Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP KHÁM XÉT NGƢỜI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm của biện pháp khám xét ngƣời 1. Khái niệm Khám xét là một trong những biện pháp điều tra nhằm phát hiện và thu thập những đồ vật, công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu có liên quan đến vụ án. Các hoạt động khám xét rất đa dạng bao gồm: khám xét người, ch ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử.
Trong đó, biện pháp khám xét người là một trong các hoạt động của biện pháp khám xét, mang đầy đủ bản chất, đặc điểm của biện pháp khám xét. Như vậy, để định nghĩa được khám xét người, trước hết phải tìm hiểu về khám xét nói chung. Các hoạt động khám xét đã được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự, được các cơ quan có thẩm quyền thực hiện thường xuyên, tuy nhiên, khái niệm pháp lý về nó chưa được quy định cụ thể trong BLTTHS năm 2015. Dưới góc độ ngôn ngữ học, khái niệm về khám xét cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, cách định nghĩa khác nhau: Theo Từ điển tiếng Việt, dưới góc độ pháp lý, “khám” được hiểu là: “Xét, lục soát để tìm tang chứng của tội lỗi, của hoạt động phạm pháp” [38, tr.
Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa: “khám xét là lục tìm cái che dấu” [29, tr. Khám xét là hoạt động nghiệp vụ điều tra của cơ quan có thẩm quyền; áp dụng nhằm tìm kiếm và thu hồi chứng cứ; phát hiện những người đang bị truy nã và phát hiện tử thi. Nghiệp vụ khám xét là hoạt động điều tra ban đầu, được thực hiện trong toàn bộ quá trình tố tụng, bắt đầu từ khi có căn cứ để 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiến hành khám xét; trong trường hợp cần kiểm tra, xác minh các tin tức về tội phạm thì hoạt động này hoàn toàn có thể được thực hiện trước khi khởi tố vụ án hình sự, ví dụ trường hợp bắt quả tang hoặc bắt khẩn cấp. Theo Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2014 thì: Khám xét là biện pháp điều tra bằng cách tìm tòi, lục soát có định hướng người, ch ở, địa điểm, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, nhằm thu thập công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết của tội phạm hoặc những vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án đang giải quyết hoặc xác chết hay người bị truy nã [7, tr.
Giáo trình Khoa học điều tra hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2014 định nghĩa: Khám xét là biện pháp điều tra được tiến hành bằng cách tìm tòi, lục soát, cưỡng chế người, ch ở, địa điểm, thư tín, bưu kiện, bưu phẩm nhằm phát hiện, thu giữ công cụ, phương tiện phạm tội; đồ vật, tài sản do người phạm tội mà có, đồ vật tài liệu khác có liên quan đến vụ án hoặc phát hiện xác chết hay người đang bị truy nã, người bị bắt cóc [31, tr. Nguyễn Ngọc Anh định nghĩa về khám xét trong Cuốn Sổ tay pháp luật của Điều tra viên: Khám xét là hoạt động điều tra được quy định trong BLTTHS, do CQĐT tiến hành bằng cách lục soát người, ch ở, ch làm việc, địa điểm để tìm kiếm dấu vết tội phạm, thu thập tài liệu, vật chứng hoặc những đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án [1, tr. Về vấn đề này, TS. Trần Quang Tiệp quan niệm trong sách chuyên khảo Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự như sau: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khám xét là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự do cơ quan có thẩm quyền áp dụng, hạn chế quyền tự do thân thể, quyền bất khả xâm phạm về ch ở, bí mật thư tín, điện tín của người bị áp dụng bằng cách tìm tòi, lục soát người, ch ở, ch làm việc, địa điểm, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm nhằm phát hiện, thu thập công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có, đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án hoặc phát hiện, bắt người bị truy nã [28, tr.
Các khái niệm về hoạt động khám xét trong các giáo trình và sách chuyên khảo đã làm rõ hơn về định nghĩa so với các Từ điển; đồng thời, nhấn mạnh, làm sáng tỏ được bản chất của biện pháp khám xét. Theo đó, bản chất của hoạt động khám xét là sự tìm tòi, lục soát, cưỡng chế của các cơ quan có thẩm quyền đối với những đối tượng nhất định. Tuy nhiên, cách định nghĩa tại các giáo trình, sách chuyên khảo cũng tồn tại một số điểm hạn chế. Thứ nhất, hạn chế về việc liệt kê các hoạt động khám xét; hạn chế này xuất phát từ thời điểm hoàn thành của các công trình nghiên cứu.
