mở đầu đến kết thúc, đáp ứng được ước nguyện tỏ tình, giao duyên của các nam thanh, nữ tú. Ai đã có dịp được đắm mình trong cuộc hát Then giao duyên của trai gái Tày Văn Bàn, Lào Cai sẽ khó mà quên được lời lượn hát tinh tế, ví von sâu xa giàu hình ảnh, cảm xúc cùng giai điệu mượt mà, da diết say đắm lòng người. Đi thăm mỗi bản làng các dân tộc Tày ở tỉnh Lào Cai đều có thể nghe những làn điệu hát Then truyền thống. Hoà trong vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc, điệu mùa xòe nhịp nhàng và âm hưởng réo rắt của đàn Tính, những câu hát Then của đồng bào như dìu dặt, hoà quện trong tiếng gió, tiếng xào xạc của lá rừng.
Những làn điệu Then tô điểm lên bức tranh làng bản vẻ yên bình, nét đẹp văn hoá độc đáo và bản sắc của đồng bào dân tộc Lào Cai. - Then của người Nùng Lạng Sơn. Theo tập tục từ xa xưa, mỗi khi trong cuộc sống gặp hiện tượng lạ không thể lý giải được đồng bào dân tộc Nùng thường tổ chức lễ cầu cúng, cầu mong cho gia đình được bình yên, may mắn, khỏe mạnh, làm ăn thuận lợi. Để thực hiện nghi lễ này, đồng bào đều tìm đến bà then để được nghe bà then đàn hát.
Bà then theo quan niệm xưa được ví như bà tiên trên trời với cây đàn tính trên tay gẩy những khúc nhạc, cất lên những lời ca theo mây theo gió vang đến tận trời Bùi Thị Ngọc Anh - VH 1801 12 Tìm hiểu văn hóa Then của người Tày ở huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh phục vụ du lịch xanh. Nhờ lời ca tiếng hát của mình, Bà Then đưa những nguyện ước đó đến với các đấng thần linh…để biến những lời cầu mong đó thành hiện thực. Theo thời gian, những nghi lễ hát then giống như buổi sinh hoạt văn nghệ cộng đồng, trấn an tinh thần cho dân chúng. Thông thường các nghi lễ diễn ra trong 2 ngày đêm với nhiều nội dung như: Lễ cúng tổ tiên; lễ dọn đường cho các quan.
Nghi lễ hát then bắt đầu cuộc hành trình lên mời Ngọc Hoàng và các sư phụ Then đã về với tiên tổ cùng về làm lễ "Lẩu then" với các phần lễ cúng mời, cúng dâng rượu, cúng trừ ma, cúng giải hạn, cúng cầu an rồi dần phát triển thêm các lễ cúng tổ tiên, cúng sinh nhật, cúng cầu an, cúng nhà mới.Trong các nghi lễ đó, hát then là một cuộc diễn xướng trường ca mang màu sắc tín ngưỡng tường thuật lại cuộc hành trình lên thiên giới để cầu xin đáng thần linh giải quyết một vấn đề gì đó cho gia chủ. Trong các nghi lễ đó, âm nhạc luôn luôn là yếu tố xuyên suốt với nhiều bài bản, làn điệu phù hợp với từng phần nghi lễ. Ông Hoàng Văn Páo, nhà nghiên cứu văn hoá dân gian tỉnh Lạng Sơn, cho biết: Khi hát then bao giờ cũng có cây đàn Tính và cây quạt. Ban đầu nó chỉ mang yếu tố tâm tâm linh, cầu cúng để chữa bệnh.
Nhưng sau đó vào năm 1956 thì hát then không chỉ phục vụ cho hoạt động tâm linh nữa, mà nó phát triển thành loại hình văn nghệ cộng đồng. Giờ đây có then cổ và then hiện đại. Hát then dựa trên nguyên lý chung, nghi lễ cuộc nào thì họ sáng tạo lối hát then theo cuộc đó. Trải qua quá trình hình thành và phát triển, hát then đã trở thành loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian kể chuyện tín ngưỡng bằng âm nhạc vừa mang yếu tố tâm linh vừa mang yếu tố văn hoá nghệ thuật.
