Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Kinh tế đồn điền ở miền Tây Nam Kỳ từ năm 1900 đến năm 1945" do nghiên cứu sinh Trần Minh Thuận thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Ngọc Cơ, bảo vệ tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào tháng 12 năm 2018. Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, mã số đào tạo tiến sĩ lịch sử, tập trung vào lĩnh vực lịch sử kinh tế thời kỳ cận đại.

Về tính cấp thiết, sau Hiệp ước Giáp Tuất năm 1874, toàn bộ Nam Kỳ trở thành thuộc địa của Pháp. Chính quyền thực dân đã tiến hành đầu tư tài chính, phương tiện kỹ thuật để khẩn hoang, thiết lập hệ thống đồn điền và tổ chức sản xuất nông nghiệp với cây trồng chủ lực là cây lúa. Miền Tây Nam Kỳ (gồm 7 tỉnh: Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu) nhanh chóng trở thành vựa lúa xuất khẩu lớn nhất của Liên bang Đông Dương. Việc nghiên cứu quá trình này giúp làm rõ các quy luật vận động của lịch sử kinh tế Việt Nam và Đông Dương thời Pháp thuộc. Bên cạnh đó, nghiên cứu làm sáng tỏ công cuộc khai thác thuộc địa cùng những mâu thuẫn giai cấp sâu sắc giữa nông dân tá điền và tầng lớp điền chủ, dẫn đến các phong trào đấu tranh bảo vệ ruộng đất. Về mặt thực tiễn, vùng Tây Nam Bộ ngày nay đang đối mặt với nhiều thách thức trong sản xuất lúa gạo như xâm nhập mặn sâu vào nội đồng, mô hình kinh tế nông hộ nhỏ lẻ và thị trường tiêu thụ thiếu ổn định; do đó việc đúc kết kinh nghiệm khẩn hoang, xây dựng hệ thống kênh đào và tổ chức sản xuất thời cận đại mang giá trị tham khảo thiết thực. Ngoài ra, khối tư liệu gốc tiếng Pháp về kinh tế đồn điền lưu trữ tại các trung tâm lưu trữ và thư viện đang đứng trước nguy cơ hư hỏng theo thời gian, đòi hỏi công tác sưu tầm, bảo tồn và công bố khoa học.

Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: Giai đoạn 1900 – 1945 là thời kỳ chuyển biến kinh tế - xã hội quan trọng của miền Tây Nam Kỳ, tuy nhiên trước đây chưa có công trình khoa học nào tiếp cận một cách chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống trên quy mô toàn vùng về kinh tế đồn điền trồng lúa; các nghiên cứu hiện có đa phần chỉ khu biệt ở từng tỉnh đơn lẻ hoặc khảo sát tổng quát trên diện rộng toàn xứ Nam Kỳ.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là tổng hợp, khái quát quá trình hình thành và phát triển của kinh tế đồn điền ở miền Tây Nam Kỳ giai đoạn 1900 – 1945; phân tích, đánh giá chính sách cấp nhượng đất đai của chính quyền thuộc địa, hoạt động sản xuất, hình thức tổ chức sản xuất, nguồn nhân công, tác động kinh tế - xã hội và rút ra các bài học kinh nghiệm lịch sử.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm 4 nội dung cụ thể:

  1. Thứ nhất, nghiên cứu khái quát về tình hình nông nghiệp và chính sách đồn điền của vương triều Nguyễn và của thực dân Pháp trước năm 1900, nhằm xây dựng nền tảng ban đầu để nghiên cứu kinh tế đồn điền ở giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX.
  2. Thứ hai, khôi phục lại quá trình hình thành, phát triển, hình thức hoạt động sản xuất, kinh doanh của kinh tế đồn điền ở miền Tây Nam Kỳ từ năm 1900 đến năm 1945.
  3. Thứ ba, nghiên cứu về nguồn nhân công đồn điền, mối quan hệ kinh tế giữa điền chủ và các nguồn nhân công, các hình thức sử dụng nhân công trong các đồn điền.
  4. Thứ tư, nghiên cứu và đánh giá những kết quả tích cực và hạn chế của đồn điền; những tác động của kinh tế đồn điền đến tình hình kinh tế xã hội miền Tây Nam Kỳ; rút ra những kinh nghiệm lịch sử cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp, đổi mới nông thôn hiện nay ở khu vực Tây Nam Bộ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình hình thành và phát triển của kinh tế đồn điền ở miền Tây Nam Kỳ từ năm 1900 đến năm 1945, bao gồm chính sách kinh tế của chính quyền thuộc địa, cơ cấu tổ chức và tác động kinh tế – xã hội của hệ thống này.
  • Phạm vi không gian: Gồm 7 tỉnh ở miền Tây Nam Kỳ theo địa giới hành chính thời Pháp thuộc (quy định tại các Nghị định ngày 20/12/1889 và 20/12/1899 của Toàn quyền Đông Dương): Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Cần Thơ, Sóc Trăng và Bạc Liêu.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1900 đến năm 1945. Mốc mở đầu tính từ khi Nghị định ngày 20/12/1899 của Toàn quyền Đông Dương chính thức có hiệu lực (ngày 1/1/1900); mốc kết thúc là năm 1945 với sự kiện Cách mạng tháng Tám thành công.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án được chia thành hai nhóm công trình chính:

