mở đầu quá trình di dân lên Bắc phần đảo Honshu rừng rú bạt ngàn từ thời bấy giờ. Người Ainu bản địa một phần bị đồng hóa bởi các bộ tộc di trú, một phần bị đuổi ngược trở lên mạn Bắc” [29, Tr. Hiện nay người Ainu tập trung sinh sống trên đảo Hokkaido và vẫn giữ những nét đặc trưng về văn hóa và tín ngưỡng của cộng đồng. Trong quá trình lịch sử, sự tiếp biến văn hóa giữa người tiền trú và dân nhập cư vẫn còn để lại những dấu ấn sâu sắc trong đời sống văn hóa Nhật Bản, chẳng hạn như Thần đạo (Shinto) được cho là có nguồn gốc từ nghi lễ tín ngưỡng của người Ainu [24, Tr.
12 CÂU HỎI THẢO LUẬN Câu hỏi 1: Tại sao Nhật Bản có sự đa dạng về cảnh quan? Câu hỏi 2: Chế độ phong kiến Nhật Bản có những đặc trưng cơ bản nào? CÂU HỎI ÔN TẬP Câu hỏi 1: Địa lý tự nhiên Nhật Bản có những đặc trưng cơ bản nào? Câu hỏi 2: Trình bày khái quát về tiến trình lịch sử của Nhật Bản? BÀI TẬP VỀ NHÀ Vẽ sơ đồ tư duy tóm tắt nội dung bài học. 13 CHƯƠNG II: CÁC THÀNH TỰU VĂN HÓA TIÊU BIỂU GIỚI THIỆU CHƯƠNG Nội dung Chương II rất phong phú và đặc sắc với nhiều nội dung kiến thức liên quan đến các thành tựu văn hóa Nhật Bản (văn hóa sáng tạo trong đời sống sinh hoạt, trong nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật trình diễn,…). Chương II tập trung vào mục tiêu trang bị cho sinh viên những kiến thức về các thành tựu văn hóa của người Nhật để từ đó thấu hiểu một cách hệ thống văn hóa sáng tạo Nhật Bản. HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY Ở chương này, chúng tôi đã thiết kế hoạt động giảng dạy theo hướng chọn điểm khởi đầu quy trình bằng cách cho sinh viên quan sát phản ánh (đặt câu hỏi cho sinh viên – nội dung câu hỏi gắn liền với khả năng quan sát của các em trong quá trình tiếp xúc/gặp gỡ người Nhật tại BVU nói riêng, Vũng Tàu nói chung, gợi ý cho các em cùng thảo luận, tranh luận về các vấn đề có liên quan), sau đó là trừu tượng hóa khái niệm (giảng viên giảng bài, sinh viên nghe giảng và kết hợp đọc tài liệu khi cần), thử nghiệm tích cực (mô hình/mô phỏng) và trải nghiệm cụ thể (trò chơi, đóng vai, video clips).
NỘI DUNG BÀI HỌC 2.1 VĂN HÓA SÁNG TẠO TRONG ĐỜI SỐNG SINH HOẠT 2. Ẩm thực Văn hóa ẩm thực của một dân tộc thường phản ánh điều kiện tự nhiên của đất nước mà dân tộc đó là chủ thể. Nhật Bản là một đảo quốc trên Thái Bình Dương với đường bờ biển dài hơn 30.000km, nên thành phần chủ yếu của nguyên liệu chế biến thức ăn ở đất nước này đến từ biển khơi. Ngoài ra, ẩm thực Nhật Bản cũng có một số nét tương đồng với ẩm thực của các nước Đông Á khác như việc ăn cơm, dùng đũa, chế biến các món từ các loại thực vật.
Lương thực chính ở Nhật Bản là hạt gạo có chứa tinh bột của cây lúa, trong tiếng Nhật gọi là kome (米). Ngoài ra, còn có từ gohan (ご飯) để chỉ gạo đã được nấu chín, 14 hoặc ghép với những từ chỉ thời gian để chỉ những bữa ăn trong ngày (ví dụ: hirugohan (昼ご飯) là bữa ăn trưa). Bữa ăn truyền thống của người Nhật thường gồm cơm cùng với một món chính là thịt hoặc cá, một vài món ăn thêm (thường là rau được nấu chín), canh (thường là canh miso), và rau ngâm dấm. Gạo có tính kết dính khi nấu chín, vì vậy người Nhật cũng sử dụng đũa khi ăn cơm.
