Đặt vấn đề Nhân sâm là một dược liệu quý đã được sử dụng từ lâu ở nhiều khu vực như Châu Mỹ (Panax quinquefolius) hay các nước Đông A, đặc biệt là ở Hàn Quốc và Trung Quốc (Panax ginseng) nhan sâm được coi là một loại thần dược trong việc duy trì sinh lực và thé chất. Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) được tìm thay ở khu vực núi Ngoc Linh thuộc hai tinh Kon Tum va Quảng Nam là một loài thuộc chi Panax. Những kết quả nghiên cứu mới nhất cho thấy danh sách saponin của sâm Ngọc Linh lên tới 52 loại (Đức và ctv, 1993, 1994a; Vân và ctv, 2015). Hoạt chất chính có trong sâm Ngọc Linh là ginsenosid (Yamasaki, 2000), có nhiều tác dụng có lợi như chống ung thư (Konoshima và ctv, 1999) và tác dụng ức chế căng thăng tâm lý (Yobimoto và ctv, 2000).
Ngoài ra còn có các acid amin, acid béo, các nguyên tố đa lượng và vi lượng. Nguồn cung sâm Ngọc Linh hiện tại rất khan hiếm và điều này được cho là do phạm vi môi trường sống hẹp, cây tự nhiên sinh trưởng và phát triển rất chậm cùng với sự khai thác quá mức của loài này. Vì vậy sâm Ngọc Linh được xếp vào loài có nguy cơ tuyệt chủng (Sách đỏ Việt Nam, 1996). Một trong những cách thiết thực và hiệu quả nhất dé giải quyết van dé nan giải về nguồn cung hiện nay là nuôi cấy sâm Ngọc Linh trong điều kiện in vitro, nhằm tao ra nguồn giống nhanh chóng với số lượng lớn.
Xuất phát từ những giá trị thực tiễn trên đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến quá trình nhân giống sâm Ngọc Linh” được thực hiện. Mục tiêu đề tài: Xác định được nồng độ 2,4-D kết hợp với BAP tốt nhất cho sự tạo mô sẹo từ mẫu củ sâm Ngọc Linh. Xác định nồng độ TDZ tốt nhất cho sự phát sinh phôi từ mô sẹo sâm Ngọc Linh. Xác định được nồng độ BAP kết hợp với NAA tốt nhất cho sự tăng trưởng chéi từ phôi sam Ngọc Linh.
Nội dung thực hiện: Nội dung 1: Anh hưởng cua 2,4-D két hop voi BAP dén kha nang tao m6 seo tu cu sam Ngoc Linh. Nội dung 2: Ảnh hưởng của TDZ đến sự phát sinh phôi sâm Ngọc Linh Nội dung 3: Ảnh hưởng BAP kết hợp với NAA đến sự tăng trưởng chỗi từ phôi sâm Ngọc Linh. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Giới thiệu về cây sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.
Phân loại khoa học Giới : Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp : Magnoliopsida Bộ : Apiales Họ : Araliaceae Chi : Panax Loài : Panax vietnamensis Ha et Grushv. Tên khác: Sâm Việt Nam, sâm K5, cây thuốc giấu Tên nước ngoài: Vietnamese ginseng Hình 2. Cây Sâm Ngọc Linh. Đặc điểm phân bố (Nguôn: baotonduoclieu.
Sâm Ngọc Linh được tìm thấy ở trên núi Ngọc Linh thuộc hai tỉnh Kon Tum và tỉnh Quảng Nam. Cây sâm bắt đầu xuất hiện ở độ cao từ 1.200 m trở lên, đạt mật độ cao nhất ở khoảng từ 1.000 m dưới tán rừng già. Từ năm 2000 trở lại đây, Viện Dược liệu tiễn hành tái điều tra về điều kiện khí hậu, thé nhưỡng va đặc điểm sinh thái cây ở vùng trồng sâm đưới tán rừng tự nhiên đã cho thấy, hiện nay chỉ có thể tìm thấy sâm Ngọc Linh còn sót lại ở độ cao 1900 — 2200 m, song cũng rất hiếm. Cây trồng dưới tán rừng tự nhiên ở độ cao 1800 — 1900 m trong hai tỉnh Quảng Nam và Kon Tum có độ tán che của rừng là 70 đến 90% mới phù hợp với độ sinh trưởng và phát triển tốt (Nguyễn Thượng Dong và ctv, 2007).