Nghệ thuật hát then là sự tổng hoà nhiều môn nghệ thuật và phong tục như hát, múa, đàn. Ở khía cạnh tôn giáo đồng bào tin rằng: nghi lễ then và hát then có khả năng chữa bệnh, đen lại sự bình an, niềm vui, niềm lạc quan trong cuộc sống. Ở khía cạnh nghệ thuật, hát then gắn liền với hình ảnh cây đàn Tính trở thành bản sắc văn hoá của cộng đồng dân tộc. Sau âm nhạc, câu chuyện của then là tình ca bất hủ của đồng bào phản ánh mọi mặt từ đời sống vật chất tới đời sống tinh thần, từ lịch sử đến tập tục sinh hoạt.
Hiện nay, nghệ thuật hát then đã lan rộng ra khắp cộng đồng, trở thành tài sản âm nhạc quý báu trong kho tàng văn hoá nghệ thuật các dân tộc Bùi Thị Ngọc Anh - VH 1801 13 Tìm hiểu văn hóa Then của người Tày ở huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh phục vụ du lịch Việt Nam. Tuy nhiên mỗi dòng then ở mỗi vùng then lại có những làn điệu hát khác nhau, nhưng tựu chung đều chung âm hưởng then với giai điệu, lối hát tình tứ, lôi cuốn người nghe Đi thăm mỗi bản làng các dân tộc Nùng ở tỉnh Lạng Sơn đều có thể bắt gặp, nghe những làn điệu hát then truyền thống. Hoà trong vẻ đẹp của núi rừng Việt Bắc, tiếng đàn Tính, những câu hát then của đồng bào như dìu dặt, hoà quện trong tiếng gió, tiếng xào xạc của lá rừng.Những làn điệu then càng tạo thêm vẻ yên bình, nét đẹp văn hoá độc đáo của đồng bào dân tộc nơi đây.Văn hóa tộc người với sự phát triển du lịch 1.1 Phân loại văn hóa tộc người Ở Việt Nam, có rất nhiều cách để phân loại văn hóa như phân loại dựa trên đặc điểm về ngôn ngữ, môi trường địa lý, tự nhiên, xã hội, nhân văn. Phân loại theo nhóm ngôn ngữ: có loại phân loại này vì các tộc người có chung ngôn ngữ, ngữ hệ thì thường có những đặc điểm giống nhau về văn hóa.
Bên cạnh việc nghiên cứu phân loại văn hóa theo văn hóa ngôn ngữ, các công trình nghiên cứu văn hóa tộc người cũng đã tiếp cận và phân loại dựa trên những sắc thái về môi trường địa lý tự nhiên- xã hội nhân văn theo các vùng lãnh thổ. Đối với các tộc người thiểu số ở Việt Nam việc nghiên cứu phân loại các “ Vùng văn hóa” có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu sự tác động của điều kiện tự nhiên, địa lý, môi trường cư trú. đối với quá trình phát triển của văn hóa tộc người cũng như mối quan hệ và tác động qua lại của các yếu tố kinh tế- văn hóa ở các vùng lãnh thổ khác nhau. Ở Việt Nam, những công trình văn hóa nói chung và văn hóa tộc người nói riêng đã phân định tương đối các vùng văn hóa là: - Vùng văn hóa Tây Bắc.
- Vùng văn hóa Việt Bắc và Đông Bắc. - Vùng văn hóa Bắc Trung Bộ. - Vùng văn hóa Nam Trung Bộ. - Vùng văn hóa Trường Sơn Tây Nguyên.
- Vùng văn hóa Đồng bằng sông Cửa Long. Bùi Thị Ngọc Anh - VH 1801 14 Tìm hiểu văn hóa Then của người Tày ở huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh phục vụ du lịch Việc phân loại nghiên cứu văn hóa theo vùng cũng được cụ thể hóa theo cách thức phân loại dựa vào địa vực cư trú, theo độ cao thấp của các vùng lãnh thổ (so với mặt nước biển). Vì vậy những công trình nghiên cứu văn hóa tộc người đã phân định theo một số loại hình cụ thể sau: - Văn hóa tộc người ở trên cao: HMông, Tạng, Miến. - Văn hóa tộc người ở rẻo giữa: Các nhóm làm nương.
