Kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam: Nghiên cứu thực tiễn tại Bắc Kạn

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ls kháng cáo theo thủ thục phúc thẩm trong tố tụng hình sự việt nam trên cơ sở số liệu thực, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

103
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ KHÁNG CÁO THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM

1.1. Khái niệm kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm

1.2. Cơ sở của kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm

1.3. Cơ sở thực tiễn

1.4. Sơ lược lịch sử phát triển những qui định của pháp luật về kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự trước khi ban hành bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003

1.4.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1960

1.4.2. Giai đoạn từ 1960 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự 1988

1.4.3. Giai đoạn từ 1988 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

1.5. Quy định pháp luật của một số nước trên thế giới về kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự

1.6. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 VÀ NĂM 2015 VỀ KHÁNG CÁO THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN

2.1. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và năm 2015 về kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm

2.1.1. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

2.1.2. Những quy định mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

2.2. Thực tiễn thi hành các quy định của BLTTHS năm 2003 về kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn

2.2.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân

2.2.2. Những hạn chế và nguyên nhân

2.3. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA KHÁNG CÁO THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

3.1. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật TTHS về kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm

3.1.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm

3.1.2. Hoàn thiện các văn bản pháp luật khác liên quan đến Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 theo thủ tục phúc thẩm

3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm

3.2.1. Đổi mới hệ thống, tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân

3.2.2. Đội ngũ cán bộ

3.2.3. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật, phục vụ cho công tác xét xử

3.2.4. Nâng cao nhận thức pháp luật của người tham gia tố tụng và những người khác

3.3. Kết luận chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự

Kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là một chế định quan trọng trong luật tố tụng hình sự Việt Nam. Chế định này cho phép các bên tham gia tố tụng có quyền yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm. Điều này không chỉ đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên mà còn góp phần nâng cao tính công bằng trong xét xử. Tại Bắc Kạn, việc thực hiện kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm đã cho thấy nhiều vấn đề cần được nghiên cứu và cải thiện.

1.1. Khái niệm và ý nghĩa của kháng cáo phúc thẩm

Kháng cáo phúc thẩm được hiểu là quyền của những người tham gia tố tụng yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét lại bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân và đảm bảo sự công bằng trong xét xử.

1.2. Lịch sử phát triển quy định về kháng cáo

Quy định về kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ năm 1945 đến nay. Mỗi giai đoạn đều có những thay đổi nhằm hoàn thiện hơn quy định pháp luật, từ Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đến Bộ luật năm 2003 và 2015.

II. Vấn đề và thách thức trong kháng cáo phúc thẩm tại Bắc Kạn

Mặc dù kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm đã được quy định rõ ràng, nhưng thực tiễn tại Bắc Kạn vẫn gặp nhiều thách thức. Các vấn đề như thời hạn kháng cáo, quy trình thực hiện và sự hiểu biết của người dân về quyền kháng cáo còn hạn chế. Điều này dẫn đến việc nhiều trường hợp không được kháng cáo kịp thời, ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên.

2.1. Thời hạn kháng cáo và những khó khăn gặp phải

Thời hạn kháng cáo theo quy định là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án. Tuy nhiên, nhiều bị cáo và người tham gia tố tụng không nắm rõ quy định này, dẫn đến việc bỏ lỡ cơ hội kháng cáo.

2.2. Quy trình kháng cáo và sự thiếu minh bạch

Quy trình kháng cáo phức tạp và thiếu minh bạch cũng là một trong những nguyên nhân khiến người dân không dám thực hiện quyền kháng cáo của mình. Việc thiếu thông tin và hướng dẫn cụ thể từ các cơ quan chức năng đã làm giảm tính hiệu quả của chế định này.

III. Phương pháp và giải pháp nâng cao hiệu quả kháng cáo phúc thẩm

Để nâng cao hiệu quả của kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm, cần có những giải pháp cụ thể. Việc cải thiện quy trình kháng cáo, tăng cường tuyên truyền và giáo dục pháp luật cho người dân là rất cần thiết. Đồng thời, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tố tụng để đảm bảo quyền lợi của người tham gia tố tụng.

3.1. Cải cách quy trình kháng cáo

Cần đơn giản hóa quy trình kháng cáo để người dân dễ dàng tiếp cận và thực hiện quyền kháng cáo của mình. Việc này có thể thực hiện thông qua việc ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể và dễ hiểu.

3.2. Tăng cường tuyên truyền pháp luật

Tuyên truyền và giáo dục pháp luật cho người dân về quyền kháng cáo là rất quan trọng. Các cơ quan chức năng cần tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm để nâng cao nhận thức cho người dân về quyền lợi của mình trong tố tụng hình sự.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Bắc Kạn

Nghiên cứu thực tiễn kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm tại Bắc Kạn cho thấy nhiều kết quả tích cực nhưng cũng không ít hạn chế. Việc thu thập dữ liệu từ các vụ án đã giúp xác định rõ hơn những vấn đề tồn tại trong quy trình kháng cáo và từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp.

