Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Ngọc Anh (chuyên ngành Văn hóa du lịch, ngành Việt Nam học, Trường Đại học Dân lập Hải Phòng) được thực hiện trong bối cảnh du lịch văn hóa tộc người đang trở thành xu hướng thu hút sự quan tâm của du khách trong và ngoài nước. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 tộc người cùng hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú. Trong đó, người Tày là tộc người có dân số đông thứ hai tại Việt Nam và cư ngụ lâu đời tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Di sản Then của người Tày là loại hình diễn xướng dân gian gắn liền với đời sống tâm linh, lao động sản xuất. Đầu năm 2017, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đại diện Chính phủ ký hồ sơ "Thực hành Then của người Tày, Nùng ở Việt Nam" trình UNESCO xem xét ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Tại tỉnh Quảng Ninh, theo số liệu điều tra ngày 01/04/2009 của Tổng cục Thống kê, toàn tỉnh có 34 dân tộc sinh sống, trong đó người Tày là tộc người đông thứ ba. Riêng tại huyện biên giới Bình Liêu, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 93% dân số toàn huyện, trong đó người Tày chiếm 50,3%. Dù sở hữu cảnh quan thiên nhiên đặc trưng và kho tàng văn hóa dân gian phong phú, du lịch Bình Liêu thời điểm nghiên cứu vẫn chưa khai thác tương xứng với tiềm năng; lượng khách du lịch đến Quảng Ninh tăng trưởng mạnh nhưng chủ yếu tập trung tại các trung tâm đô thị và khu vui chơi ven biển (như thành phố Hạ Long) mà ít tiếp cận các huyện vùng cao. Bên cạnh đó, quá trình giao lưu văn hóa và biến đổi kinh tế - xã hội đang đặt di sản văn hóa Then trước nguy cơ mai một.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về văn hóa tộc người, vai trò của văn hóa tộc người đối với phát triển du lịch và khảo sát chi tiết giá trị văn hóa Then của người Tày tại huyện Bình Liêu.
  2. Đánh giá tiềm năng, thực trạng khai thác văn hóa Then phục vụ hoạt động du lịch tại địa phương.
  3. Đề xuất các phương án bảo tồn, phục hồi và giải pháp cụ thể nhằm khai thác hiệu quả giá trị văn hóa Then gắn với phát triển du lịch; đồng thời kiến nghị các cấp quản lý và ngành chức năng phối hợp chỉ đạo thực hiện.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố văn hóa truyền thống của người Tày, trọng tâm là văn hóa Then tại huyện Bình Liêu nhằm phục vụ khai thác du lịch.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các giá trị văn hóa phi vật thể của người Tày (nghi lễ Then, diễn xướng dân gian, phong tục tập quán).
  • Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận vận dụng các khái niệm và khung lý thuyết chuyên ngành Dân tộc học và Du lịch học:

  • Khái niệm "Tộc người" (Ethnos / Ethnography) và "Văn hóa tộc người": Tiếp cận phân loại cấu trúc văn hóa tộc người theo trường phái dân tộc học của Cộng hòa Xô viết Armenia (Liên Xô) thập niên 70 gồm bốn thành tố: văn hóa sản xuất, văn hóa bảo đảm đời sống, văn hóa chuẩn mực xã hội, và văn hóa nhận thức xã hội; kết hợp cách phân chia di sản văn hóa thành văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể theo công ước của UNESCO năm 1988.
  • Khái niệm "Then": Bản chất từ "Then" trong tiếng Tày có nghĩa là "Thiên" (Trời), là hình thức tín ngưỡng cúng vía, cầu an, kết nối con người với thế giới thần linh (Mường Trời, Bụt, Giàng) thông qua các ông Then, bà Then bằng hệ thống diễn xướng âm nhạc, đàn Tính, xóc nhạc và đường Then.
  • Phân loại tài nguyên du lịch văn hóa: Khóa luận hệ thống hóa tài nguyên du lịch tộc người theo nhóm ngữ hệ, theo 6 vùng văn hóa của Việt Nam (Tây Bắc, Việt Bắc - Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Trường Sơn - Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long) và theo địa vực cư trú theo độ cao (trên cao, rẻo giữa, thung lũng chân núi, trung du, châu thổ, ven biển), trong đó tộc người Tày thuộc loại hình văn hóa thung lũng chân núi vùng Đông Bắc.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai:

  • Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Thu thập thông tin từ các giáo trình chuyên ngành Dân tộc học, Văn hóa học, Du lịch học, các báo cáo tổng kết, số liệu thống kê kinh tế - xã hội của địa phương và tài liệu lưu trữ.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và thống kê: Hệ thống hóa tài liệu để so sánh đặc điểm văn hóa Then tại Bình Liêu với các địa bàn khác như Hà Giang (lẩu Then bjoóc mạ xã Phương Độ), Lào Cai (nghi lễ Then và Lễ Pang Luông tại Văn Bàn, Bảo Yên), và Lạng Sơn (hát Then của người Nùng).
  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Số liệu tổng điều tra dân số năm 1989, 1999, 2009; tài liệu nghiên cứu lịch sử địa phương (Revoi Indochinoise 1905 của Reversery, Tiểu dẫn về tỉnh Hải Ninh 1932, Lược chí địa lý khu tự trị vùng Hải Ninh 1949 của Voong A Sáng); báo cáo thực hiện kinh tế - xã hội huyện Bình Liêu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Khái quát chung về văn hóa tộc người Tày tại huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh

Chương đầu tiên dành dung lượng lớn để làm rõ bức tranh tổng thể về địa bàn nghiên cứu, nguồn gốc tộc người và các biểu hiện văn hóa vật thể, phi vật thể đặc trưng của người Tày tại Bình Liêu.

Tác giả tổng hợp đặc điểm địa lý, tự nhiên và hành chính của huyện Bình Liêu qua các chỉ số:

Tiêu chí Thông tin và số liệu ghi nhận trong văn bản
Vị trí tọa độ 21°27’ đến 21°39’ vĩ độ Bắc; 107°17’ đến 107°36’ kinh độ Đông
Tiếp giáp Bắc giáp Sùng Tả và Phòng Thành Cảng (Quảng Tây, Trung Quốc) với 42,7 km đường biên; Tây giáp huyện Đình Lập (Lạng Sơn); Đông giáp huyện Hải Hà (Quảng Hà); Nam giáp huyện Tiên Yên và Đầm Hà
Khoảng cách Cách thành phố Hạ Long 130 km, cách ngã ba Tiên Yên 40 km (qua Quốc lộ 18C)
Diện tích tự nhiên 471,38 km² (địa hình núi non trùng điệp; đất lâm nghiệp chiếm 70%, đất nông nghiệp hơn 7.000 ha chiếm 15,6%)
Địa hình đặc trưng Đỉnh núi Cao Xiêm (cao 1.330 m), đỉnh Cao Ba Lanh (cao 1.050 m); các thác nước Khe Vằn, Khe Tiền; sông Tiên Yên (lưu lượng bình quân 21,3 m³/s, khoảng 609 triệu m³/năm)
Khí hậu Nhiệt độ trung bình 17–22°C (mùa đông có đợt xuống 4°C, có sương muối); lượng mưa trung bình trên 2.400 mm/năm (dao động từ 1.000 đến trên 3.000 mm); độ ẩm trên 80%
Đơn vị hành chính Gồm 8 đơn vị: Thị trấn Bình Liêu, xã Đồng Văn, xã Hoành Mô, xã Đồng Tâm, xã Lục Hồn, xã Tĩnh Húc, xã Vô Ngại, xã Húc Động
Dân số và cơ cấu tộc người Dân số 25.626 người (1999) / 27.629 người (2009); mật độ 55 người/km². Người Tày chiếm 58,4% (1999) / 50,3% (2009); người Dao 25,6%; người Sán Chay (Sán Chỉ) 15,4%; người Kinh 3,7%; người Hoa 0,3%
Kinh tế đặc thù Nông - lâm nghiệp là chủ đạo; cây đặc sản: hồi, quế, trầu, sở, thông Mã Vĩ (57% diện tích rừng trồng mới), keo; sản phẩm tiểu thủ công nghiệp miến dong Bình Liêu; kinh tế cửa khẩu Hoành Mô (kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2009 ước đạt 18 triệu USD)