Thời điểm hoàn thành các công trình nêu trên là thời điểm BLTTHS năm 2003 đang có hiệu lực; đến nay, BLTTHS năm 2015 đã có hiệu lực, và bổ sung thêm hai đối tượng của khám xét so với BLTTHS năm 2003, đó là phương tiện và dữ liệu điện tử. Như vậy, các hoạt động khám xét theo pháp luật hiện hành bao gồm: khám xét người, ch ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử. Thứ hai, các khái niệm chưa đề cập đến các nội dung về căn cứ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền tiến hành khám xét hoặc có đề cập nhưng chưa đầy đủ. Khái niệm được đề cập trong trong giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của hai trường đại học đều chưa nêu về thẩm quyền tiến hành khám xét; còn khái niệm được nêu trong sách chuyên khảo của PGS.TS Nguyễn 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngọc Anh có đề cập đến nhưng chỉ quan niệm thẩm quyền khám xét thuộc về CQĐT.
Theo quy định tại Điều 192 BLTTHS năm 2015 thì ngoài CQĐT, còn có các cơ quan khác có thẩm quyền tiến hành khám xét trong phạm vi quyền hạn của mình theo quy định pháp luật như VKS, Tòa án nhân dân, Biên phòng,… Như vậy, dưới góc độ khoa học luật tố tụng hình sự, khái niệm về khám xét có thể được khái quát như sau: Khám xét là một trong các biện pháp điều tra có tính cưỡng chế trong tố tụng hình sự; do cơ quan có thẩm quyền tiến hành bằng cách tìm tòi, lục soát dựa trên căn cứ, thủ tục và trình tự theo quy định của pháp luật đối với người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện t ; nhằm phát hiện và thu thập chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án; phát hiện người đang bị truy nã, t thi và giải cứu nạn nhân. Từ những phân tích nêu trên và khái niệm khám xét đã được tổng kết, có thể rút ra kết luận về khái niệm khám xét người: Khám xét người là một trong các hoạt động khám xét được quy định trong luật tố tụng hình sự; do cơ quan có thẩm quyền tiến hành bằng cách tìm tòi, lục soát trong người, trong quần áo đang mặc và đồ vật đem theo, dựa trên căn cứ, thủ tục và trình tự luật định nhằm mục đích phát hiện, thu thập chứng cứ liên quan đến vụ án hoặc các tài liệu, đồ vật bất hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Đặc điểm Khám xét người có một số đặc điểm như sau: Thứ nhất, khám xét người là biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự có tính hiệu quả, nhằm mục đích phát hiện, thu thập chứng cứ liên quan đến vụ án hoặc các tài liệu, đồ vật bất hợp pháp khác theo quy định pháp luật. Khám xét người được quy định tại Điều 194 BLTTHS năm 2015.
Theo đó, khi khám xét người, cơ quan có thẩm quyền tiến hành lục soát, tìm tòi trong người, trong quần áo đang mặc và đồ vật đem theo của bị can, bị cáo, 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người bị bắt giữ trong trường hợp quả tang hoặc khẩn cấp, người đang bị truy nã hoặc người có mặt ở nơi đang bị khám xét mà có căn cứ cho rằng người đó đang giấu trong người đồ vật cần thu giữ, nhằm mục đích phát hiện, thu giữ những vật chứng và tài liệu liên quan đến vụ án. Các vật chứng, tài liệu thu thập được là một trong những cơ sở quan trọng làm căn cứ để xác định có hay không hành vi phạm tội; nếu xác định được có hành vi phạm tội, cơ quan có thẩm quyền kịp thời đưa ra những quyết định trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình; từ đó, lập kế hoạch, phương hướng điều tra và tổ chức thực hiện các hoạt động điều tra phù hợp, từng bước giải quyết và nhanh chóng làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án hình sự một cách đầy đủ, toàn diện. Thứ hai, khám xét người là biện pháp điều tra mang tính cưỡng chế trong tố tụng hình sự Theo Từ điển tiếng Việt năm 2003, “cưỡng chế là buộc người khác phải làm theo những ý nghĩ hoặc hành động của mình” [38, tr. Trong khoa học pháp lý, cưỡng chế được hiểu là việc căn cứ vào các quy định của pháp luật để buộc đối tượng bị áp dụng phải tuân theo những mệnh lệnh, yêu cầu nhất định.
Trong pháp luật tố tụng hình sự, có nhiều biện pháp có tính cưỡng chế khác nhau, như: biện pháp ngăn chặn (giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh); biện pháp cưỡng chế (áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản); hoặc các biện pháp điều tra thể hiện tính cưỡng chế như khám xét, thu giữ, tạm giữ vật chứng, tài liệu có liên quan trực tiếp đến vụ án,… Khi tiến hành áp dụng các biện pháp có tính cưỡng chế này, cơ quan có thẩm quyền phải đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật để buộc các đối tượng bị áp dụng phải tuân thủ. Tính cưỡng chế của biện pháp khám xét người đến từ việc đối tượng của biện pháp này là con người. Có thể thấy, khám xét người là biện pháp 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.