Đặc điểm hình thái Theo Nguyễn Thượng Dong và ctv (2007), thì sâm Ngọc Linh là cây thân thảo, sống lâu năm, cao 40 — 60 cm, đôi khi trên 1 m. Thân rễ nạc, đường kính 1 - 3,5 cm, chiều dài tùy theo số năm sinh trưởng, màu vàng nhạt hay màu vàng dat, có nhiều đốt, mang những vết sẹo do thân lụi hàng năm để lại, mỗi vết tương đương với một năm tuổi. Thân rễ mang nhiều rễ con và những vét nhăn dọc, dễ bẻ gãy, mùi thơm nhẹ, vị đắng hơi ngọt. Ở cuối thân rễ có rễ củ thường ít phát triển, có dạng con quay, hình trụ, đôi khi có dạng hình người, màu vàng nhạt, mang nhiều rễ con và có vân ngang.
Cây sâm trồng có rễ củ phát triển hơn. Thân mọc thắng đứng, màu xanh hoặc hơi tím, đường kính 5 — 8 mm, thường rụng hằng năm sau mùa sinh trưởng. Tuy vậy, đôi khi có 2 — 3 thân vẫn tồn tại vài năm. Thân rễ có thể phân nhánh nhiều lần và hình thành một bụi sâm nhưng rất hiếm.
Lá kép hình chân vịt, mọc ở đỉnh thân. Cuống lá kép dài 2 — 12 cm, mỗi lá kép thường có 5 lá chét hình trứng ngược, hình mác hoặc bầu dục, mép khía răng cưa, đầu lá nhọn, đôi khi có mũi nhọn, gốc lá hình nêm. Lá chét ở giữa lớn nhất dài 15 cm, rộng 3 — 5 em. Gan lá hình lông chim, thường có 10 cặp, gân phụ hình mạng.
Phién lá màu xanh lục, mảnh, dé rách, có nhiều lông cứng đài 1 — 2 mm, mặt đưới ít hon. Cây nảy mam từ hạt chỉ có 1 lá kép với 5 lá chét, năm thứ 3 da số 2 lá kép, năm thứ 4 da số 3 lá kép, năm thứ 5 và 6 đa số 4 — 5 lá kép, rất hiếm gặp cây 6 lá kép. Cụm hoa thường xuất hiện ở cây có 3 lá kép trở lên. Cuống cụm hoa đài 10 — 12 cm mang một tan đơn ở tận cùng, đôi khi có thêm 1 — 4 tán phụ hay một hoa don ở phía dưới tán chính.
Mỗi cụm hoa có 50 — 120 hoa, cuống hoa dài 1 — 1,5 em. Hoa màu vàng lục nhạt, đường kính 3 — 4 mm, gồm5 lá đài hợp thành hình chuông, trên chia thành 5 răng nhỏ, hình tam giác, 5 cánh hoa, 5 nhị màu trắng. Bao phấn hình xoan, đính lưng, dia hoa hơi lồi. Bầu cao 1 — 1,5 mm, có 2 lá noãn.
Hoa thường nở vào buổi sáng từ 9 đến 11 giờ. Lúc này nhiệt độ không khí thường khoảng từ 18 — 20°C và độ âm từ 85 — 90%. Hoa nở dan từ ngoài vào và từ đưới lên. Đài hoa rụng trong khoảng 1 — 2 ngày sau khi nở và tán bắt đầu kết quả.
Mùa hoa thay đồi tùy theo vùng nhưng thường bat đầu từ tháng 4 đến tháng 6. Quả mọng, khi chín màu đỏ tươi, đa phần có chấm đen ở đỉnh như Nhân sâm, một số quả không có cham den ở đỉnh như quả Tam thất. Qua sâm có 1 6 1 hạt và hiếm gặp quả 2 ô 2 hạt, hạt hình thận, một số ít có hình cầu det chứa 2 hạt, nhưng còn có cả quả 3 ô 3 hạt. Mỗi chùm hoa trung bình có từ 20 đến 30 quả, trọng lượng trung bình của một quả là 200 mg.
Đối với quả sâm Ngọc Linh quả nào khi có chấm đen ở đỉnh thì mọc mam còn những qua nào không có cham den ở đỉnh thì không nảy mam. Trên một bông càng có nhiều quả có 2 hạt và 3 hạt thì hệ số nhân giống càng cao. Mùa quả từ tháng 7 đến tháng 9. Quả tập trung ở trung tâm của tán.