Về lịch sử hình thành tộc người Tày tại địa phương, tác giả dẫn các nguồn khảo cứu từ đầu thế kỷ XX: người Tày tại Bình Liêu gồm hai nhánh chính là nhóm Phén (Phén Lão, có nguồn gốc di cư từ Phòng Thành, Quảng Đông) và nhóm Thổ (Thổ Nhằn, di cư từ Khâm Châu, Quảng Đông), cùng thuộc khối Bách Việt xưa. Năm 1989, toàn tỉnh Quảng Ninh có 23.130 người Tày thì huyện Bình Liêu chiếm 10.758 người (tỷ lệ 46%).

Về đặc trưng diện mạo văn hóa người Tày huyện Bình Liêu:

  • Văn hóa vật thể: Kiến trúc nhà sàn truyền thống (kết cấu 4 đến 7 hàng cột, 2 hoặc 4 mái lợp ngói âm dương/tranh lá, vách thưng ván gỗ/liếp nứa; hiện nay đang chuyển dịch sang nhà xây gạch kiên cố); trang phục truyền thống bằng vải sợi bông nhuộm màu chàm đồng nhất, nam mặc áo cánh 4 thân hoặc áo dài 5 thân cài cúc vải/đồng, nữ mặc áo dài 5 thân kết hợp áo lót trắng bên trong, đội khăn chàm gấp kiểu mỏ quạ, nón nan tre lợp lá mái bằng rộng; nghệ thuật dệt thổ cẩm với họa tiết cây cỏ, muông thú, chữ Hán phối màu ngũ sắc; công cụ canh tác gồm cày chìa vôi, cọn nước, máng loóng đập lúa.
  • Văn hóa phi vật thể: Ngôn ngữ tiếng Tày cùng chữ viết Nôm Tày ra đời khoảng thế kỷ XV; kho tàng văn học dân gian phong phú với thể loại hát Lượn phong slư (phảng lài - thơ tình thất ngôn trường thiên); tín ngưỡng dân gian thờ cúng tổ tiên, thờ Táo quân (vị thần bảo vệ gia súc, bàn thờ đặt cạnh bếp làm bằng ống tre dán giấy đỏ), cúng Thổ công (thần bảo vệ bản làng, mùa màng); phong tục gia đình phụ hệ, hôn nhân một vợ một chồng ngoại hôn dòng họ (trải qua 5 bước: lễ dặm hỏi, lễ trầu cau xin bản lục mệnh 12 cung, lễ kê khai thách cưới, lễ cưới, lễ lại mặt sau 3 ngày); lễ đầy tháng (ngày 25 cho bé trai, ngày 30 cho bé gái); lễ mừng thọ với 6 nghi thức (dựng lương, chuyển lương, dâng rượu đốt đèn, hoàn phúc, làm lường/buộc lương vào cây thượng lương, trồng cây mệnh là mai hoặc chuối); văn hóa ẩm thực truyền thống (xôi đăm đeng ngũ sắc ngâm lá cẩm rừng, bánh chưng dài không dùng khuôn luộc 10 tiếng, bánh coóc mò bằng lá chít, bánh gio ngâm nước tro chấm mật ong rừng, bánh tài lồng ệp đường phèn, bánh gật gù chấm mắm cốt, thịt khau nhục, món nằm quắt chân giò); các lễ hội tiêu biểu như hội hát au-pò (14–16 tháng 3 âm lịch), hội Lồng Tồng (xuống đồng vào tháng Giêng, tháng Hai âm lịch), và Tết Cơm mới (tháng 10, tháng 11 âm lịch).

