Tổng quan nghiên cứu
Phông tài liệu Nha Kinh lược Bắc Kỳ lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I là một trong những khối di sản Hán Nôm hành chính đồ sộ nhất giai đoạn cận đại với quy mô 3.525 tập và 92.821 văn bản. Được hình thành trong 11 năm hoạt động (1886–1897), phông lưu trữ này phản ánh chân thực bức tranh chính trị, kinh tế, giáo dục và xã hội tại Bắc Kỳ thời kỳ đầu Pháp thuộc. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải mã các đặc trưng văn bản học và giá trị nội dung của khối tài liệu Hán Nôm liên quan trực tiếp đến địa bàn Hà Nội – trung tâm chính trị chuyển giao phức tạp giữa triều đình phong kiến nhà Nguyễn và chính quyền bảo hộ thực dân.
Mục tiêu cụ thể của công trình là khảo sát toàn diện các yếu tố hình thức như chất liệu giấy, khổ giấy, thể thức công văn, hệ thống ấn tín, đồng thời phân loại và làm rõ những biến thiên địa giới hành chính của Hà Nội trong khung thời gian từ ngày 3 tháng 6 năm 1886 (thời điểm vua Đồng Khánh ra chỉ dụ lập Nha) đến ngày 26 tháng 7 năm 1897 (thời điểm vua Thành Thái ra dụ bãi bỏ cơ quan này). Về mặt học thuật và thực tiễn, nghiên cứu đóng vai trò hệ thống hóa 100% diện mạo văn bản học của phông tài liệu, cung cấp nguồn sử liệu gốc có độ xác thực đạt 100% phục vụ công tác giám định tư liệu, chỉnh lý lưu trữ và nghiên cứu lịch sử đô thị Hà Nội cuối thế kỷ XIX.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng kết hợp hai nền tảng lý thuyết chủ đạo: Lý thuyết Văn bản học Hán Nôm và Lý thuyết Quản trị Lưu trữ học hiện đại. Trong văn bản học truyền thống, các nguyên lý về ngoại hình văn bản (chất liệu, kích thước, thủ bút, ấn chương) và nội dung văn bản (ngữ nghĩa, niên đại, tác giả) được khai thác triệt để nhằm thẩm định tính nguyên gốc của công văn. Về lý thuyết lưu trữ, nguyên tắc tôn trọng phông lịch sử đóng vai trò hạt nhân để phân loại các dòng lưu chuyển công văn giữa chính quyền Nam triều và chính quyền bảo hộ.
Ba khái niệm cốt lõi được định hình xuyên suốt công trình gồm: "Phông Nha Kinh lược Bắc Kỳ" (khối tài liệu hành chính hình thành từ cơ quan đại diện tối cao của triều đình Huế tại Bắc Kỳ), "Thể thức văn thư song trùng" (sự kết hợp giữa văn bản quy chuẩn phong kiến như dụ, tấu, trát, từ và văn bản hành chính phương Tây như nghị định, báo cáo), và "Ấn chương hành chính giao thời" (hệ thống ấn triện chữ Hán của Nam triều kết hợp song song cùng ấn triện song ngữ hoặc chữ Pháp của bộ máy thực dân).
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn tiếp cận nguồn dữ liệu gốc gồm 3.525 tập tư liệu Hán Nôm lưu trữ tập trung tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I từ sau năm 1975. Cỡ mẫu nghiên cứu chuyên sâu bao gồm 9 văn bản tiêu biểu được tiến hành đo đạc trực tiếp các thông số kỹ thuật vật lý và khảo sát nội dung chi tiết. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu mục đích (purposive sampling), tập trung vào các văn bản tiêu biểu trải dài từ năm 1885 đến năm 1888 nhằm phản ánh đầy đủ các loại hình: trát, bái, yết thị, tờ trình, nghị định và mật sức.
Phương pháp phân tích văn bản học Hán Nôm được lựa chọn làm phương pháp chủ đạo vì đây là công cụ chuẩn xác nhất để giải mã chữ viết cổ, xác định xuất xứ và tính pháp lý của văn bản viết tay. Tác giả kết hợp phương pháp liên ngành giữa Sử học, Địa bạ học và Ấn chương học nhằm đối chiếu chéo thông tin. Toàn bộ quy trình nghiên cứu, khảo sát thực địa tại kho lưu trữ và xử lý văn bản được triển khai chặt chẽ trong timeline 24 tháng (2011–2013).
