Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Sơ lược về cá tra 1.1 Phân loại Hệ thống phân loại của cá tra được xác định như sau: Ngành: Animalia Linnaeus, 1758 Lớp: Actinoptery gi Huxley, 1880 — Ray — finned fishes Bộ: Siluriformes Họ: Pangasidae Bleeker, 1858 Giống: Pangasius Valenciennes in Cuvier and Valenciennes, 1840 Loai: Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878) Các đồng danh của loài cá tra: ° Helicophagus hypophthalmus Sauvage, 1878 ° Pangasius hypophthalmus (Sauvage, 1878) Nguồn: hitp://www. Đặc điểm hình thai Theo mô tả của Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) thì loài cá tra có thân thon dai, phan sau hẹp bên, lưng có màu xám đen va bụng mau trắng bạc. Cơ quan đường bên hoàn toàn va phân nhánh, bat đầu từ mép trên của lỗ mang đến điểm giữa của gốc vi đuôi. Mặt sau của vi lưng, vi ngực có răng cưa hướng xuống gốc vi.
Vi bụng của cá kéo dài chạm tới khởi điểm của gốc vi hậu môn. Đầu cá rộng, hẹp bang, mom ngắn, khi nhìn từ trên xuống chót mdm tròn. Khi quan sát, thấy miệng cá rộng ngang, có hình vòng cung nằm trên mặt phẳng ngang. Cá tra có răng nhỏ, mịn, răng vòm miệng chia thành 4 đám nhỏ, mỏng nằm trên đường vòng cung.
Lỗ mũi sau của cá gần lỗ mũi trước hơn mắt và nằm trên đường thắng kẻ từ lỗ mũi trước đến cạnh trên của mắt. Cá tra có hai đôi râu, râu mép kéo dài chưa chạm đến gốc vi ngực, râu cẦm ngắn hơn. Đặc điểm phân bố và nguồn gốc Cá tra Pangasianodon hypophthalmus có nguồn gốc từ lưu vực sông Mekong, bao gồm các nước Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam (Nguyễn Văn Thường, 2000). Tuy nhiên, cá tra cũng đã được du nhập vào các quốc gia khác như Indonesia, Malaysia, Bangladesh, Trung Quốc, An Độ, Myanmar (FAO, 2010-2011) với mục đích phát triển ngành nuôi trồng thủy sản ở các quốc gia này.
Ở Việt Nam, cá tra là loài cá nuôi truyền thống trong ao ở các tỉnh thuộc ĐBSCL và chúng được tìm thấy ở các vùng lưu vực sông Mekong, nhiều nhất là ở các sông rach, ao đầm của sông Tiên, sông Hậu hay cả sông Hong và các sông ở miền Trung Việt Nam. Ngoài ra, do cá tra có cơ quan hô hấp phụ bằng bóng khí và da nên chúng có khả năng sống tốt trong điều kiện ao tù nước đọng, nhiều min bã hữu cơ, oxy hòa tan thấp và cá có thé được nuôi với mật độ rất cao. Theo Bộ NN&PTNT năm 2014 thì các thông số chất lượng nước thích hợp cho sự phát triển của cá tra như sau: hàm lượng oxy hòa tan (DO) > 2 mg/L, pH dao động từ 7-9, NH3 < 0,3 mg/L và nhiệt độ dao động từ 25 — 32 °C. Đặc điểm dinh dưỡng Cá tra sau khi nở tiêu hết noãn hoàng thì chúng sẽ bắt đầu ăn thức ăn tươi sống, di động bên ngoài môi trường, nếu không được cung cấp thức ăn day đủ thì chúng sẽ ăn thịt lẫn nhau ngay cả trong bề ấp.
Cau trúc dạ dày của cá tra phình to, hình chữ U, co giãn được, ruột cá ngắn, không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục. Cá tra là loài cá ăn tạp thiên về động vật (Rainboth, 1996). Trong tự nhiên cá tra ăn mùn bã hữu cơ, rễ cây thủy sinh, rau quả, tôm tép, cua, côn trùng, Ốc và cá. Cá tra nuôi trong ao sử dụng các loại thức ăn khác nhau như cá tạp, thức ăn viên, cám,.
