Chương I: Các vấn đề chung 1. Nông thôn và văn hoá nông thôn Việt Nam 1. Làng xã và văn hoá làng xã 1. Tập tục, phong tục và tập quán 1.
Nông thôn và văn hoá nông thôn Việt Nam Nông thôn là vùng đất đai rộng lớn của một quốc gia trong đó đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân còn mang dấu ấn rõ rệt của phương thức sản xuất nông nghiệp. Văn hoá nông thôn là tất cả sản phẩm vật thể và phi vật thể có giá trị do người dân sống ở nông thôn sáng tạo, gìn giữ qua nhiều thế hệ. Làng xã và văn hoá làng xã “Làng là khối dân cư ở nông thôn làm thành một đơn vị có đời sống riêng về nhiều mặt, là đơn vị hành chính thấp nhất thời phong kiến”. Văn hoá làng xã là một hình thức khu biệt của văn hoá nông thôn, trong đó bao gồm những nét chung của văn hoá nông thôn và những nét riêng của văn hoá mỗi làng xã.
Tập tục, phong tục và tập quán • Tập tục chỉ chung các hiện tượng thuộc về phong tục và tập quán. Giữa phong tục và tập quán có những khác biệt về ngữ nghĩa. • Phong tục là những quy ước chung về các nguyên tắc ứng xử được cả cộng đồng chấp nhận và trở thành ý thức tự giác của mọi người. Phong tục tìm thấy trong các quan hệ xã hội, cách tổ chức lễ lạt, cách mưu sinh; cả thái độ giữa con người với tự nhiên (hoặc các thế lực thần linh đại diện cho sức mạnh tự nhiên).
Phong tục có khi được giới hạn trong phạm vi làng xã nhưng cũng có khi vượt ra xa, lan rộng trong một vùng miền rộng lớn. • Tập quán là những hình thức sinh hoạt đã trở thành thói quen trong đời sống cộng đồng. Tập quán có quan hệ chặt chẽ với phong tục. Những tập quán thường ngày thể hiện phong tục của một cộng đồng nhất định.
Kinh tế nông nghiệp Việt Nam 1. Thời kì trước 1010 1. Thời kì từ 1010 – 1945 (phong kiến_ 1. Thời kì từ 1945 – nqy 1.
Thời kì trước 1010 -Nông nghiệp sơ khai, dùng công cụ thô sơ, sức người kết hợp sức động vật. Quy mô hẹp. Thời kì 1010 - 1945 -Nông nghiệp chuyên canh cây lúa nước dùng công cụ thủ công và sức động vật. Quy mô lưu vực sông Hồng.
Hệ thống đê vững chắc. Thời kì 1945 - nay -Nông nghiệp chuyên canh cây lúa nước dùng máy móc và kĩ thuật công nghệ tiên tiến, gắn với công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, 1. Các nhân tố cấu thành nông thôn Việt Nam 4 nhân tố cơ bản 1. Điều kiện địa lý, 1.
Phương thức mưu sinh, 1. Hình thức cư trú, 1. Quan hệ sản xuất 1. Địa lý tự nhiên đặc trưng khí hậu, địa hình Đông Nam Á -> Nhiều sông ngòi, ao hồ.
Hầu hết các con sông ở Việt Nam chảy xuôi về biển Đông và tạo thành những vùng châu thổ có diện tích rộng hẹp khác nhau. Ở miền Bắc, sông Hồng và sông Đà hợp lưu hình thành vùng châu thổ khá rộng. Ở miền Trung, các con sông đều ngắn, vì vậy các vùng châu thổ nhỏ hẹp. -> Hội đủ các điều kiện sinh trưởng cây lúa nước: nước ngọt, nắng nóng, đât bùn.
Phương thức mưu sinh: nông nghiệp lúa nước -> phụ thuộc môi trường tự nhiên Dựa vào điều kiện tự nhiên này, khi tìm ra và thuần dưỡng được cây lúa, cư dân nơi đây đã chọn cách sống bằng nghề trồng lúa nước. Mặt khác, khí hậu nhiệt đới tạo điều kiện thuận lợi cho thực vật phát triển, vì vậy, ở những vùng đất cao hoặc ven các vùng châu thổ, các loại cây nông nghiệp cũng phát triển rất mạnh. Do đặc điểm này, đất nông nghiệp ở Việt Nam chiếm một tỉ lệ rất lớn. • Vào thời dựng nước, rừng lan khắp vùng trung du và cả một phần lớn đồng bằng.