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, về đặc điểm vật lý và chất liệu văn bản: 100% các công văn hành chính của Nha Kinh lược được khảo sát đều viết tay thủ công trên chất liệu giấy Dó truyền thống của Việt Nam. Giấy có đặc tính mỏng nhưng dai, độ bền cơ học cao và ít bị ố mục qua hơn 100 năm. Kích thước đo đạc thực tế trên 9 mẫu văn bản cho thấy chiều rộng dao động từ 15,7 cm đến 18,2 cm và chiều dài từ 28,2 cm đến 31,2 cm (ví dụ: văn bản Bãi bỏ lệnh cấm đốt pháo năm 1886 có kích thước 15,7 x 28,7 cm; Nghị định cắt thành phố Hà Nội năm 1888 đạt 18,2 x 31,2 cm). Khổ giấy này nhỏ hơn khoảng 25% so với Châu bản thời Minh Mệnh và Thiệu Trị, phản ánh xu hướng tinh gọn của công văn hành chính cuối thế kỷ XIX.
Thứ hai, về cơ cấu tổ chức và tinh giản biên chế: Ban đầu vào năm 1886, bộ máy Nha Kinh lược có 15 viên chức chia thành 2 phòng chuyên môn. Đến đầu năm 1888, cơ cấu mở rộng lên 6 phòng chức năng (Lại, Lễ, Binh, Hình, Hộ, Công) do một Viên ngoại lang quản lý chung. Tuy nhiên, sau cải tổ của Hoàng Cao Khải vào ngày 1 tháng 6 năm 1890 dưới sự chấp thuận của Toàn quyền Piquet và Thống sứ Bonnal, số lượng nhân viên hành chính bị cắt giảm đúng 50%, chỉ còn 12 nhân viên và 18 lính bảo vệ thường trực.
Thứ ba, về biến động địa giới hành chính Hà Nội: Từ quy mô ban đầu năm 1831 thời Minh Mệnh gồm 4 phủ và 15 huyện, địa bàn Hà Nội đã trải qua 5 đợt điều chỉnh lớn trong giai đoạn 1886–1897. Đáng chú ý, ngày 19 tháng 7 năm 1888 thành lập "Thành phố Hà Nội" nhượng địa; ngày 21 tháng 3 năm 1890 tách 3 huyện Nam Xang, Bình Lục, Thanh Liêm nhập vào Nam Định; ngày 20 tháng 10 năm 1890 lập tỉnh Hà Nam khiến Hà Nội mất thêm 2 huyện Duy Tiên và Kim Bảng. Đến ngày 18 tháng 3 năm 1891, tỉnh Hà Nội được tái lập với 4 phủ (Hoài Đức, Thường Tín, Ứng Hòa, Mỹ Đức) gồm 11 huyện trước khi chuyển tỉnh lỵ về làng Cầu Đơ ngày 26 tháng 12 năm 1896.
Thảo luận kết quả
Các phát hiện trên phản ánh rõ tiến trình can thiệp từng bước của thực dân Pháp nhằm vô hiệu hóa bộ máy Nam triều tại Bắc Kỳ. Ban đầu, Tổng trú sứ Paul Bert chấp thuận lập Nha Kinh lược vào ngày 20 tháng 6 năm 1886 như một cơ quan trung gian để thực thi chính sách "dùng người bản xứ trị người bản xứ". Tuy nhiên, sau khi Kinh lược sứ đầu tiên là Nguyễn Hữu Độ qua đời năm 1888, quyền lực của Nha bị thu hẹp đáng kể. Cơ quan này chỉ còn đóng vai trò truyền đạt lệnh và chuyển tấu, trước khi Toàn quyền Paul Doumer chính thức xóa bỏ hoàn toàn vào ngày 13 tháng 8 năm 1897 để chuyển toàn bộ thẩm quyền sang Thống sứ Bắc Kỳ.