4.1. Kết quả đạt được trong thực tiễn kháng cáo

Trong giai đoạn từ 2010 đến 2016, số lượng vụ án được kháng cáo tại Bắc Kạn đã tăng lên đáng kể. Điều này cho thấy người dân đã dần nhận thức được quyền kháng cáo của mình.

4.2. Những hạn chế và nguyên nhân

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế trong việc thực hiện kháng cáo, như tỷ lệ kháng cáo thành công còn thấp. Nguyên nhân chủ yếu là do sự thiếu hiểu biết về quy trình và thời hạn kháng cáo.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai của kháng cáo phúc thẩm

Kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là một phần quan trọng trong hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam. Để nâng cao hiệu quả của chế định này, cần có những cải cách đồng bộ và sự tham gia tích cực từ các cơ quan chức năng cũng như sự hợp tác từ phía người dân. Hướng tới một hệ thống tư pháp công bằng và minh bạch hơn là mục tiêu cần đạt được.

5.1. Tầm quan trọng của kháng cáo trong hệ thống tư pháp

Kháng cáo không chỉ là quyền lợi của cá nhân mà còn là một phần không thể thiếu trong việc đảm bảo công lý và sự công bằng trong xã hội.

5.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các quy định pháp luật về kháng cáo, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền để người dân hiểu rõ hơn về quyền lợi của mình trong tố tụng hình sự.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls kháng cáo theo thủ thục phúc thẩm trong tố tụng hình sự việt nam trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh bắc kạn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ KHÁNG CÁO THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM 1. Khái niệm kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm. Theo Từ điển tiếng Việt, “kháng cáo là chống án lên Tòa án cấp trên yêu cầu xét xử lại” [38, tr. Khái niệm trên chỉ nêu một cách chung chung, cho ta một khái niệm khái quát và mang tính hình thức mà chưa đề cập đến những vấn đề cơ bản của kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm như: chủ thể, đối tượng… Theo cách định nghĩa này thì khái niệm “kháng cáo” đồng nghĩa với “chống án” mà trước đây một số người thường dùng.

Pháp luật TTHS nước ta hiện nay không dùng thuật ngữ này mà thống nhất dùng thuật ngữ “kháng cáo”. Trong khoa học pháp lý hiện nay, còn có những khái niệm khác nhau về kháng cáo. Trong cuốn “Từ điển giải thích luật học” của Trường Đại học Luật Hà Nội có đưa ra khái niệm kháng cáo “Người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích trong vụ án yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại bản án hoặc quyết định sơ thẩm” [31, tr. Khái niệm trên đã nêu được đối tượng, chủ thể, mục đích của kháng cáo nhưng chưa chỉ rõ được đối tượng là bản án có hiệu lực hay chưa có hiệu lực pháp luật.

Nên định nghĩa này cũng chưa đầy đủ. Tác giả Đinh Văn Quế trong cuốn “Thủ tục phúc thẩm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” đã đưa ra khái niệm “Kháng cáo là biểu thị sự bất đồng của mình đối với bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu tòa án cấp trên xét xử lại” [15, tr. Đây là một khái niệm khá đầy đủ đã nêu được chủ thể, đối tượng và Tòa án có thẩm quyền xét xử, nhưng chưa chính xác ở điểm “tòa án cấp trên”. Theo Điều 230 BLTTHS 2003 thì chỉ có “Tòa án cấp trên trực tiếp” mới có quyền xét xử lại bản án, quyết định theo thủ tục phúc thẩm khi có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Mặt 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khác, định nghĩa trên đã nêu được đối tượng của kháng cáo nhưng chưa chỉ rõ đối tượng của kháng cáo phúc thẩm. Kháng cáo “là quyền theo luật định của những người tham gia tố tụng được đề nghị Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đang còn trong thời gian kháng cáo” [1, tr. Đây là một khái niệm khá hợp lý, đã nêu được chủ thể có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là những người theo luật định mà không phải là bất cứ người tham gia tố tụng nào cũng có quyền kháng cáo như: Người bị tạm giữ, người làm chứng. Ngoài ra, khái niệm này còn nêu được Tòa án có thẩm quyền xét xử, thời hạn kháng cáo.

Tuy nhiên, khái niệm trên chưa chỉ rõ được đối tượng của kháng cáo. Nhìn chung, các khái niệm nêu trên đều chưa đưa ra được một khái niệm chính xác về kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm. Theo chúng tôi, để có được khái niệm đầy đủ và hoàn chỉnh về kháng cáo, chúng ta cần làm rõ những vấn đề sau: Thứ nhất, đối tượng của kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là các bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Trong thời hạn luật định (hoặc ngoài thời hạn luật định nhưng có lý do chính đáng), nếu bản án hoặc quyết định bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì Tòa án cấp trên của Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải xét xử lại bản án theo thủ tục phúc thẩm.