Các công trình của tác giả nước ngoài:

  • E. Deschaseaux (1889) với Note sur les anciens Don Dien Annamites dans la Basse – Cochinchine ghi chép về hệ thống đồn điền thời Nguyễn thế kỷ XIX (đặc biệt dưới triều Minh Mạng, Tự Đức với công cuộc khẩn hoang của Nguyễn Tri Phương), làm rõ vai trò đồn điền quân sự bảo vệ biên giới Chân Lạp và việc giải tán các cơ đồn điền khi Pháp chiếm Nam Kỳ.
  • Hội nghiên cứu Đông Dương (Société des études Indochinoises, 1901 – 1911) với công trình Địa lý học: Tự nhiên, Kinh tế và Lịch sử Nam Kỳ, cung cấp địa phương chí các tỉnh Hà Tiên (1901), Châu Đốc (1902), Cần Thơ (1904), Sóc Trăng (1904), Long Xuyên (1905) và đảo Phú Quốc (1906).
  • Albert Coquerel (1911) với Paddys et Riz de Cochinchine, thống kê cụ thể 166 giống lúa sớm, 195 giống lúa mùa, 87 giống lúa muộn, 51 giống lúa 3–4 tháng và 16 giống lúa nổi ở Nam Kỳ cùng hoạt động xuất khẩu qua cảng Sài Gòn.
  • Henri Russier (1931) với Indochine Française, phân tích đặc điểm địa hình ruộng trũng, ruộng cao và vai trò trọng yếu của lúa gạo miền Tây Nam Kỳ.
  • Tổ chức Exposition coloniale internationale (1931) với hai công trình: La Cochinchine (phân tích quy trình làm đất, cấy, phân bón, phân loại gạo hạt dài Bạc Liêu và hạt tròn Gò Công) và Riziculture en Indochine (thống kê diện tích, năng suất, chế biến xay xát và xuất khẩu lúa gạo).
  • Yves Henry (1932) với Kinh tế nông nghiệp Đông Dương (Hoàng Đình Bình dịch), thống kê diện tích đồn điền cấp nhượng năm 1900 tại Nam Kỳ đạt 14.301 ha trồng lúa và phân tích chi tiết cơ cấu sở hữu ruộng đất, quan hệ tá điền – điền chủ năm 1930.
  • André Hibon (1934) với La crise économique en Indochine, mô tả tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 làm ngưng trệ sản xuất và gia tăng nợ nần, cầm cố đất đai tại miền Tây Nam Kỳ.
  • Jean-Pierre Aumiphin (1994) với Sự hiện diện tài chính và kinh tế của Pháp ở Đông Dương (1859–1939) (Đinh Xuân Lâm và nhóm dịch giả chuyển ngữ), thống kê vốn đầu tư của tư bản Pháp và số liệu sản xuất lúa gạo Nam Kỳ từ 1.000 tấn năm 1900 lên 3.000 tấn năm 1937.
  • Pierre Brocheux và Daniel Hémery (1994) với Cochinchine, la colonisation ambiguë 1858 – 1945, cung cấp các chỉ số tổng thể về ngân hàng, xuất khẩu lúa gạo và biến đổi xã hội thuộc địa.

Các công trình của tác giả trong nước:

  • Tô Văn Qua (1930) với Điền thổ trong xứ Nam Kỳ, khảo cứu chế độ ruộng đất, công điền công thổ, các thủ tục khẩn hoang và mua bán thuận mãi.
  • Nguyễn Khắc Đạm (1957) với Những thủ đoạn bóc lột của chủ nghĩa đế quốc ở Việt Nam, làm rõ phương thức tước đoạt đất đai của nông dân phục vụ việc lập đồn điền.
  • Phạm Cao Dương (1967) với Thực trạng của giới nông dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc, phân tích cấu trúc sở hữu bất bình đẳng khi 2/3 hộ nông dân là vô sản, trong khi 255.000 địa chủ chiếm 2,2 triệu ha đất (riêng 2,5% nhóm này nắm giữ gần một nửa diện tích), đồng thời chỉ ra phương thức bóc lột địa tô qua trung gian ("địa chủ vắng mặt") tại Bạc Liêu, Rạch Giá.
  • Trần Ngọc Định (1970) trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (số 132), phân tích quá trình tập trung ruộng đất vào tay các đại địa chủ thông qua chính sách nhượng đất của Pháp.
  • Nguyễn Thế Anh (1970, 2008) với Việt Nam thời Pháp đô hộ và Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn, phân tích tính chất sản xuất hàng hóa TBCN trong các đồn điền lúa gạo, số liệu đồn điền năm 1822 thời Nguyễn (117 đồn điền với khoảng 20 cơ lính, 9.603 người) và sự suy giảm diện tích lúa thời kỳ khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933.
  • Ngô Văn Hòa (1983) trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (số 212), dẫn chứng tỷ lệ công điền Nam Kỳ chỉ chiếm 3%, biến động đất canh tác từ 522.000 ha (1870) lên 2,2 triệu ha (1936), phân tích bình quân mỗi điền chủ có 9 ha ruộng đất năm 1930.
  • Phạm Quang Trung (1985, 1993) trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, nghiên cứu chính sách vơ vét xuất khẩu lúa gạo qua cảng Sài Gòn, các đợt cấp nhượng đất lập đồn điền quy mô lớn (đến năm 1909 cấp 18.000 ha lập 265 đồn điền; năm 1911 thêm 20.000 ha) và hiện tượng nợ nần đất đai sau năm 1929.
  • Vũ Huy Phúc (1994) trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (số 274), khảo cứu đồn điền thời Tự Đức với 21 cơ tại 6 tỉnh Nam Kỳ và 4 cơ ven kênh Vĩnh Tế (12.500 người khẩn hoang, lập 100 ấp).
  • Sơn Nam (1994) với loạt bài Cần Thơ xưa trên báo Cần Thơ, phân tích vai trò trung tâm thu gom, xay xát và trung chuyển lúa gạo của Cần Thơ (trung bình 116.000 tấn/năm) cho các tỉnh phụ cận.
  • Đỗ Bang và Trương Hữu Quýnh (1997); Nguyễn Văn Khánh (2004); Nguyễn Phan Quang (2004); Nguyễn Đình Đầu (1994, 1995, 1999) với các bộ sách địa bạ triều Nguyễn tại Hà Tiên, Vĩnh Long, An Giang.
  • Các luận án tiến sĩ chuyên ngành: Võ Thị Hồng (1995 - kinh tế An Giang), Nguyễn Thùy Dương (1997 - kinh tế Hà Tiên – Rạch Giá), Trần Thị Mai (1998 - kinh tế Sóc Trăng), Lê Huỳnh Hoa (2003 - cảng Sài Gòn và biến đổi kinh tế Nam Kỳ), Trần Vũ Tài (2007 - kinh tế nông nghiệp Bắc Trung Kỳ).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Kế thừa các kết quả nghiên cứu trên, luận án tập trung lấp đầy khoảng trống tri thức về một công trình lịch sử kinh tế hoàn chỉnh cho toàn vùng 7 tỉnh miền Tây Nam Kỳ trong khung thời gian 1900 – 1945, giải quyết 5 vấn đề cốt lõi: (1) Chính sách đồn điền triều Nguyễn làm tiền đề so sánh; (2) Chiến lược quy hoạch giao thông thủy lợi (hệ thống kênh đào bằng xáng múc) gắn với khẩn hoang của Pháp; (3) Hoạt động kỹ thuật, tổ chức canh tác, tuyển chọn giống lúa qua hai đợt khai thác thuộc địa; (4) Bản chất quan hệ kinh tế và tình cảnh tá điền, coolie; (5) Đặc điểm riêng biệt của kinh tế đồn điền lúa nước miền Tây so với đồn điền cây công nghiệp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng nền tảng phương pháp luận sử học Mác-xít, dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Công trình quán triệt học thuyết hình thái kinh tế – xã hội của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tính chất xã hội và lịch sử kinh tế Việt Nam thời thuộc địa.

Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, luận án kết hợp các phương pháp chuyên ngành lịch sử và phương pháp liên ngành:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện chân thực, cụ thể quá trình hình thành, phát triển của hệ thống đồn điền, các hoạt động sản xuất, kinh doanh lúa gạo, chính sách cấp nhượng đất đai và diễn biến đời sống nhân công theo trình tự thời gian từ năm 1900 đến năm 1945.
  • Phương pháp logic: Đi sâu nghiên cứu bản chất kinh tế của các quy chế thuộc địa, vạch rõ mối quan hệ bóc lột giữa giai cấp điền chủ và tá điền, đánh giá hai mặt tích cực và tiêu cực trong tác động kinh tế – xã hội.
  • Phương pháp phân tích – phê bình sử liệu: Thẩm định lai lịch, thời điểm ra đời, tính xác thực và độ tin cậy của các nguồn sử liệu thành văn (chỉ thị, nghị định của Toàn quyền, báo cáo của Thống đốc Nam Kỳ, số liệu thống kê thuộc địa).
  • Phương pháp so sánh lịch sử: Thực hiện so sánh lịch đại (đối chiếu quy chế, tổ chức đồn điền thời Nguyễn với thời thuộc Pháp) và so sánh đồng đại (đối chiếu mô hình đồn điền trồng lúa miền Tây Nam Kỳ với mô hình đồn điền cây công nghiệp tại Bắc Kỳ, Trung Kỳ và các xứ khác trong Liên bang Đông Dương).
  • Phương pháp thống kê: Phân tích, lượng hóa các tư liệu kinh tế thông qua các bảng biểu, biểu đồ phản ánh lượng mưa, dân số, diện tích ruộng đất, cơ cấu sở hữu, năng suất lúa và khối lượng xuất khẩu.

