Biện pháp khám người theo luật tố tụng hình sự Việt Nam tại Hải Phòng

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu biện pháp khám người theo luật tố tụng hình sự việt nam trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2019

96
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP KHÁM XÉT NGƯỜI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1. Khái niệm, đặc điểm của biện pháp khám xét người

1.2. Vai trò của việc quy định biện pháp điều tra khám xét người trong luật tố tụng hình sự

1.3. Khái quát lịch sử phát triển của quy định pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp khám xét người từ năm 1945 đến trước khi có BLTTHS năm 2015

1.3.1. Từ năm 1945 đến trước khi có BLTTHS năm 1975

1.3.2. Từ khi có BLTTHS năm 1988 đến trước khi có BLTTHS năm 2003

1.3.3. Từ khi có BLTTHS năm 2003 đến trước khi có BLTTHS năm 2015

1.4. Khái quát biện pháp khám xét người trong pháp luật tố tụng hình sự của một số quốc gia trên thế giới

1.4.1. Pháp luật Tố tụng hình sự của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

1.4.2. Pháp luật Tố tụng hình sự của Cộng hòa Liên bang Đức

1.4.3. Pháp luật Tố tụng hình sự của Liên bang Nga

1.4.4. Pháp luật tố tụng hình sự của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

1.4.5. Pháp luật Tố tụng hình sự của Nhật Bản

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH VỀ BIỆN PHÁP KHÁM XÉT NGƯỜI TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN CƠ SỞ SỐ LIỆU THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.1. Quy định về biện pháp khám xét người trong BLTTHS năm 2015

2.2. Về căn cứ khám xét người

2.3. Về thẩm quyền ra lệnh và tiến hành khám xét người

2.4. Về trình tự, thủ tục tiến hành khám xét người

2.5. Thực tiễn áp dụng quy định của BLTTHS về biện pháp khám xét người trên cơ sở số liệu thành phố Hải Phòng

2.5.1. Tình hình thực hiện biện pháp khám xét người trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2013-2018

2.5.2. Những ưu điểm và hạn chế, thiếu sót khi áp dụng biện pháp khám xét người

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHÁM XÉT NGƯỜI

3.1. Hoàn thiện quy định về biện pháp điều tra khám xét người trong pháp luật tố tụng hình sự

3.2. Tăng cường hợp tác quốc tế về áp dụng biện pháp khám xét người trong tố tụng hình sự

3.3. Một số giải pháp khác nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp khám xét người trong tố tụng hình sự

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về biện pháp khám người theo luật tố tụng hình sự Việt Nam

Khám người là một trong những biện pháp điều tra quan trọng trong tố tụng hình sự Việt Nam. Biện pháp này không chỉ giúp phát hiện và thu thập chứng cứ mà còn đảm bảo quyền lợi của người bị khám. Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, khám người được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền nhằm mục đích điều tra, xác minh các dấu hiệu tội phạm. Việc khám người cần tuân thủ các quy định pháp luật để bảo vệ quyền con người và quyền công dân.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của biện pháp khám người

Khám người được định nghĩa là hành động lục soát nhằm phát hiện các chứng cứ liên quan đến vụ án. Đặc điểm của biện pháp này bao gồm tính cưỡng chế và tính hiệu quả trong việc thu thập chứng cứ. Khám người có thể được thực hiện trong nhiều tình huống khác nhau, như khi có căn cứ xác đáng về hành vi phạm tội.

1.2. Vai trò của biện pháp khám người trong điều tra hình sự

Biện pháp khám người đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập chứng cứ, giúp cơ quan điều tra xác định sự thật khách quan của vụ án. Việc thực hiện khám người đúng quy định sẽ góp phần nâng cao hiệu quả điều tra và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân.

II. Vấn đề và thách thức trong việc khám người theo luật hiện hành

Mặc dù biện pháp khám người đã được quy định rõ ràng trong Bộ luật Tố tụng hình sự, nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề và thách thức trong thực tiễn áp dụng. Các cơ quan thực thi pháp luật đôi khi gặp khó khăn trong việc cân bằng giữa việc thu thập chứng cứ và bảo vệ quyền lợi của người bị khám.