Thứ hai, chủ thể có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là những người tham gia tố tụng, nhưng không phải tất cả người tham gia tố tụng đều có quyền kháng cáo mà chỉ những người được pháp luật quy định cụ thể mới có quyền kháng cáo. Chủ thể của quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm có thể là những người có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án, bản án và quyết định của Tòa án đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Chủ thể của quyền kháng cáo còn có thể là những người không có quyền và lợi ích pháp lý 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com liên quan đến vụ án nhưng họ tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho những người khác. Đó là người mà họ đại diện hợp pháp hoặc là người họ nhận bào chữa, bảo vệ quyền lợi trong trường hợp những người này chưa thành niên hoặc có nhược điểm về thể chất, tâm thần.

Do bản án, quyết định của Tòa án có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ hoặc của người mà họ đại diện, bảo vệ nên pháp luật quy định cho họ quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm, để họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Thứ ba, mục đích của kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng. Khi xét xử Tòa án phải tuân theo pháp luật từ việc đánh giá chứng cứ đến việc đưa ra bản án, quyết định. Nhưng vì nhiều lý do khác nhau mà bản án có thể không đúng pháp luật, không đảm bảo sự chính xác.

Pháp luật quy định quyền kháng cáo phúc thẩm để Tòa án cấp trên trực tiếp phải xem xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật có sai sót, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, tạo cho công dân niềm tin vào sự công minh của pháp luật. Trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị và trong thời gian xét xử phúc thẩm, bản án sơ thẩm chưa được đưa ra thi hành. Cho nên, khi xét xử phúc thẩm bản án hoặc quyết định đó còn có thể được sửa theo hướng có lợi cho người tham gia tố tụng. Mặt khác, nếu họ bị xử oan sai ở giai đoạn sơ thẩm thì sẽ được sửa sai, minh oan và trả tự do ngay sau khi HĐXX phúc thẩm tuyên án.

Hay nếu bị cáo bị xử quá nhẹ so với hành vi phạm tội của mình thì sẽ phải chịu hình phạt thích đáng và tương ứng với thiệt hại mà mình gây ra. Quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm còn nhằm để thực hiện “nguyên tắc hai cấp xét xử”, một nguyên tắc đã có quá trình hình thành lâu dài và mới được quy định lại trong BLTTHS năm 2003. Theo đó, xét xử sơ thẩm là cấp xét xử thứ nhất, bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sau khi tuyên thì Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trực tiếp yêu cầu xét xử lại. Phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai.

Thực hiện tốt “nguyên tắc hai cấp xét xử” là đảm bảo nền pháp chế XHCN. Thứ tư, quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm của những người tham gia tố tụng phải được thể hiện dưới hình thức nhất định và theo thời hạn được quy định trong luật TTHS mới được coi là hợp pháp. Thời hạn kháng cáo được quy định chung cho tất cả các chủ thể có quyền kháng cáo nhưng cách tính thời điểm bắt đầu khác nhau. Từ những điểm đã phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm như sau: “Kháng cáo là quyền của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật được yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật trong thời hạn và theo thủ tục luật định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ”.

Cơ sở của kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm 1. Cơ sở lý luận Tư pháp hình sự là lĩnh vực hoạt động đặc thù của Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền của mình nhằm thực hiện quyền tư pháp. Lĩnh vực hoạt động này mang tính phức tạp và nhạy cảm, bởi nó động chạm trực tiếp đến các quyền và tự do dân chủ (kể cả tính mạng của công dân). Mọi sai lầm dù lớn hay nhỏ xảy ra trong quá trình xử lý tội phạm và người phạm tội đều dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, thậm chí không thể khắc phục được.

Bởi vậy, phải đề ra các hình thức, phương thức tối ưu để “phát hiện nhanh chóng, chính xác và xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân” [24, Điều 1]. Một trong những phương thức như vậy là quy định và bảo đảm thực hiện có hiệu quả quyền của những người tham gia tố tụng hình sự được kháng cáo yêu cầu xét xử phúc thẩm tại Tòa án cấp cao hơn. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Căn cứ pháp lý của kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân.

BLTTHS 2003 đã quy định về tính chất của xét xử phúc thẩm là “việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị” [24, Điều 230]. Tiếp đó các Điều từ 231 đến 240 của BLTTHS 2003 đã quy định về chủ thể có quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo, thời hạn kháng cáo, kháng cáo quá hạn, thời hạn kháng cáo, thay đổi bổ sung kháng cáo, hậu quả của kháng cáo. Tại Điều 6 của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 cũng đã quy định Tòa án nhân dân đảm bảo chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm. - Việc quy định và thực hiện chế định kháng cáo phúc thẩm là cơ sở pháp lý làm phát sinh thủ tục phúc thẩm.

Khi có kháng cáo phúc thẩm Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm sẽ tiến hành mở phiên tòa phúc thẩm xét xử lại vụ án về nội dung. Tòa án cấp phúc thẩm khi xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo và trong quá trình xét xử lại vụ án có khả năng phát hiện những sai lầm, thiếu sót trong việc xét xử sơ thẩm và sửa chữa những sai lầm, thiếu sót đó một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