Nguồn tư liệu thực hiện luận án gồm:

  • Nguồn tư liệu lưu trữ gốc: Khai thác tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II (TP. Hồ Chí Minh), bao gồm các hồ sơ, tài liệu thuộc phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ (G.C), phông Phủ Toàn quyền Đông Dương (G.I), phông Sở Lúa gạo Đông Dương (O.R), phông hành chính 7 tỉnh miền Tây (Châu Đốc, Long Xuyên, Hà Tiên, Rạch Giá, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu); kết hợp số liệu từ Niên giám thống kê Đông Dương và các báo cáo hành chính thuộc địa.
  • Sách chuyên khảo, ấn phẩm định kỳ: Các báo cáo kinh tế của Tập san kinh tế Đông Dương (B.I), công trình địa phương chí của Hội nghiên cứu Đông Dương, các chuyên khảo kinh tế nông nghiệp xuất bản tại Paris và Sài Gòn trước năm 1945.
  • Nguồn tài liệu thứ cấp: Các công trình sách, tạp chí chuyên ngành lịch sử, các luận án tiến sĩ lịch sử bảo vệ trong nước và tư liệu kiểm chứng từ internet.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Nội dung chương 1 hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu liên quan đến kinh tế đồn điền miền Tây Nam Kỳ của các tác giả người Pháp và các nhà nghiên cứu trong nước từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XXI. Chương này phân định rõ thành tựu của các học giả đi trước về địa phương chí, kỹ thuật trồng lúa, chính sách ruộng đất, quá trình tập trung đất đai và thị trường lúa gạo xuất khẩu. Đồng thời, tác giả khẳng định việc kế thừa các chuỗi số liệu lưu trữ, xác định 5 vấn đề khoa học chưa được giải quyết thấu đáo và định vị hướng nghiên cứu chuyên biệt của luận án trong khung thời gian 1900 – 1945.

Chương 2. Kinh tế đồn điền ở miền Tây Nam Kỳ từ năm 1900 đến năm 1918

Chương 2 phục dựng bối cảnh tự nhiên, xã hội và bước đầu phát triển của kinh tế đồn điền qua cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất:

  • Điều kiện tự nhiên và mạng lưới thủy văn: Miền Tây Nam Kỳ có tọa độ cực Đông 106°30'Đ, cực Tây 104°25'Đ, cực Nam 08°34'B, cực Bắc 105°29'B; nằm ở hạ lưu sông Mê Kông với dòng chính dài 4.500 km (phần chảy qua Việt Nam dài 230 km). Sông Hậu có tổng lưu lượng dòng chảy đạt 507 tỉ m³/năm (chiếm 60,4% lượng nước toàn bộ sông ngòi Việt Nam), mang hàm lượng phù sa khoảng 250 g/m³. Địa hình bằng phẳng, mực nước dao động từ vài đề-xi-mét (Cần Thơ) đến vài mét (Châu Đốc). Bốn nhóm đất chính gồm đất phù sa (màu mỡ ven sông Tiền, sông Hậu), đất phèn (Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười), đất mặn (ven biển Rạch Giá, Bạc Liêu, Cà Mau) và đất cát giồng. Khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm quanh năm, nhiệt độ trung bình 28°C (dao động 18°C – 35°C).
TT Trạm nông nghiệp Lượng mưa (mm) Số ngày mưa
1 Bạc Liêu 225,4 23
2 Châu Đốc 128,1 12
3 Sóc Trăng 238,4 12
4 Long Xuyên 189,3 13
5 Cần Thơ 154,3 20

Bảng 2.1: Thống kê lượng mưa trung bình ở miền Tây Nam Kỳ năm 1930 (Nguồn: Fulltext luận án, dẫn theo Niên giám thống kê)