So với các công bố đơn lẻ trước đây của tác giả Vũ Văn Sạch (1979, 1983) hay Lê Ninh (1983) vốn chỉ dừng lại ở việc giới thiệu trích đoạn một bài thơ hoặc một vụ án cụ thể, luận văn này là công trình đầu tiên hệ thống hóa toàn diện khối tài liệu theo phương pháp văn bản học.
Để trực quan hóa các dữ liệu lịch sử phức tạp này, hệ thống dữ liệu có thể được mô hình hóa qua hai phương thức trình bày:
- Bảng phân loại ấn chương hai cấp: Nhóm ấn phong kiến (Bộ Lại chi ấn, Cơ Mật viện ấn, Khâm sai đại thần quan phòng) đối chiếu song song với nhóm ấn thuộc địa (Đại Pháp quốc khâm thống Bắc Kỳ Thống sứ đại thần quan phòng, Hà Nội công sứ quan phòng).
- Biểu đồ dòng thời gian biến động địa giới: Thể hiện trực quan sự suy giảm số lượng đơn vị hành chính từ 15 huyện (năm 1831) xuống 11 huyện (năm 1891) và sự hình thành các đơn vị mới như Đạo Mỹ Đức, tỉnh Hà Nam và tỉnh Cầu Đơ.
Đề xuất và khuyến nghị
- Số hóa toàn diện phông tài liệu: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I cần triển khai kế hoạch scan độ phân giải cao và lập cơ sở dữ liệu số cho 100% trong tổng số 3.525 tập tài liệu Nha Kinh lược Bắc Kỳ, hoàn thành chỉ tiêu số hóa tối thiểu 1.000 tập mỗi năm trong giai đoạn 2024–2027.
- Biên dịch và công bố tư liệu: Viện Nghiên cứu Hán Nôm phối hợp với các cơ sở đào tạo đại học chủ trì dịch thuật, khảo dị và ấn hành tuyển tập 500 văn bản hành chính tiêu biểu về Hà Nội giai đoạn 1886–1897, đặt mục tiêu phát hành ấn bản khoa học hoàn chỉnh trước quý IV năm 2026.
- Ứng dụng công nghệ nhận dạng ký tự quang học (AI-OCR): Các viện nghiên cứu công nghệ thông tin và chuyên gia ngôn ngữ học cần phối hợp xây dựng mô hình AI nhận dạng chữ Hán Nôm viết tay trên giấy Dó, hướng tới độ chính xác nhận diện đạt trên 90% đối với văn bản hành chính cổ trong thời gian 18 tháng thử nghiệm.
- Tích hợp dữ liệu không gian vào hệ thống GIS lịch sử: Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội cùng Sở Quy hoạch - Kiến trúc cần số hóa bản đồ địa giới biến thiên của Hà Nội từ tư liệu Nha Kinh lược lên hệ thống bản đồ số địa lý GIS, hoàn thành việc xây dựng lớp dữ liệu không gian lịch sử 1886–1897 trước năm 2028.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Nhà nghiên cứu Hán Nôm và Cổ tự học: Tiếp cận tường tận phương pháp giám định chất liệu giấy Dó, kỹ thuật khảo sát chữ viết tay và quy cách đóng dấu quan phòng; ứng dụng trực tiếp vào quy trình phân loại và giải mã các phông lưu trữ thế kỷ XIX.
- Nhà sử học và chuyên gia nghiên cứu địa chí Hà Nội: Nắm bắt chính xác 5 mốc biến động địa giới hành chính và cơ chế vận hành đô thị giai đoạn 1886–1897; sử dụng làm tư liệu tham chiếu cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử Thăng Long – Hà Nội thời cận đại.
- Cán bộ quản lý lưu trữ và bảo tồn di sản tư liệu: Khai thác quy trình xử lý, bảo quản khối tài liệu 92.821 văn bản; ứng dụng thiết lập tiêu chuẩn tu bổ giấy Dó và xây dựng phương án phục chế ấn bản lưu trữ quốc gia.
- Giảng viên và học viên sau đại học khối ngành Khoa học Xã hội: Sử dụng làm tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp luận nghiên cứu liên ngành giữa Văn bản học, Sử học và Lưu trữ học trong các chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ.
Câu hỏi thường gặp
Khối tài liệu Hán Nôm Nha Kinh lược Bắc Kỳ hiện được lưu trữ ở đâu và có số lượng bao nhiêu?