Tuy nhiên, đũa của người Nhật có chiều dài ngắn hơn ở các nước như Trung Quốc hay Việt Nam, và đầu đũa dùng để gắp thức ăn cũng được vót nhọn hơn nhiều so với phần gốc.1: Kaiseki – Tinh hoa ẩm thực Nhật Bản [37] Cách chế biến món ăn của người Nhật cũng đa dạng. Có món nướng, có món hầm, món luộc, món rán vừa có chất béo vừa có nước, tương tự như món xào hay món kho ở Việt Nam. Đặc biệt là người Nhật rất thích ăn hải sản tươi sống và rong biển. Hải sản tươi sống thường được ăn kèm với mù tạc (tiếng Nhật là wasabi- わさび).
Rong biển thường dùng để quấn cơm thành những cuộn thon dài, gọi là norimaki (海苔巻き), ăn kèm với những thức ăn khác. Ngoài những thực phẩm chính có nguồn gốc từ hải sản và nông sản, người Nhật còn sử dụng các loại thức ăn phụ kèm theo như nước chấm shoyu, tương miso. Ở 15 Nhật Bản cũng có nhiều món ăn được chế biến từ đậu phụ (豆腐)- một loại thực phẩm giàu đạm động vật và rất tốt cho sức khỏe. Trong xã hội Nhật Bản hiện đại, văn hóa ẩm thực cũng có nhiều thay đổi.
Người Nhật chịu ảnh hưởng của ẩm thực phương Tây về loại thực phẩm cũng như cách chế biến hay tác phong ăn uống. Ở các đô thị lớn, có nhiều nhà hàng phục vụ các món ăn phương Tây xen kẽ với những nhà hàng phục vụ món ăn cổ truyền. Trước đây, giới sinh viên, học sinh hay công chức người Nhật thường dùng cơm hộp mang theo cho bữa ăn trưa nhưng gần đây tập quán này đã bị thay đổi. Nhiều cửa hàng bán thức ăn mọc lên ở những khu vực có nhiều công sở hay doanh nghiệp, phục vụ cả những loại thức ăn nhanh theo kiểu phương Tây và các món ăn truyền thống.
Giới thanh thiếu niên ở Nhật Bản ngày nay cũng rất ưa chuộng những món ăn du nhập từ nước ngoài như curry (Ấn Độ), spagetti (Italia) và nhiều món ăn của người phương Tây như hamburger, xúc xích. nên các món này dần dần trở thành một phần quan trọng của ẩm thực Nhật Bản. Một số món ăn truyền thống Sushi (寿司): Sushi là một món ăn truyền thống của Nhật Bản được làm từ cơm kết hợp với hải sản tươi sống hoặc nấu chín, với rau và một số gia vị (quan trọng nhất là wasabi nếu là sushi hải sản). Sushi có nguồn gốc từ phương pháp bảo quản cá của người dân ở khu vực Đông Nam Á bằng cách ủ cá vào trong cơm.
Loại cơm trộn dấm để làm sushi được gọi là sumeshi (鮨飯)hoặc sushimeshi (寿司 飯). Loại dấm để nấu thứ cơm này không phải là dấm thông thường mà là dấm có pha một ít muối, đường, rượu ngọt mirin, vì thế gọi là dấm hỗn hợp awasesu. Dấm này chuyên dùng để chế biến sushi, nên còn được gọi là sushisu. Cơm nấu xong (nấu không chín hoàn toàn như cơm bình thường) được đổ ra một cái chậu gỗ gọi là tarai rồi trộn dấm vào, vừa trộn vừa dùng quạt tay quạt cho hơi nóng thoát bớt ra để giữ hương vị của dấm.2: Sushi [38] Các loại hải sản dùng để làm sushi gọi là tane.
Đó có thể là cá ngừ, cá hồng, cá chình, cá cóc, cá thu, tôm (đặc biệt là loại tôm mà người Nhật gọi là sakuraebi), mực, bạch tuộc, các loại ốc biển, cua biển, … Có nhiều loại sushi, tùy theo cách chế biến. Loại thứ nhất là sushi nắm, gọi là nigirizushi. Sushi nắm gồm có cơm sumeshi được đắp lên bằng một một miếng tane. Ở giữa thường có một chút wasabi.