2.1. Những khó khăn trong việc thực hiện khám người

Một số khó khăn bao gồm việc thiếu hiểu biết về quy định pháp luật của các cơ quan thực thi, dẫn đến việc áp dụng không đồng nhất. Ngoài ra, sự phản đối từ người bị khám cũng là một thách thức lớn trong quá trình thực hiện.

2.2. Nguy cơ xâm phạm quyền lợi của người bị khám

Việc khám người có thể dẫn đến nguy cơ xâm phạm quyền riêng tư và quyền tự do cá nhân của người bị khám. Do đó, cần có các biện pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ trong quá trình thực hiện biện pháp này.

III. Phương pháp khám người theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự

Quy trình khám người được quy định rõ ràng trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Các cơ quan có thẩm quyền phải tuân thủ các bước cụ thể để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả của biện pháp này.

3.1. Căn cứ và thẩm quyền khám người

Căn cứ để tiến hành khám người bao gồm các dấu hiệu tội phạm rõ ràng. Thẩm quyền khám người không chỉ thuộc về cơ quan điều tra mà còn có thể được thực hiện bởi Viện kiểm sát và Tòa án trong một số trường hợp nhất định.

3.2. Trình tự và thủ tục khám người

Trình tự khám người cần được thực hiện theo đúng quy định pháp luật, bao gồm việc thông báo cho người bị khám, lập biên bản và đảm bảo sự chứng kiến của các bên liên quan. Điều này giúp bảo vệ quyền lợi của người bị khám và đảm bảo tính minh bạch trong quá trình điều tra.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về khám người tại Hải Phòng

Nghiên cứu thực tiễn về biện pháp khám người tại thành phố Hải Phòng cho thấy nhiều kết quả tích cực nhưng cũng bộc lộ một số hạn chế. Việc áp dụng biện pháp này cần được cải thiện để nâng cao hiệu quả điều tra.

4.1. Tình hình thực hiện biện pháp khám người tại Hải Phòng

Trong giai đoạn 2013-2018, số vụ khám người tại Hải Phòng đã tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vụ việc bị khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thực hiện biện pháp này.

4.2. Những ưu điểm và hạn chế trong thực tiễn

Ưu điểm của việc khám người là giúp phát hiện nhanh chóng các chứng cứ liên quan đến tội phạm. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất là việc thiếu sót trong quy trình thực hiện, dẫn đến việc xâm phạm quyền lợi của người bị khám.

V. Kết luận và hướng phát triển trong việc khám người theo luật tố tụng hình sự

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy cần có những cải cách trong quy định về khám người để bảo vệ quyền lợi của người dân và nâng cao hiệu quả điều tra. Hướng phát triển trong tương lai cần tập trung vào việc hoàn thiện quy trình và thủ tục khám người.

5.1. Đề xuất cải cách quy định về khám người

Cần xem xét lại các quy định hiện hành để đảm bảo tính hợp lý và khả thi trong thực tiễn. Việc cải cách này sẽ giúp nâng cao hiệu quả của biện pháp khám người trong điều tra hình sự.

5.2. Tương lai của biện pháp khám người trong tố tụng hình sự

Tương lai của biện pháp khám người cần được định hình bởi sự phát triển của pháp luật và thực tiễn. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan thực thi pháp luật để đảm bảo quyền lợi của người dân và hiệu quả trong điều tra.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/08/2025
Luận văn thạc sĩ biện pháp khám người theo luật tố tụng hình sự việt nam trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố hải phòng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP KHÁM XÉT NGƢỜI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm của biện pháp khám xét ngƣời 1. Khái niệm Khám xét là một trong những biện pháp điều tra nhằm phát hiện và thu thập những đồ vật, công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu có liên quan đến vụ án. Các hoạt động khám xét rất đa dạng bao gồm: khám xét người, ch ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử.

Trong đó, biện pháp khám xét người là một trong các hoạt động của biện pháp khám xét, mang đầy đủ bản chất, đặc điểm của biện pháp khám xét. Như vậy, để định nghĩa được khám xét người, trước hết phải tìm hiểu về khám xét nói chung. Các hoạt động khám xét đã được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự, được các cơ quan có thẩm quyền thực hiện thường xuyên, tuy nhiên, khái niệm pháp lý về nó chưa được quy định cụ thể trong BLTTHS năm 2015. Dưới góc độ ngôn ngữ học, khái niệm về khám xét cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, cách định nghĩa khác nhau: Theo Từ điển tiếng Việt, dưới góc độ pháp lý, “khám” được hiểu là: “Xét, lục soát để tìm tang chứng của tội lỗi, của hoạt động phạm pháp” [38, tr.

Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa: “khám xét là lục tìm cái che dấu” [29, tr. Khám xét là hoạt động nghiệp vụ điều tra của cơ quan có thẩm quyền; áp dụng nhằm tìm kiếm và thu hồi chứng cứ; phát hiện những người đang bị truy nã và phát hiện tử thi. Nghiệp vụ khám xét là hoạt động điều tra ban đầu, được thực hiện trong toàn bộ quá trình tố tụng, bắt đầu từ khi có căn cứ để 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiến hành khám xét; trong trường hợp cần kiểm tra, xác minh các tin tức về tội phạm thì hoạt động này hoàn toàn có thể được thực hiện trước khi khởi tố vụ án hình sự, ví dụ trường hợp bắt quả tang hoặc bắt khẩn cấp. Theo Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2014 thì: Khám xét là biện pháp điều tra bằng cách tìm tòi, lục soát có định hướng người, ch ở, địa điểm, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, nhằm thu thập công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết của tội phạm hoặc những vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án đang giải quyết hoặc xác chết hay người bị truy nã [7, tr.

Giáo trình Khoa học điều tra hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2014 định nghĩa: Khám xét là biện pháp điều tra được tiến hành bằng cách tìm tòi, lục soát, cưỡng chế người, ch ở, địa điểm, thư tín, bưu kiện, bưu phẩm nhằm phát hiện, thu giữ công cụ, phương tiện phạm tội; đồ vật, tài sản do người phạm tội mà có, đồ vật tài liệu khác có liên quan đến vụ án hoặc phát hiện xác chết hay người đang bị truy nã, người bị bắt cóc [31, tr. Nguyễn Ngọc Anh định nghĩa về khám xét trong Cuốn Sổ tay pháp luật của Điều tra viên: Khám xét là hoạt động điều tra được quy định trong BLTTHS, do CQĐT tiến hành bằng cách lục soát người, ch ở, ch làm việc, địa điểm để tìm kiếm dấu vết tội phạm, thu thập tài liệu, vật chứng hoặc những đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án [1, tr. Về vấn đề này, TS. Trần Quang Tiệp quan niệm trong sách chuyên khảo Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự như sau: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khám xét là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự do cơ quan có thẩm quyền áp dụng, hạn chế quyền tự do thân thể, quyền bất khả xâm phạm về ch ở, bí mật thư tín, điện tín của người bị áp dụng bằng cách tìm tòi, lục soát người, ch ở, ch làm việc, địa điểm, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm nhằm phát hiện, thu thập công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có, đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án hoặc phát hiện, bắt người bị truy nã [28, tr.

Các khái niệm về hoạt động khám xét trong các giáo trình và sách chuyên khảo đã làm rõ hơn về định nghĩa so với các Từ điển; đồng thời, nhấn mạnh, làm sáng tỏ được bản chất của biện pháp khám xét. Theo đó, bản chất của hoạt động khám xét là sự tìm tòi, lục soát, cưỡng chế của các cơ quan có thẩm quyền đối với những đối tượng nhất định. Tuy nhiên, cách định nghĩa tại các giáo trình, sách chuyên khảo cũng tồn tại một số điểm hạn chế. Thứ nhất, hạn chế về việc liệt kê các hoạt động khám xét; hạn chế này xuất phát từ thời điểm hoàn thành của các công trình nghiên cứu.

Thời điểm hoàn thành các công trình nêu trên là thời điểm BLTTHS năm 2003 đang có hiệu lực; đến nay, BLTTHS năm 2015 đã có hiệu lực, và bổ sung thêm hai đối tượng của khám xét so với BLTTHS năm 2003, đó là phương tiện và dữ liệu điện tử. Như vậy, các hoạt động khám xét theo pháp luật hiện hành bao gồm: khám xét người, ch ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử. Thứ hai, các khái niệm chưa đề cập đến các nội dung về căn cứ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền tiến hành khám xét hoặc có đề cập nhưng chưa đầy đủ. Khái niệm được đề cập trong trong giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của hai trường đại học đều chưa nêu về thẩm quyền tiến hành khám xét; còn khái niệm được nêu trong sách chuyên khảo của PGS.TS Nguyễn 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngọc Anh có đề cập đến nhưng chỉ quan niệm thẩm quyền khám xét thuộc về CQĐT.