Chương II: Văn hóa Then của người Tày ở huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh

Chương này đi sâu khảo sát bản chất, không gian thực hành và giá trị nghệ thuật của di sản Then Tày:

  • Nguồn gốc và quan niệm tâm linh: Người Tày quan niệm thế giới siêu nhiên gồm các lực lượng thần linh (Bụt, Giàng, Ngọc Hoàng, Táo quân, Thổ công) và hệ thống ma quỷ ("Phi", gồm Phi lành và Phi dữ). Ông Then, bà Then là những người có năng lực đặc biệt, đại diện cho con người thực hiện các nghi lễ vượt qua các chặng đường, cung cửa lên Mường Trời để giải hạn, trừ tà ma, cầu phúc lộc và cầu an cho gia chủ.
  • Hệ thống nghi lễ Then: Gồm Then cầu an giải hạ (tổ chức dịp đầu năm mới), Then Nàng Hang (dịp Tết Trung thu), Then cúng mụ (lễ đầy tháng trẻ nhỏ), Then thôi tang (mãn tang sau 3 năm), và Lẩu Then (đại lễ cấp sắc cho thầy Then gồm các cấp độ: lẩu Then khai quang, tăng sắc, khao quân, cáo lão).
  • Nghệ thuật diễn xướng Then: Diễn xướng Then là sự hòa quyện giữa yếu tố âm nhạc, ca từ (đường the), vũ đạo và đạo cụ. Hai nhạc cụ/vật phẩm giữ vai trò cốt lõi là cây đàn Tính (tính tẩu) và chùm xóc nhạc; kết hợp quạt giấy và trang phục hành lễ. Tiếng Then kết hợp nhịp điệu đàn Tính tạo nên không gian linh thiêng, đồng thời mang tính tự sự dân gian sâu sắc.
  • Sự chuyển biến chức năng: Tác giả nhấn mạnh quá trình phát triển của Then từ loại hình tín ngưỡng cúng bái tâm linh thuần túy sang hình thức nghệ thuật dân ca - dân vũ quần chúng. Nửa thế kỷ trước, tại Bình Liêu đã xuất hiện những nghệ nhân hát Then tiêu biểu như ông già mù Lô Chính – người mang tiếng hát Then, đàn Tính giao duyên khắp các bản làng, làm nhịp cầu tình yêu cho thanh niên nam nữ Tày.
  • Tiềm năng phát triển du lịch: Then Tày sở hữu tính độc đáo, khác biệt và gắn bó mật thiết với không gian sinh thái núi rừng Bình Liêu, là tài nguyên du lịch nhân văn có giá trị cao để phát triển các sản phẩm du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm văn hóa bản địa.

Chương III: Thực trạng và giải pháp khai thác văn hóa Then phục vụ hoạt động du lịch tại địa phương

Nội dung chương 3 đánh giá thực trạng công tác bảo tồn, phát huy di sản Then gắn với du lịch tại Bình Liêu và đề xuất các nhóm giải pháp can thiệp:

  • Thực trạng: Hoạt động du lịch tại Bình Liêu thời điểm nghiên cứu còn mang tính tự phát; các giá trị văn hóa Then chưa được đưa vào chương trình du lịch một cách bài bản; lượng nghệ nhân Then cổ suy giảm do tuổi tác; thế hệ trẻ ít mặn mà với nghệ thuật dân tộc; cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch còn thiếu thốn; sự phối hợp giữa các đơn vị lữ hành và cộng đồng địa phương còn rời rạc.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất:
    1. Bảo tồn và phục dựng các nghi lễ Then truyền thống: Tổ chức điều tra, sưu tầm, ghi âm, ký âm các làn điệu Then cổ và biên soạn tư liệu bảo tồn; khôi phục không gian diễn xướng Then nguyên bản.
    2. Thành lập và duy trì các câu lạc bộ văn hóa Then - đàn Tính: Khuyến khích các nghệ nhân cao tuổi truyền dạy kỹ thuật đánh đàn Tính và hát Then cho thanh thiếu niên tại các xã, trường học trên địa bàn.
    3. Xây dựng sản phẩm du lịch gắn với biểu diễn Then: Lồng ghép trình diễn Then vào các lễ hội truyền thống (Lễ hội đình Lục Nà, Lồng Tồng, hội au-pò tháng 3 âm lịch) và các tuyến điểm du lịch sinh thái thác Khe Vằn, bản làng du lịch cộng đồng; đưa trích đoạn Then vào phục vụ du khách có nhu cầu tìm hiểu văn hóa.
    4. Đẩy mạnh công tác quảng bá, tuyên truyền: Giới thiệu nghệ thuật Then trên các phương tiện truyền thông, xuất bản ấn phẩm du lịch, đưa Then tham gia các liên hoan nghệ thuật quần chúng toàn quốc.
    5. Tăng cường phối hợp quản lý và đầu tư hạ tầng: Kiến nghị chính quyền các cấp, cơ quan quản lý văn hóa, du lịch tỉnh Quảng Ninh và huyện Bình Liêu có chính sách hỗ trợ nghệ nhân, đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông kết nối các điểm du lịch bản làng.