Phía trên miếng tane có thể có một chút gừng xay nhuyễn hoặc vài hạt hành xanh thái nhỏ. Loại sushi này phổ biến nhất.3: Nigirizushi [39] Loại thứ hai là sushi cuộn, gọi là makizushi được cuốn như các đồ ăn cuốn của Việt Nam, nhưng bên ngoài là lớp rong biển sấy khô.4: Makizushi [40] Loại thứ ba là sushi gói/xếp các lớp như bánh, gọi là oshisushi.5: Oshisushi [41] Loại thứ tư là narezushi, là món cá muối với gạo - được xem là một loại Sushi nguyên thủy nhưng Narezushi lại khác hoàn toàn với các loại Sushi khác, nó có mùi khó chịu và giống như phô mai xanh.6: Narezushi [42] Loại thứ năm là sushi cuốn đậu hủ, gọi là inarizushi 18 Hình 2.7: Inarizushi [43] Mỗi địa phương ở Nhật Bản lại có những nét riêng trong chế biến sushi. Có vùng không làm sushi từ hải sản và cũng không có sumeshi, mà lại dùng trứng trộn đường rồi rán lên. Có loại sushi cuộn mà bên trong có natto, thứ đậu tương ủ cho lên men nổi tiếng của Nhật Bản.
Sukiyaki (すき焼き): Sukiyaki là món được nấu tổng hợp từ nhiều nguyên liệu gồm có thịt bò, đậu phụ, nấm, rau củ, hành, mì sợi và các loại phụ gia. Những nguyên liệu này được nấu chung hoặc riêng tùy theo phong cách ẩm thực của từng vùng. Dụng cụ để nấu thường là xoong hoặc loại chảo sâu lòng để có thể đựng nhiều nước. Thịt bò được cắt thành lát mỏng và nấu chín trước, sau đó cho thêm các nguyên liệu và phụ gia khác thành một hỗn hợp được nấu sôi lên, gần giống như cách ăn món lẩu ở Trung Quốc và Việt Nam.8: Sukiyaki [44] 19 Sashimi (刺身): Sashimi là một món ăn truyền thống Nhật Bản mà thành phần chính là các loại hải sản tươi sống được cắt thành từng lát mỏng, ăn cùng với các loại nước chấm như xì dầu, tương, các loại gia vị như wasabi, gừng và một số loại rau thường là tía tô, bạc hà và củ cải trắng thái chỉ hoặc một số loại tảo biển.
Có thể giải thích nghĩa của từ sashimi là “cắt thịt tươi sống ra để ăn”.9: Sashimi [45] Một số loại hải sản mà người Nhật thường hay dùng làm sashimi là: cá hồi, cá ngừ, cá thu, cá saba, cá cóc, mực, bạch tuộc, tôm biển. Một số loại, chẳng hạn như bạch tuộc phải được hấp qua cho đỡ dai. Đôi khi, người Nhật còn dùng thịt ngựa, thịt gà, gan (tất nhiên đều ở dạng tươi sống) và konyaku (một thứ thạch làm từ khoai) để làm sashimi. Điều quan trọng nhất trong việc chế biến món sashimi là loại cá dùng để chế biến phải là cá biển tươi, tuyệt đối không dùng cá nước ngọt, vì cá nước ngọt có thể mang theo những động vật ký sinh gây ngộ độc thực phẩm khi ăn sống.
Trong thời Edo tempura thường được bán ở những quán ăn nhỏ ven đường 20 nhưng ngày nay đã trở thành một trong các món ăn được phục vụ thường xuyên tại các nhà hàng lớn.10: Tempura [46] Tempura là món tẩm bột rán được làm từ nhiều loại nguyên liệu khác nhau. Nguyên liệu chính thường là các loại hải sản như cá, tôm, lươn… được nhúng vào một hỗn hợp gồm bột và trứng hòa tan với nước rồi chiên giòn. Món này được ăn kèm với các loại thực vật như tiêu xanh, nấm, ngó sen hoặc ăn kèm với các món có nước như soba, udon. Rượu sake (お酒): Là loại rượu cổ truyền của người Nhật Bản.
Sake nguyên chất - seishu (清酒) - được chế tạo bằng cách cho lên men hỗn hợp gạo, mạch nha và nước.