Theo quy định tại Điều 192 BLTTHS năm 2015 thì ngoài CQĐT, còn có các cơ quan khác có thẩm quyền tiến hành khám xét trong phạm vi quyền hạn của mình theo quy định pháp luật như VKS, Tòa án nhân dân, Biên phòng,… Như vậy, dưới góc độ khoa học luật tố tụng hình sự, khái niệm về khám xét có thể được khái quát như sau: Khám xét là một trong các biện pháp điều tra có tính cưỡng chế trong tố tụng hình sự; do cơ quan có thẩm quyền tiến hành bằng cách tìm tòi, lục soát dựa trên căn cứ, thủ tục và trình tự theo quy định của pháp luật đối với người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện t ; nhằm phát hiện và thu thập chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án; phát hiện người đang bị truy nã, t thi và giải cứu nạn nhân. Từ những phân tích nêu trên và khái niệm khám xét đã được tổng kết, có thể rút ra kết luận về khái niệm khám xét người: Khám xét người là một trong các hoạt động khám xét được quy định trong luật tố tụng hình sự; do cơ quan có thẩm quyền tiến hành bằng cách tìm tòi, lục soát trong người, trong quần áo đang mặc và đồ vật đem theo, dựa trên căn cứ, thủ tục và trình tự luật định nhằm mục đích phát hiện, thu thập chứng cứ liên quan đến vụ án hoặc các tài liệu, đồ vật bất hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Đặc điểm Khám xét người có một số đặc điểm như sau: Thứ nhất, khám xét người là biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự có tính hiệu quả, nhằm mục đích phát hiện, thu thập chứng cứ liên quan đến vụ án hoặc các tài liệu, đồ vật bất hợp pháp khác theo quy định pháp luật. Khám xét người được quy định tại Điều 194 BLTTHS năm 2015.

Theo đó, khi khám xét người, cơ quan có thẩm quyền tiến hành lục soát, tìm tòi trong người, trong quần áo đang mặc và đồ vật đem theo của bị can, bị cáo, 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người bị bắt giữ trong trường hợp quả tang hoặc khẩn cấp, người đang bị truy nã hoặc người có mặt ở nơi đang bị khám xét mà có căn cứ cho rằng người đó đang giấu trong người đồ vật cần thu giữ, nhằm mục đích phát hiện, thu giữ những vật chứng và tài liệu liên quan đến vụ án. Các vật chứng, tài liệu thu thập được là một trong những cơ sở quan trọng làm căn cứ để xác định có hay không hành vi phạm tội; nếu xác định được có hành vi phạm tội, cơ quan có thẩm quyền kịp thời đưa ra những quyết định trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình; từ đó, lập kế hoạch, phương hướng điều tra và tổ chức thực hiện các hoạt động điều tra phù hợp, từng bước giải quyết và nhanh chóng làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án hình sự một cách đầy đủ, toàn diện. Thứ hai, khám xét người là biện pháp điều tra mang tính cưỡng chế trong tố tụng hình sự Theo Từ điển tiếng Việt năm 2003, “cưỡng chế là buộc người khác phải làm theo những ý nghĩ hoặc hành động của mình” [38, tr. Trong khoa học pháp lý, cưỡng chế được hiểu là việc căn cứ vào các quy định của pháp luật để buộc đối tượng bị áp dụng phải tuân theo những mệnh lệnh, yêu cầu nhất định.

Trong pháp luật tố tụng hình sự, có nhiều biện pháp có tính cưỡng chế khác nhau, như: biện pháp ngăn chặn (giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh); biện pháp cưỡng chế (áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản); hoặc các biện pháp điều tra thể hiện tính cưỡng chế như khám xét, thu giữ, tạm giữ vật chứng, tài liệu có liên quan trực tiếp đến vụ án,… Khi tiến hành áp dụng các biện pháp có tính cưỡng chế này, cơ quan có thẩm quyền phải đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật để buộc các đối tượng bị áp dụng phải tuân thủ. Tính cưỡng chế của biện pháp khám xét người đến từ việc đối tượng của biện pháp này là con người. Có thể thấy, khám xét người là biện pháp 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