Kết quả nghiên cứu và giải pháp đề xuất

Khóa luận đã đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên số liệu và khảo cứu thực địa:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ cấu dân tộc và điều kiện tự nhiên - văn hóa huyện Bình Liêu: Cung cấp bức tranh nhân khẩu học với tỷ lệ người Tày chiếm đa số (58,4% năm 1999 và 50,3% năm 2009), phân tích rõ địa bàn phân bố 8 xã, thị trấn và các đặc trưng văn hóa vật thể (nhà ở, trang phục chàm, thổ cẩm) cùng văn hóa phi vật thể (hát Then, lượn phong slư, ẩm thực xôi đăm đeng, bánh chưng dài).
  • Xác định cấu trúc thực hành của di sản Then Tày: Làm rõ tiến trình nghi lễ Then gồm hệ thống 5 loại hình chính (Then cầu an, Then Nàng Hang, Then cúng mụ, Then thôi tang, Lẩu Then) và cơ chế diễn xướng kết hợp đàn Tính - xóc nhạc.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Tác giả tự nêu rõ, trong khi các công trình trước đây tại địa phương chủ yếu nghiên cứu chung về địa lý, kinh tế hoặc tổng quan các dân tộc thiểu số toàn huyện, đề tài này là công trình chuyên biệt đi sâu vào việc nhận diện giá trị văn hóa Then của người Tày dưới góc độ tài nguyên du lịch nhân văn, từ đó định hướng giải pháp khai thác gắn với bảo tồn di sản bền vững tại huyện Bình Liêu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu mở rộng

  • Hạn chế: Khóa luận chủ yếu tiếp cận nghiên cứu dựa trên tài liệu thứ cấp, văn bản lưu trữ và quan sát mô tả văn hóa dân tộc học; chưa xây dựng bảng hỏi điều tra xã hội học định lượng quy mô lớn về mức độ hài lòng hay nhu cầu chi tiêu của du khách đối với sản phẩm du lịch văn hóa Then tại Bình Liêu.
  • Hướng mở rộng: Nghiên cứu thiết kế các tour du lịch chuyên đề trải nghiệm không gian văn hóa Then; xây dựng mô hình du lịch cộng đồng (homestay) có sự tham gia của các nghệ nhân hát Then tại các bản người Tày huyện Bình Liêu; đánh giá tác động kinh tế của sản phẩm du lịch Then đối với sinh kế của cộng đồng bản địa.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích phục vụ học tập và nghiên cứu:

  • Đối tượng phù hợp: Sinh viên, học viên ngành Việt Nam học, Văn hóa học, Dân tộc học, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành đang thực hiện các đề tài về văn hóa tộc người thiểu số vùng Đông Bắc hoặc phát triển du lịch di sản.
  • Nội dung tham khảo giá trị: Bức tranh tư liệu chi tiết về phong tục tập quán vòng đời (sinh đẻ, cưới hỏi, mừng thọ, tang ma), kỹ thuật chế biến ẩm thực truyền thống người Tày Bình Liêu (Chương I) và hệ thống phân loại nghi lễ Then, cấu trúc bài bản diễn xướng Then đàn Tính (Chương II).

