam và vi sinh vat (Ling Cao và ctv. Tuy nhiên, hoạt lực của enzyme phytase từ động vat không được hiệu quả so với các phytase từ thực vật và vi sinh vật. Theo Weimin Wang và ctv. (2007), hầu hết các nghiên cứu khoa học chủ yếu sử dụng phytase từ vi sinh vật, chăng hạn như Aspergillus ficuum, Mucor piriformis,.

Báo cáo của Greiner và Konietzny (2006), phytase có nguồn gốc từ nam, vi sinh vật thì có hoạt tính tốt hơn so với phytase có nguồn sốc từ thực vật do khả năng chịu đựng được nhiệt độ cao va khoảng pH hoạt động rộng, nhưng tốt nhất vẫn là phytase có nguồn gốc từ nấm. Một số loài thực vật như lúa mì, lúa mạch chứa rất nhiều phytase nội sinh, do phổ hoạt động của pH hẹp nên hoạt lực phytase từ thực vật kém hiệu quả hơn so với phytase từ vi sinh vật. Hoạt lực cua phytase từ thực vật không én định va giam khi pH trén 7,5 va dưới 4, trong khi đó phan lớn các phytase từ vi sinh vật tương đối 6n định ở các giá tri pH trên 8 và dưới 3. Phytase thực vật không bền với nhiệt, hoạt lực của chúng có thể bị giảm hoặc mất hoạt tính trong quá trình ép viên thức ăn.

Hiệu quả sinh học của phytase thực vật chi bằng 40% so với phytase từ vi sinh vật (Weimin Wang và ctv. Do độ pH rộng và có tính ôn định với nhiệt cũng như hoạt tinh sinh học cao nên các phytase từ vi sinh vật được ứng dụng rộng rãi trong thức ăn cho cá (Cao va ctv. Hoạt lực của enzyme phytase được dién ta bằng các đơn vi phytase (được biểu thị dưới dạng FYT, FTU, PU hoặc U), tùy vào công ty sản xuất mà hoạt lực của phytase được biểu thị bằng các đơn vị khác nhau. Một đơn vi phytase được định nghĩa là số lượng enzyme giải phóng 1 micromol Phospho vô cơ mỗi phút từ 0,0015 mol/ 1 natri phytase ở pH 5,5 và nhiệt độ 37°C (Simons và ctv.

Theo Liên minh Hóa học Ứng dụng va Tinh khiết Quốc tế và Liên minh Hóa sinh Quốc tế (UPAC-IUB), enzyme phytase sử dụng trong thức ăn được chia thành 2 loại tùy thuộc vào vi trí thủy phan phytate của phytase: 3-Phytase (EC 3.8) giải phóng P ở vị trí C3 và 6-Phytase (EC 3.26) bắt đầu giải phóng P ở vị trí C6 của vòng myo-inositol hexaphosphate. Enzyme phytase cũng có thể được phân loại theo độ pH tối ưu phân giải phytate: phytase acid phân giải phytate ở khoảng pH bằng 5, con phytase base phân giải phytate ở khoảng pH tối ưu là 8 (Baruah và ctv., 2007b), đa phần enzyme phytase phân giải phytate từ vi sinh vật đều thuộc loại acid, trừ nhóm Bacillus spp. (Selle và ctv. Các phytase từ các vi sinh vật khác nhau cho hiệu quả sinh học khác nhau phụ thuộc vao pH của chúng (Onyango va ctv.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