Thức ăn có nguồn gốc từ động vật hoặc hàm lượng đạm cao sẽ giúp cá lớn nhanh (Dương Nhựt Long và c?. Nghiên cứu của Lê Thanh Hùng, 2000 thì cá tra bột khi ăn trùn chỉ cho tỉ lệ sống cao và sinh trưởng của cá tốt nhất. Phân tích thành phần thức ăn trong ruột cá tra ngoài tự nhiên gồm có nhuyễn thẻ, côn trùng, giáp xác (Phạm Văn Khánh, 2000).1: Thành phan thức ăn trong ruột cá tra phân bé ngoài tự nhiên (Phạm Văn Khánh, 2000) Loại thức ăn Tỷ lệ (%) Nhuyễn thê 35,4 Cá nhỏ 31,8 Côn trùng 18,2 Thực vật thượng đẳng 10,7 Thực vật đơn bào 1,6 Giáp xác 23 1. Đặc điểm sinh sản Trong tự nhiên, cá tra thành thục sau 3 — 4 năm tuổi.
Mùa vụ thành thục của cá trong tự nhiên bắt đầu từ tháng 5 — 7 âm lịch hàng năm, cá có tập tính di cư tìm đến những bãi đẻ có điều kiện sinh thái phù hợp đề sinh sản. Ở Việt Nam, cá tra không có bãi đẻ tự nhiên, chúng thường di cư sinh sản về các bãi đẻ nằm ở khu vực từ địa phận Cratie của Campuchia trở lên thượng nguôn. Tại bãi đẻ, cá tra bố mẹ đẻ trứng và thụ tinh tự nhiên, do trứng cá có tính dính nên sau khi thụ tinh, trứng cá sẽ dính vào các cây cỏ thủy sinh xung quanh đó. Sau khi trứng nở, cá bột sẽ theo dòng nước lũ về hạ lưu đến các vùng gặp nước ở Campuchia và Việt Nam.
Trong sinh sản nhân tạo, cá tra có thể thành thục và đẻ sớm hơn (từ tháng 3 dương lịch hàng năm) và có thê tái phát dục 1 — 3 lần trong năm. Hệ số thành thục của cá tra có thé đạt 12% (Vương Học Vinh, 2007). Tình hình sản xuất và tiêu thụ cá tra ở Việt Nam Cá tra là loài cá da trơn được nuôi phố biến ở nước ta, đặc biệt là ở vùng ĐBSCL. Theo báo cáo của Phan va ctv.
(2009) thì cá tra đạt sản lượng ky lục 683 nghìn tan với giá trị xuất khẩu hơn 645 triệu đô la vào năm 2007, đến năm 2010 thì sản lượng cá tra đạt 1.000 tấn và dat kim ngạch xuất khâu khoảng 1,4 tỷ đô la (De Silva và Phuong, 2011). Trong 10 năm, từ năm 1997 đến 2007 được xem là giai đoạn hoàng kim của nghề nuôi cá tra với diện tích nuôi tăng 8 lần (từ 1.000 ha), sản lượng cá tra thương pham tăng 45 lần (từ 22.000 tan) và giá trị xuất khâu tăng 50 lần (từ 19,7 triệu đô la Mỹ lên đến 979.036 triệu đô la Mỹ) (Phuong và Oanh, 2010). Báo cáo của Thủy sản Việt Nam (2013), năng suất nuôi cá tra sau thu hoạch dat giá tri cao mặc dù diện tích nuôi chỉ khoảng 6.000 ha, bằng 1% diện tích nuôi tôm, trong đó tập trung chủ yếu ở vùng ĐBSCL và nhiều nhất ở các tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ. Sản lượng cá tra phi lê xuất khẩu đạt hơn 640 nghìn tấn năm 2012, xuất khâu hơn 140 quốc gia trên thế giới (VASEP, 2013).