• Nhiều vùng gò đồi trọc hiện nay xưa kia là rừng phủ dày đặc. • Ngay tại đồng bằng còn giữ được nhiều di tích của rừng: mỏ than bùn thấy ở nhiều nơi như Thạch Thất (Hà Tây), Lỗ Khê (ngoại thành Hà Nội); rừng gỗ tứ thiết ở Sặt (Tráng Liệt, Bắc Giang), rừng Báng (Đình Bảng, Bắc Ninh), đồi Lim, làng Lim, phà Rừng. • Trong các di tích khảo cổ ở đồng bằng, đã tìm thấy xương cốt nhiều loại thú rừng. Cây lúa nước - Nguồn gốc và quá trình thuần dưỡng cây lúa nước - Địa bàn phân bố cây lúa nước - Vị trí cây lúa nước trong nông nghiệp Việt Nam CÁC TRUNG TÂM VĂN MINH NÔNG NGHIỆP Khu vực xuất phát cây lúa nước RÌU MÀI – HANG THẨM VÀI, TUYÊN QUANG KHOẢNG 4.000 NĂM BC SƠ KỲ ĐỒ ĐỒNG – PHÙNG NGUYÊN KHOẢNG 4.000 NĂM BC GIAI ĐOẠN ĐỒNG ĐẬU, GÒ MUN KHOẢNG 3.000 BC Động vật thời Đông Sơn Quan hệ giữa du mục và nông nghiệp Cuộc sống nông nghiệp 1.
Hình thức cư trú -Nghề trồng lúa buộc cư dân trồng lúa phải sống định cư. - Chu kì sinh trưởng cây lúa nước (+ ảnh hưởng tiêu cực của tự nhiên) -> người nông dân phải dựa vào nhau => sống co cụm thành bản, làng Ở những vùng cao, dù trồng lúa ở nương rẫy hay ở các thung lũng, người dân cũng phải tìm chỗ ở ổn định. Do đất ở miền cao nhanh bạc màu nên đa số cư dân nơi đây phải thực hiện luân canh để đất có thời gian phục hồi dưỡng chất. Chính vì vậy mà phạm vi canh tác của đồng bào miền cao thường rất rộng và có những ngôi nhà sàn được cất gần khu canh tác nhằm mục đích phục vụ sản xuất.
Đó không phải là những ngôi nhà để ở theo lối du canh du cư. Ở các vùng châu thổ Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, dù địa hình và chế độ thuỷ văn khác nhau nhưng cư dân đều tổ chức đời sống theo lối định cư để trồng lúa nước. Làng xã thường được dựng dọc theo bờ sông hoặc bờ đê. Những chỗ “giao thuỷ” (còn gọi là chỗ “giáp nước”) được lựa chọn để đặt các trung tâm cư trú.
Nhìn chung, nghề trồng lúa nước đã buộc người nông dân Việt Nam bám chặt vào các con sông, con suối, hồ nước để sinh tồn. Quan hệ huyết thống - Quan hệ sản xuất chi phối quan hệ xã hội nguyên thuỷ và xã hội nông nghiệp sơ khai: chế độ mẫu quyền, huyết thống mẫu hệ - Sự chuyển đổi từ mẫu hệ -> phụ hệ - Quan hệ huyết thống phụ hệ và duy trì hình thức song quyền ở Việt nam cho đến nay. Định hướng nghiên cứu văn hoá nông thôn – nghiên cứu văn hoá nông thôn phải gắn với nghiên cứu văn hoá làng xã – nghiên cứu văn hoá nông thôn là nghiên cứu những thiết chế văn hoá ở làng xã, những giá trị truyền thống và hiện đại được thể hiện thông qua hệ thống biếu tượng như: đình làng, cổng làng, chùa làng, nhà thờ họ … – nghiên cứu văn hoá nông thôn còn phải chú ý những sản phẩm văn hoá nghệ thuật; – nghiên cứu văn hoá nông thôn để chỉ ra bản sắc của nó trong sự đối sánh với văn hoá đô thị. Đối tượng, mục đích nghiên cứu VH nông thôn - Nghiên cứu những giá trị vật chất và tinh thần phổ biến ở nông thôn (gắn với giá trị văn hoá làng xã, là văn hoá của những đơn vị cụ thể, tồn tại những giá trị riêng của từng đơn vị đồng thời cũng có sự hiện diện những giá trị chung của một vùng nông thôn hoặc của cả dân tộc.