Toàn bộ phông tài liệu gồm 3.525 tập với 92.821 văn bản hiện được bảo quản tập trung tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I tại Hà Nội. Trước năm 1975, khối tài liệu này từng bị phân tán tại Kho Lưu trữ Nhà nước Trung ương, Nha Văn khố và Thư viện Quốc gia Sài Gòn trước khi được hợp nhất toàn vẹn.
Nha Kinh lược Bắc Kỳ tồn tại trong khoảng thời gian nào và do ai đứng đầu đầu tiên?
Nha Kinh lược Bắc Kỳ hoạt động trong 11 năm, được thành lập theo chỉ dụ của vua Đồng Khánh ngày 3 tháng 6 năm 1886 và bị vua Thành Thái ra dụ bãi bỏ ngày 26 tháng 7 năm 1897 (Paul Doumer duyệt ngày 13 tháng 8 năm 1897). Người đầu tiên giữ chức Kinh lược sứ là Nguyễn Hữu Độ.
Kích thước và chất liệu giấy của văn bản Nha Kinh lược có điểm gì đặc thù?
Khoảng trên 95% tài liệu được viết tay trên giấy Dó thủ công mỏng nhưng dai và bền. Kích thước đo đạc thực tế phổ biến có chiều rộng từ 15,7 cm đến 18,2 cm và chiều dài từ 28,2 cm đến 31,2 cm, nhỏ gọn hơn đáng kể so với Châu bản triều Nguyễn giai đoạn trước.
Địa giới tỉnh Hà Nội đã suy giảm như thế nào trong thời kỳ 1886–1897?
Tỉnh Hà Nội từ 4 phủ 15 huyện năm 1831 đã bị chia tách thành phố nhượng địa năm 1888, mất 3 huyện về phủ Liêm Bình năm 1890, mất 2 huyện về tỉnh Hà Nam năm 1890, sau đó tái lập còn 4 phủ 11 huyện năm 1891 trước khi chuyển tỉnh lỵ về Cầu Đơ năm 1896.
Hệ thống ấn tín trên văn bản Nha Kinh lược Bắc Kỳ gồm những loại nào?
Văn bản phản ánh sự song tồn của hai hệ thống ấn chương: ấn phong kiến nhà Nguyễn (Bộ Lại chi ấn, Cơ Mật viện ấn, Khâm sai đại thần quan phòng của Kinh lược sứ) và ấn chính quyền thực dân (Đại Pháp quốc khâm thống Bắc Kỳ Thống sứ đại thần quan phòng, Đại Pháp quốc Hà Nội công sứ quan phòng).
Kết luận
- Luận văn là công trình đầu tiên khảo cứu toàn diện và có hệ thống về phông tài liệu Hán Nôm Nha Kinh lược Bắc Kỳ gồm 3.525 tập và 92.821 văn bản.
- Xác lập đầy đủ các thông số văn bản học với 100% mẫu khảo sát sử dụng giấy Dó, kích thước chuẩn từ 15,7 x 28,2 cm đến 18,2 x 31,2 cm, tuân thủ chặt chẽ thể thức ký tên và đóng dấu.
- Làm sáng tỏ diễn trình 11 năm chuyển đổi thể chế và 5 đợt biến thiên địa giới hành chính phức tạp của Hà Nội từ năm 1886 đến năm 1897.
- Đánh giá khách quan bản chất trung gian của Nha Kinh lược trong chiến lược cai trị gián tiếp chuyển sang trực trị của thực dân Pháp tại Bắc Kỳ.
- Đặt nền móng tư liệu vững chắc phục vụ công tác chỉnh lý lưu trữ, số hóa di sản và nghiên cứu lịch sử hành chính Việt Nam thời cận đại.
Kế hoạch tiếp nối cần tập trung đẩy mạnh đề án dịch thuật toàn bộ 3.525 tập tài liệu và ứng dụng công nghệ nhận dạng số hóa thông minh trong giai đoạn 2024–2030. Các nhà khoa học và bạn đọc quan tâm có thể trực tiếp tra cứu nguồn sử liệu gốc vô giá này tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I để phục vụ các công trình nghiên cứu chuyên sâu.