Câu hỏi thường gặp

1. Người Tày tại huyện Bình Liêu có nguồn gốc lịch sử từ những nhóm nào và phân bố dân cư ra sao?
Theo các tài liệu nghiên cứu lịch sử đầu thế kỷ XX được tác giả trích dẫn, người Tày ở Bình Liêu gồm hai nhóm chính: nhóm Phén (tự gọi là Phén, người Hán gọi là Phén Lão, di cư từ Phòng Thành, Quảng Đông) và nhóm Thổ (Thổ Nhằn, Thổ Nhân, di cư từ Khâm Châu, Quảng Đông). Người Tày chiếm tỷ lệ đông nhất huyện Bình Liêu (50,3% theo thống kê 2009; 58,4% theo thống kê 1999), cư trú tập trung thành các bản làng từ 20 đến 100 nóc nhà tại các vùng thung lũng chân núi và thị trấn.

2. Nghi lễ mừng thọ của người Tày tại Bình Liêu được tiến hành theo những bước nào?
Nghi lễ mừng thọ của người Tày gồm 6 bước tuần tự: 1) Dựng lương (lập đàn cúng dưới chân bàn thờ và dựng lầu váng cao khoảng 40 cm để đựng gạo và tiền); 2) Chuyển lương (bà Then niệm chú vào thúng gạo, xúc gạo và tiền vàng đưa con cháu truyền tay đổ vào lầu váng); 3) Dâng rượu, đốt đèn (con cháu dâng rượu, bà Then đọc lời cầu thần linh chứng giám và đốt đèn biểu trưng cho tinh anh minh mẫn); 4) Hoàn phúc (bà Then ban phát số gạo và tiền dư cho con cháu lấy lộc); 5) Làm lường/buộc lương (con rể dùng ba sợi chỉ ba màu buộc lầu váng vào cây thượng lương cầu trường thọ); 6) Trồng cây mệnh (đem cây mai hoặc cây chuối tượng trưng cho sức khỏe ra vườn trồng và chăm sóc).

3. Tín ngưỡng Then của người Tày gồm những loại hình nghi lễ chính nào?
Hệ thống nghi lễ Then bao gồm: Then cầu an giải hạ (tổ chức vào dịp đầu năm), Then Nàng Hang (dịp Tết Trung thu), Then cúng mụ (lễ đầy tháng cho trẻ sơ sinh), Then thôi tang (sau thời gian mãn tang), và Lẩu Then (lễ cấp sắc cho thầy Then gồm lẩu Then khai quang, tăng sắc, khao quân, cáo lão).

4. Ẩm thực truyền thống của người Tày tại Bình Liêu có những món ăn tiêu biểu nào được mô tả trong khóa luận?
Các món ăn truyền thống tiêu biểu gồm: xôi đỏ đen (xôi đăm đeng ngâm gạo nếp với nước lá cẩm rừng); bánh chưng dài gói bằng lá dong không dùng khuôn; bánh coóc mò gói bằng lá chít; bánh gio ngâm tro trong chấm mật ong rừng; bánh tài lồng ệp làm từ bột nếp và đường phèn; bánh gật gù làm từ bột gạo tẻ tráng mỏng cuộn tròn; thịt khau nhục thái miếng ba chỉ dày 2 cm hầm thuốc bắc; và món nằm quắt chế biến từ chân giò, móng lợn ninh sền sệt với gừng, tỏi, tiêu.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Bùi Thị Ngọc Anh đã hoàn thành mục tiêu hệ thống hóa diện mạo văn hóa tộc người Tày tại huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh với trọng tâm là di sản văn hóa Then. Công trình đã làm rõ các giá trị lịch sử, nghi lễ, nghệ thuật diễn xướng dân gian của Then và đánh giá tiềm năng khai thác của di sản này đối với ngành du lịch địa phương. Các đề xuất bảo tồn gắn với phát triển sản phẩm du lịch cộng đồng trong khóa luận mang giá trị thực tiễn đối với công tác quản lý văn hóa và định hướng phát triển du lịch bền vững tại vùng biên giới Bình Liêu.