  • Điều kiện xã hội và dân cư: Dân cư gồm người Việt (chiếm đa số), người Khmer, Hoa, Pháp, Mã Lai, Chăm. Năm 1878, dân số toàn vùng đạt 275.397 người. Đến giai đoạn 1926 – 1930, dân số tăng lên nhanh chóng, đạt 1.488.000 người vào năm 1930.
Tiểu khu Dân số (người) Số tổng Số làng Số chợ
Châu Đốc 98.608 13 97 6
Hà Tiên 10.966 4 16 1
Long Xuyên 42.062 8 51 3
Rạch Giá 30.569 6 46 2
Cần Thơ 53.974 7 68 6
Sóc Trăng 39.218 9 66 1
Tổng cộng 275.397 47 344 19

Bảng 2.2: Thống kê dân số, số tổng, làng, chợ ở miền Tây Nam Kỳ năm 1878 (Nguồn: Fulltext luận án)

Tỉnh Dân số năm 1926 Dân số năm 1930 Sở đại lý
Châu Đốc 203.000 224.000 Tân Châu, Tịnh Biên, Tri Tôn
Hà Tiên 17.000 18.000 Giang Thành, Hòn Chông, Phú Quốc
Long Xuyên 200.000 215.000 Chợ Mới, Thốt Nốt
Rạch Giá 199.000 221.000 Giồng Riềng, Gò Quao, Phước Long
Cần Thơ 314.000 340.000 Cầu Kè, Ô Môn, Phụng Hiệp, Trà Ôn
Sóc Trăng 187.000 206.000 Bằng Long, Kế Sách, Phú Lộc
Bạc Liêu 181.000 264.000 Cà Mau, Giá Rai, Vĩnh Châu, Vĩnh Lợi
Tổng cộng 1.341.000 1.488.000

Bảng 2.3: Thống kê dân số, sở đại lý ở miền Tây Nam Kỳ năm 1926, 1930 (Nguồn: Fulltext luận án)

  • Tình hình ruộng đất trước năm 1900: Dưới thời Nguyễn, ruộng đất canh tác tại 3 tỉnh miền Tây chỉ đạt 622.841 mẫu (khoảng 310.000 ha), tỷ lệ đất bỏ hoang còn rất lớn so với diện tích tự nhiên hơn 5 triệu ha của toàn xứ Nam Kỳ.
Tỉnh Số phủ Số huyện Số tổng Số xã, thôn, phường, ấp Tổng số ruộng đất (mẫu) Số dân đinh (người)
Vĩnh Long 4 8 46 442 139.756 32.880
An Giang 4 9 18 158 467.585 23.498
Hà Tiên 2 4 7 62 15.500 2.503
Tổng cộng 10 21 71 662 622.841 58.881

Bảng 2.4: Kết quả khai hoang, lập ấp ở miền Tây Nam Kỳ giữa thế kỉ XIX (Nguồn: Fulltext luận án)

Sau khi chiếm đóng, thực dân Pháp ban hành hàng loạt văn bản pháp lý nhằm tước đoạt đất đai: Nghị định ngày 20/2/1862 (tịch thu toàn bộ ruộng hoang và đất vô chủ không có chứng nhận sở hữu), Quyết định ngày 15/5/1863 (hợp thức hóa chứng nhận sở hữu của Pháp cho người nộp văn bản cũ), Nghị định ngày 30/3/1865 (Thống đốc có quyền bán đấu giá và cấp không đất công; giá đất hoang chỉ tương đương 60 kg gạo/ha, đất đã cày cấy khoảng 4 tạ gạo/ha), các nghị định năm 1874, 1882, 1888 và Nghị định ngày 28/9/1897 (xác lập quyền tư hữu ruộng đất cho công dân Pháp và người được bảo hộ). Thống kê năm 1881 tại khu hành chính Bassac cho thấy ruộng hạng nhất chiếm ưu thế tuyệt đối tại Cần Thơ và Sóc Trăng.

Tiểu khu Ruộng hạng nhất Ruộng hạng nhì Ruộng hạng ba
Châu Đốc 0,459 7.840,385 163,43
Long Xuyên 20.451,65 10.288,3 890
Rạch Giá 10.723 6.555 550
Hà Tiên 725,5 551 100
Cần Thơ 79.508 10.840 1.870
Sóc Trăng 71.954 10.550 1.830

Bảng 2.5: Thống kê các hạng ruộng đất ở khu hành chính Bassac năm 1881 (Đơn vị tính: ha; Nguồn: Fulltext luận án)

  • Bước đầu phát triển kinh tế đồn điền (1900 – 1918): Pháp triển khai các dự án thủy nông đào kênh lớn bằng xáng múc (tiêu biểu là kênh xáng Xà No hoàn thành đầu thế kỷ XX), kết nối các dòng chảy tự nhiên, rửa phèn ngọt hóa đất đai. Chính sách cấp nhượng diện tích lớn tạo nên các đồn điền trồng lúa quy mô từ vài trăm đến hàng ngàn hecta của tư sản Pháp và điền chủ Việt. Nguồn nhân công chủ yếu là nông dân địa phương bị mất đất biến thành tá điền cùng một bộ phận di dân từ Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Quan hệ sản xuất mang tính chất hỗn hợp: tư sản Pháp bỏ vốn bao chiếm đất đai nhưng không trực tiếp điều hành canh tác mà áp dụng hình thức phát canh thu tô kiểu phong kiến. Lúa gạo sau thu hoạch được tập trung về các đầu mối trung chuyển (đặc biệt là Cần Thơ) rồi chuyển lên Sài Gòn xuất khẩu ra thị trường thế giới.