Nguyên nhân làm diện tích và sản lượng cá tra nuôi ở ĐBSCL tăng cao là do khả năng thích nghỉ tốt với điều kiện môi trường, thời tiết khắc nghiệt và chúng là loài cá rất thích hợp tăng trưởng ở vùng này (Đỗ Thị Thanh Hương và cứ. Hiện tại, cá tra đã được nuôi thâm canh ở hầu hết các tỉnh ĐBSCL, trong đó An Giang, Cần Thơ và Đồng Tháp là các tỉnh có diện tích và sản lượng cá nuôi lớn nhất vùng (Phan ef ai, 2009). Theo báo cáo của De Silva và Phuong (2011) thì phần lớn cá tra nuôi ở nước ta 4000 =®>= Tông sản lượng thủy sản nuôi (ngàn tan) 3500 —@—San lượng cá tra (ngàn tan) 3000 ~®—=Kim ngạch xuất khẩu cá tra (triệu USD) 2500 2000 1500 1000 500 0 1999 000 2006 ^ )03 004 2005n £ + 001 > 00 4 a 00 2011 a a a bênh nên sản lượng và diện tích nuôi cá tra ở những năm gần đây đã suy giảm.2: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cá tra của ĐBSCL giai đoạn 1997-2014 (Nguyễn Thanh Phương và ctv. Enzyme phytase Phytase hay còn được biết đến về mặt hóa hoc là myo-inositol (1,2,3,4,5,6) — hexakisphosphate phosphohydrolase, xúc tác quá trình thủy phân phytate để giải phóng ra Phospho (P) hữu dụng giúp cơ thé vật nuôi dé dang hap thu.
Enzyme phytase có thể được tìm thấy ở các loài động vật, thực vật, nam và vi sinh vat (Ling Cao và ctv. Tuy nhiên, hoạt lực của enzyme phytase từ động vat không được hiệu quả so với các phytase từ thực vật và vi sinh vật. Theo Weimin Wang và ctv. (2007), hầu hết các nghiên cứu khoa học chủ yếu sử dụng phytase từ vi sinh vật, chăng hạn như Aspergillus ficuum, Mucor piriformis,.
Báo cáo của Greiner và Konietzny (2006), phytase có nguồn gốc từ nam, vi sinh vật thì có hoạt tính tốt hơn so với phytase có nguồn sốc từ thực vật do khả năng chịu đựng được nhiệt độ cao va khoảng pH hoạt động rộng, nhưng tốt nhất vẫn là phytase có nguồn gốc từ nấm. Một số loài thực vật như lúa mì, lúa mạch chứa rất nhiều phytase nội sinh, do phổ hoạt động của pH hẹp nên hoạt lực phytase từ thực vật kém hiệu quả hơn so với phytase từ vi sinh vật. Hoạt lực cua phytase từ thực vật không én định va giam khi pH trén 7,5 va dưới 4, trong khi đó phan lớn các phytase từ vi sinh vật tương đối 6n định ở các giá tri pH trên 8 và dưới 3. Phytase thực vật không bền với nhiệt, hoạt lực của chúng có thể bị giảm hoặc mất hoạt tính trong quá trình ép viên thức ăn.
Hiệu quả sinh học của phytase thực vật chi bằng 40% so với phytase từ vi sinh vật (Weimin Wang và ctv. Do độ pH rộng và có tính ôn định với nhiệt cũng như hoạt tinh sinh học cao nên các phytase từ vi sinh vật được ứng dụng rộng rãi trong thức ăn cho cá (Cao va ctv. Hoạt lực của enzyme phytase được dién ta bằng các đơn vi phytase (được biểu thị dưới dạng FYT, FTU, PU hoặc U), tùy vào công ty sản xuất mà hoạt lực của phytase được biểu thị bằng các đơn vị khác nhau. Một đơn vi phytase được định nghĩa là số lượng enzyme giải phóng 1 micromol Phospho vô cơ mỗi phút từ 0,0015 mol/ 1 natri phytase ở pH 5,5 và nhiệt độ 37°C (Simons và ctv.
Theo Liên minh Hóa học Ứng dụng va Tinh khiết Quốc tế và Liên minh Hóa sinh Quốc tế (UPAC-IUB), enzyme phytase sử dụng trong thức ăn được chia thành 2 loại tùy thuộc vào vi trí thủy phan phytate của phytase: 3-Phytase (EC 3.8) giải phóng P ở vị trí C3 và 6-Phytase (EC 3.26) bắt đầu giải phóng P ở vị trí C6 của vòng myo-inositol hexaphosphate. Enzyme phytase cũng có thể được phân loại theo độ pH tối ưu phân giải phytate: phytase acid phân giải phytate ở khoảng pH bằng 5, con phytase base phân giải phytate ở khoảng pH tối ưu là 8 (Baruah và ctv., 2007b), đa phần enzyme phytase phân giải phytate từ vi sinh vật đều thuộc loại acid, trừ nhóm Bacillus spp. (Selle và ctv. Các phytase từ các vi sinh vật khác nhau cho hiệu quả sinh học khác nhau phụ thuộc vao pH của chúng (Onyango va ctv.