- Văn hóa tộc người ở thung lũng chân núi: Tày, Thái, Mường. - Văn hóa tộc người ở trung du: Việt, Sán Dìu, Hoa. - Văn hóa tộc người ở châu thổ: Việt, Hoa, Chăm, Khmer. - Văn hóa tộc người ở ven biển: Việt, Hoa, Chăm.2 Vai trò của văn hóa tộc người đối với phát triển du lịch Các đối tượng văn hóa được coi là tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn.
Nếu tài nguyên thiên nhiên hấp dẫn khách du lịch bởi sự hoang sơ, độc đáo, hiếm hoi, thì tài nguyên du lịch văn hóa hấp dẫn bởi tính phong phú, đa dạng, độc đáo và tính truyền thống cũng như tính địa phương. Ở Việt Nam, văn hóa tộc người là một nguồn tài nguyên nhân văn vô cùng sâu sắc, mỗi cá thể văn hóa của tộc người là một đặc trưng riêng khác biệt. Chính sự khác biệt đó là yếu tố quan trọng để hấp dẫn khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế. Văn hóa tộc người là một tài nguyên du lịch nhân văn, bởi vậy, nó bao gồm cả hai bộ phận, đó là: văn hóa vật thể và phi vật thể.
Tài nguyên văn hóa vật thể. Tài nguyên văn hóa vật thể trong văn hóa tộc người bao gồm các yếu tố tiêu biểu như: nhà ở, trang phục, các sản vật địa phương, các sản phẩm nghệ thuật. - Nhà ở: Là một trong những yếu tố gây sự chú ý nhất đối với du khách. Chính vì vậy, nó trở thành một trong những yếu tố để xác định tính độc đáo của du lịch văn hóa tộc người.
Ở Việt Nam có rất nhiều loại hình nhà ở khác nhau như: Nhà sàn ( Tây Bắc), nhà nửa sàn nửa đất (Đông Bắc), nhà Rông Tây Bùi Thị Ngọc Anh - VH 1801 15 Tìm hiểu văn hóa Then của người Tày ở huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh phục vụ du lịch Nguyên. Do vậy, nhà ở là yếu tố quan trọng trong quá trình thúc đẩy du lịch văn hóa tộc người phát triển. - Trang phục: là yếu tố để phân biệt tộc người này với tộc người khác. Khách du lịch khi đến một tộc người nào đó, ai cũng muốn mặc thử trang phục đặc trưng của dân tộc đó để chụp hình kỉ niệm.
- Các sản vật đặc trưng của địa phương: có ý nghĩa rất lớn trong việc tăng doanh thu du lịch như: Một bộ quần áo dân tộc, một món ăn ngon, những đồ dùng như túi đeo, đồ trang sức truyền thống, một cây sáo, cây đàn. để làm kỉ niệm. đó là những vật mang tính đặc trưng và gắn liền với đồng bào nơi đó và do chính họ làm ra. Tài nguyên phi vật thể Tài nguyên văn hóa phi vật thể trong văn hóa tộc người bao gồm: Ngôn ngữ, ẩm thực, phong tục tập quán, các trò chơi dân gian, các lễ hội truyền thống của tộc người.
- Ngôn ngữ: trong việc khai thác văn hóa tộc người, việc quan tâm đến văn hóa tộc người là yếu tố quan trọng thúc đẩy du lịch phát triển. Ngôn ngữ cũng là một đặc trưn để phân biệt tộc người này với tộc người khác. Việc học được một ngôn ngữ của một tộc người nào đó sẽ tạo ra sự thích thú đặc biệt với du khách, nó làm cho người học muốn tìm hiểu về văn hóa của tộc người đó. - Ẩm thực: cũng là nét đặc trưng văn hóa tộc người, nó có tác động mạnh đến cảm nhận của du khách về chuyến du lịch.