Chương 3. Kinh tế đồn điền ở miền Tây Nam Kỳ từ năm 1919 đến năm 1945

Chương 3 trình bày sự phát triển của hệ thống đồn điền trong chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp sau Chiến tranh thế giới thứ nhất:

  • Hoàn thiện cơ sở hạ tầng và quy chế cấp nhượng: Chính quyền thuộc địa đẩy mạnh công tác đào kênh xáng quy mô lớn (các tuyến kênh Quan Lộ – Phụng Hiệp, Rạch Giá – Hà Tiên), mở rộng mạnh mẽ diện tích khẩn hoang về phía Bạc Liêu, Cà Mau, Rạch Giá. Diện tích đồn điền cấp nhượng tiếp tục gia tăng, hình thành các đồn điền đại quy mô do các công ty tư bản Pháp và giới đại điền chủ bản xứ nắm giữ.
  • Hoạt động sản xuất, kỹ thuật và quản lý: Bắt đầu đưa máy móc cơ giới vào khâu làm đất (thống kê giá thành các loại máy cày từ năm 1924); Sở Lúa gạo Đông Dương (O.R) tiến hành nghiên cứu nông học, giới thiệu các giống lúa cấy hai lần (năm 1937) và cung ứng lúa giống cải tiến tại Phụng Hiệp (năm 1941) nhằm nâng cao năng suất thu hoạch.
  • Tác động của khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933: Thị trường gạo thế giới đình đốn khiến giá thóc giảm sâu, dẫn đến tình trạng hàng loạt điền chủ lớn tại miền Tây Nam Kỳ lâm vào cảnh nợ nần, phải cầm cố ruộng đất tại các ngân hàng và tổ chức tín dụng thuộc địa.
  • Nhân công và thị trường xuất khẩu: Sử dụng lực lượng tá điền và lao động làm thuê (coolie) với mức thù lao rẻ mạt; quan hệ kinh tế giữa điền chủ và tá điền bị chi phối nặng nề bởi địa tô và nạn cho vay nặng lãi. Lúa gạo miền Tây Nam Kỳ tiếp tục giữ vai trò trụ cột trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cảng Sài Gòn sang các thị trường châu Á và châu Âu trong suốt giai đoạn 1935 – 1944.

Chương 4. Đặc điểm và tác động của kinh tế đồn điền đối với kinh tế – xã hội miền Tây Nam Kỳ nửa đầu thế kỉ XX

Chương 4 đúc kết các đặc trưng bản chất và đánh giá hệ quả kinh tế – xã hội của mô hình đồn điền:

  • Bốn đặc điểm cốt lõi của kinh tế đồn điền miền Tây Nam Kỳ:
    1. Sở hữu ruộng đất tập trung quy mô lớn: Tích tụ đất đai ở mức độ rất cao; hệ thống đồn điền thuộc quyền sở hữu của tư sản Pháp và tầng lớp đại điền chủ người Việt với diện tích sở hữu từ 500 ha đến hàng nghìn ha mỗi chủ (tiêu biểu tại Bạc Liêu, Rạch Giá, Sóc Trăng).
    2. Sản xuất chuyên canh lúa gạo: Khác với mô hình đồn điền trồng cây công nghiệp (cao su, cà phê) tại miền Đông Nam Kỳ hay Bắc Trung Kỳ, đồn điền miền Tây Nam Kỳ chuyên canh cây lúa nước phục vụ mục đích thương mại xuất khẩu.
    3. Từng bước áp dụng khoa học kỹ thuật: Sử dụng cơ giới hóa máy cày, hệ thống nạo vét kênh mương bằng xáng cạp cơ giới và khảo nghiệm các giống lúa thuần của Sở Lúa gạo Đông Dương.
    4. Song song tồn tại hai quan hệ sản xuất: Tồn tại sự kết hợp giữa quan hệ sản xuất TBCN (đầu tư tư bản, hướng ra thị trường hàng hóa xuất khẩu) và quan hệ sản xuất phong kiến (áp dụng triệt để phương thức phát canh thu tô, địa chủ vắng mặt và bóc lột cho vay lãi nặng đối với tá điền).
  • Tác động đối với kinh tế – xã hội:
    • Về kinh tế: Thúc đẩy việc khai hoang hàng triệu hecta đất trũng phèn, hoàn thiện mạng lưới giao thông thủy lợi nội đồng, hình thành các đô thị thương nghiệp đầu mối lúa gạo như Cần Thơ; biến Nam Kỳ thành trung tâm xuất khẩu lúa gạo hàng đầu Đông Dương. Tuy nhiên, nền kinh tế phát triển thiếu cân đối, mang tính chất độc canh và hoàn toàn phụ thuộc vào sự biến động của thị trường tư bản thế giới.
    • Về xã hội: Phân hóa giai cấp diễn ra sâu sắc; đại bộ phận nông dân bị tước đoạt ruộng đất, biến thành tá điền và coolie chịu cảnh bần cùng hóa (nợ nần truyền đời, chi phí sinh hoạt gia đình thiếu thốn); làm nảy sinh và khoét sâu mâu thuẫn giai cấp ở nông thôn, dẫn tới các phong tràu đấu tranh tự phát của nông dân chống lại ách áp bức của địa chủ và chính quyền thuộc địa.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn như sau:

  • Đóng góp về lý luận và khoa học lịch sử: Công trình là nghiên cứu tương đối đầy đủ, toàn diện và có hệ thống đầu tiên về tiến trình thành lập và phát triển của kinh tế đồn điền tại toàn bộ 7 tỉnh miền Tây Nam Kỳ giai đoạn 1900 – 1945. Luận án góp phần đánh giá khách quan, khoa học vai trò và tác động thực tế của chính quyền thuộc địa, tầng lớp điền chủ và giai cấp nông dân; phân tích rõ nét cơ chế vận hành đan xen giữa quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và quan hệ bóc lột phong kiến trong kinh tế nông nghiệp thuộc địa.
  • Đóng góp về nguồn tư liệu: Sưu tầm, hệ thống hóa và khai thác khối lượng lớn tư liệu lưu trữ gốc bằng tiếng Pháp tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II (TP.HCM), các báo cáo thống kê của Phủ Thống đốc Nam Kỳ, Sở Lúa gạo Đông Dương cùng các tài liệu địa phương chí; góp phần phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử địa phương Nam Bộ.
  • Kiến nghị và bài học kinh nghiệm thực tiễn: Luận án đúc kết các bài học lịch sử cho phát triển nông nghiệp vùng Tây Nam Bộ hiện nay:
    1. Chú trọng quy hoạch và đầu tư đồng bộ mạng lưới thủy lợi (kênh rạch, cống đập ngăn mặn, giữ ngọt) nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn.
    2. Định hướng tổ chức sản xuất nông nghiệp từ quy mô nhỏ lẻ, phân tán sang mô hình tập trung, liên kết chuỗi giá trị.
    3. Tăng cường đầu tư nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp, lai tạo và chuẩn hóa các giống lúa chất lượng cao đáp ứng tiêu chuẩn thị trường quốc tế.
    4. Xây dựng các chính sách điều tiết vĩ mô, bình ổn giá và tìm kiếm đầu ra xuất khẩu ổn định cho hạt gạo Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Nguồn tư liệu thống kê của chính quyền thực dân trong một số giai đoạn đầu (như diện tích ruộng đất cụ thể bị tịch thu ngay sau Nghị định ngày 20/2/1862) chưa được thống kê đầy đủ trong hồ sơ lưu trữ do phong trào chống đối của nhân dân bản xứ kéo dài.
  • Một số chuỗi số liệu kinh tế thuộc địa trong các tài liệu tham khảo xuất bản thời Pháp chỉ phản ánh dữ liệu của từng năm đơn lẻ (ví dụ số liệu năm 1930 của Yves Henry), thiếu tính liên tục qua từng năm để so sánh toàn diện biến động vi mô.
  • Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong 7 tỉnh miền Tây Nam Kỳ, chưa có điều kiện so sánh định lượng sâu rộng với toàn bộ hệ thống đồn điền ở các vùng sinh thái khác trên toàn Liên bang Đông Dương.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiếp tục tìm kiếm và khai thác các phông lưu trữ chuyên biệt về đất đai thời thuộc địa hiện còn lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại Quốc gia Pháp (ANOM) để bổ sung thêm các hồ sơ cấp nhượng đồn điền chi tiết.
  • Mở rộng nghiên cứu so sánh mô hình kinh tế đồn điền trồng lúa miền Tây Nam Kỳ với các trung tâm sản xuất lúa gạo xuất khẩu khác ở Đông Nam Á cùng thời kỳ (như vùng châu thổ sông Menam ở Xiêm hay châu thổ sông Irrawaddy ở Miến Điện).