Sau hai tháng, quả bat đầu chuyên từ màu xanh đên màu xanh thâm, vàng lục rôi đỏ cam và đỏ tươi với 1 châm đen ở trên đỉnh quả. Hạt màu trắng ngà hay màu vàng nhạt, dài 6 — 8 mm, rộng 5 — 6 mm, day 2 mm, bề mặt lồi lõm. Khối lượng của 1 hat tuoi là 95 mg (Trần Thị Liên và ctv, 2020). Đặc điểm sinh thái Sâm Ngọc Linh là loại cây đặc biệt ưa am và ưa bóng, thường mọc rải rác hay tập trung thành từng đám nhỏ dưới tán rừng kín thường xanh cây lá rộng, đôi khi xen cả cây lá kim, độ tán che có thể lên tới 80% hoặc hơn.
Môi trường nơi sâm mọc luôn am ướt, thường xuyên có mây mù. Nhiệt độ không khí trung bình ước tính từ 15 đến 18°C, lượng mưa xấp xỉ 3. Dat rừng ở đây được tạo thành do lá cây mục lâu ngày, có màu đen, tơi xốp, hàm lượng mùn cao và dường như chứa nhiều nước. Sâm Ngọc Linh sinh trưởng mạnh trong mùa xuân — hè.
Mùa hoa quả bat đầu từ tháng 5 đến tháng 10, cây ra hoa và quả tương đối đều hàng năm. Sau khi quả chín rụng xuống đất, tồn tại qua mùa đông khoảng trên 4 tháng và sẽ nảy mầm vào đầu mùa xuân năm sau. Quan sát quan thé sâm Ngọc Linh mọc hoang dai, thay trong cùng một đám có nhiều cây ở các lứa tuổi khác nhau. Điều đó chứng tỏ sâm Ngọc Linh có khả năng tái sinh tự nhiên từ hạt khá tốt (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004).
Tác dụng dược lý Theo tiễn sĩ Nguyễn Bá Hoạt, Phó viện trưởng Viện Dược liệu Việt Nam, những kết quả nghiên cứu dược lý thực nghiệm sâm Ngọc Linh đã chứng minh tác dụng chống stress vật lý, stress tâm lý và tram cảm, kích thích hệ miễn dịch, chống oxi hóa, lão hóa, phòng chống ung thư, bảo vệ tế bào gan. Theo dược sĩ Đào Kim Long, sâm Ngọc Linh có những tính năng tuyệt hảo như tăng lực, phục hồi sự suy giảm chức năng giúp cho tình trang của cơ thé trở lại bình thường, kháng các độc tố gây hại tế bào, giúp kéo dài sự sống của tế bào và tăng các tế bào mới. Đặc biệt, sâm Ngọc Linh có những tính năng mà sâm Triều Tiên và sâm Trung Quốc không có là tinh kháng khuẩn, chống tram cảm, giảm lo âu, chống oxi hóa và hiệp lực tốt với thuốc kháng sinh, thuốc trị bệnh tiểu đường. Về độc tính đã nghiên cứu thay với liều 34 g/kg thể trọng của bột chiết toàn phan rễ củ sâm Ngọc Linh và với liều 10,6 g/kg thé trọng của saponin toàn phan của rễ củ sâm Ngọc Linh đều không gây trên súc vật thực nghiệm những triệu chứng nào ngộ độc.
Những thí nghiệm tác dụng trên hệ thần kinh trung ương, tác dụng tăng lực, tăng sức bền của cơ thể, trên nội tiết sinh dục, trên hệ tim mạch. đều cho những kết quả gần hay tương đương với khi thí nghiệm với sâm Triều Tiên. Tuy nhiên, sâm Ngọc Linh không gây tăng huyết áp như sâm Triều Tiên. Hiện nay, sâm Ngọc Linh hầu như không thấy được tiêu thụ và sử dụng dưới rễ củ đơn độc mà được sử dụng phối hợp với nhiều vị thuốc khác trong một thang thuốc hay một dạng bào chế như viên, nước, siro.
với liều 2 — 6 g một ngày (Đỗ Tat Lợi, 2006). Ngoài các tác dụng dược lý trên, PGS.