- Làm rõ bản chất văn hoá nông thôn chúng ta phải nghiên cứu văn hoá làng xã trên các khía cạnh cơ bản như: ý thức cộng đồng, ý thức tự quản, nếp sinh hoạt có tính đặc thù của mỗi làng. Phương pháp nghiên cứu văn hoá nông thôn - Phân tích - tổng hợp, - Khảo sát điền dã – thực nghiệm - Điều tra xã hội học Chương II: Phân vùng và tổ chức nông thôn Việt Nam 2. Phân vùng nông thôn Việt Nam 2. Tổ chức nông thôn Việt Nam 2.
Phân vùng nông thôn Việt Nam 2. Phân vùng nông thôn theo địa lý + Phân vùng nông thôn theo trục Đông Tây + Phân vùng nông thôn theo trục Bắc Nam 2. Phân vùng nông thôn theo kinh tế (vật nuôi, cây trồng, sản phẩm thủ công) 2. Phân vùng nông thôn theo địa lý + Phân vùng … theo trục Đông Tây - Nông thôn miền núi: kinh tế chiếm đoạt tự nhiên -> kinh tế … - Nông thôn châu thổ: kinh tế cá thể (tiểu nông), hợp tác … - Nông thôn ven biển: kinh tế cá thể hợp tác … * Tiêu chí khảo sát: Địa hình, kinh tế, nghề phụ, quan hệ huyết thống, cơ chế quản lí Khởi phát, các vùng nông thôn Việt Nam đều trồng những loại cây nông nghiệp.
Cây trồng vốn là những giống thực vật được chọn lọc thuần dưỡng, trở thành cây lương thực và cây dùng làm thực phẩm. Cây lúa nước được đặc biệt chú ý và trở thành cây lương thực chính. Các loại khác như bí, bầu, rau, dưa… cũng được chọn lựa để làm thực phẩm. Vật nuôi chủ yếu là gia cầm và được nuôi trong phạm vi gia đình.
Nhà nhà đều nuôi gia súc để lấy sức kéo chứ không nhằm vào lấy thịt. Nghề thủ công dần được hình thành để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thường ngày. Đó là nghể gốm, nghề mây tre, nghề mộc, nghề rèn … Các nguyên liệu phục vụ nghề thủ công như: đay, gai, mây, tre, cọ, gỗ … chủ yếu lấy ở rừng hoặc ngay trong khu vực địa phương. Từ khi tư bản phương Tây thâm nhập vào Việt Nam, người ta đã chọn những vùng có thổ nhưỡng phù hợp cây công nghiệp để xây dựng đồn điền, tạo ra những vùng nông thôn rộng lớn trồng cây công nghiệp.
Về sau, các nghề nuôi trồng thuỷ sản cũng phát triển tạo ra diện mạo mới cho nông thôn Việt Nam. Hiện nay người ta có thể lập bản đồ về vật nuôi cây trồng ở Việt Nam. Nghề nuôi thuỷ sản được phân bố ở hầu hết hạ lưu các con sông khắp cả nước. Một số nơi tập trung nuôi thuỷ sản theo quy mô lớn như ở lưu vực sông La Ngà, sông Tiền, sông Hậu….
Nghề nuôi dê, cừu phân bố ở ven các vùng núi đồi thuộc khu vực Nam Định, Ninh Thuận, Bình Thuận… Cây công nghiệp phân bố chủ yếu ở vùng Thái Nguyên, Tây Nguyên, Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Phước. Nông thôn miền núi: vùng núi Bắc Bộ và Tây Nguyên, được xác định dựa trên các yếu tố: địa bàn rừng núi và vùng đồi, quan hệ huyết thống mẫu hệ, kinh tế săn bắt hái lượm và nông nghiệp sơ khai, cơ chế quản lý già làng trưởng bản.