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Là tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề về Lịch sử Việt Nam cận đại, Lịch sử kinh tế Việt Nam, Lịch sử Nam Bộ và Lịch sử giai cấp nông dân Việt Nam.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý nông nghiệp vùng Tây Nam Bộ: Cung cấp góc nhìn lịch sử về quá trình cải tạo đất trũng phèn, bài học quản lý quy hoạch kênh rạch thủy lợi và kinh nghiệm xử lý vấn đề sở hữu đất đai nông thôn.
  • Những phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống biểu bảng số liệu lưu trữ gốc tại Chương 2 và Chương 3 (về lượng mưa, dân số, cấp nhượng đất đai, máy cày, giống lúa); phần phân tích 4 đặc điểm kinh tế đồn điền và mối quan hệ đan xen giữa quan hệ sản xuất tư bản với quan hệ phong kiến ở Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

  1. Địa giới hành chính miền Tây Nam Kỳ thời Pháp thuộc gồm những tỉnh nào theo luận án? Theo các Nghị định ngày 20/12/1889 và 20/12/1899 của Toàn quyền Đông Dương, miền Tây Nam Kỳ từ ngày 1/1/1900 đến năm 1945 gồm 7 tỉnh: Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Cần Thơ, Sóc Trăng và Bạc Liêu.

  2. Các văn bản pháp lý chính nào trước năm 1900 đã tạo cơ sở cho thực dân Pháp chiếm đoạt ruộng đất ở Nam Kỳ? Chính quyền thực dân đã ban hành: Nghị định ngày 20/2/1862 (tịch thu ruộng đất hoang và đất không có giấy tờ sở hữu hợp lệ); Quyết định ngày 15/5/1863 (công nhận quyền sở hữu cho người nộp văn bản cũ); Nghị định ngày 30/3/1865 (Thống đốc có quyền bán đấu giá và cấp không đất công); các nghị định năm 1874, 1882, 1888 và Nghị định ngày 28/9/1897 (khẳng định quyền tư hữu đất đai tuyệt đối cho công dân Pháp và người được bảo hộ).

  3. Đồn điền ở miền Tây Nam Kỳ khác biệt cơ bản như thế nào so với đồn điền ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ? Đồn điền ở miền Tây Nam Kỳ tập trung chuyên canh cây lúa nước trên vùng đất trũng phù sa màu mỡ phục vụ chế biến và xuất khẩu gạo thương phẩm; trong khi đồn điền ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ chủ yếu khai thác đất đỏ bazan, đồi núi để trồng các loại cây công nghiệp dài ngày (cà phê, chè) hoặc chăn nuôi gia súc.

  4. Nguồn nhân công làm việc trong các đồn điền miền Tây Nam Kỳ gồm những lực lượng nào? Lực lượng nhân công bao gồm nông dân bản xứ bị mất ruộng đất trở thành tá điền nhận ruộng phát canh thu tô, đội ngũ lao động làm thuê theo thời vụ (coolie) tại địa phương, và một bộ phận lao động được chiêu mộ từ Bắc Kỳ, Trung Kỳ chuyển vào (tuy nhiên số lượng lao động di dân này không lớn và không ở lại lâu do không thích nghi được với khí hậu và tập quán canh tác).

  5. Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933) đến kinh tế đồn điền miền Tây Nam Kỳ được luận án ghi nhận ra sao? Khủng hoảng khiến hoạt động sản xuất kinh doanh tại các đồn điền ngưng trệ, diện tích gieo trồng sút giảm, giá nông sản xuất khẩu giảm sút nghiêm trọng, dẫn đến tình trạng các đại điền chủ lâm vào cảnh nợ nần chồng chất và phải cầm cố đất đai trên quy mô lớn tại các tổ chức tín dụng.

Kết luận

Luận án "Kinh tế đồn điền ở miền Tây Nam Kỳ từ năm 1900 đến năm 1945" của tác giả Trần Minh Thuận là một công trình khoa học lịch sử kinh tế được thực hiện công phu, tái hiện một cách hệ thống tiến trình hình thành và phát triển của hệ thống đồn điền trồng lúa tại 7 tỉnh miền Tây Nam Kỳ thời thuộc địa. Thông qua nguồn tư liệu lưu trữ gốc phong phú, công trình làm rõ vai trò của chính sách thuộc địa, các dự án thủy lợi bằng xáng múc và sự kết hợp phức tạp giữa quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa với tàn dư bóc lột phong kiến. Luận án phân tích sâu sắc tác động hai mặt của kinh tế đồn điền: một mặt mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp và đưa Nam Kỳ thành vựa lúa xuất khẩu hàng đầu, mặt khác gây ra nạn tích tụ đất đai bất công và bần cùng hóa giai cấp nông dân. Những kết quả nghiên cứu và tư liệu được công bố trong luận án mang giá trị học thuật vững chắc cho việc nghiên cứu lịch sử kinh tế Việt Nam, đồng thời gợi mở các bài học kinh nghiệm có ý nghĩa thực tiễn đối với sự phát triển nông nghiệp của vùng Tây Nam Bộ ngày nay.