CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LÀNG CẢNH DƯƠNG 1. Vị trí địa lý - Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Trên đường thiên l{ Bắc Nam, qua đèo Ngang chưa đầy 10km về phía Đông Nam, đứng trên cầu Ròn nhìn về hướng biển, chúng ta sẽ thấy hiện ra quang cảnh đầy ấn tượng về một vùng quê trù phú xinh đẹp nằm duyên dáng bên bờ biển thơ mộng, tấp nập thuyền bè vào ra. Đó là làng Cảnh Dương, một trong bát danh hương của Quảng Bình.
Tác giả Nguyễn Tú trong tác phẩm Những nét đẹp văn hoá cổ truyền Quảng Bình đã nhận định: Làng Cảnh Dương "là một làng nổi tiếng văn vật, làng học, làng nghề, làng chiến đấu, một làng có vị trí phong thuỷ hết sức phong phú". Sở dĩ khẳng định như vậy vì Cảnh Dương ở vào vị trí địa l{ khá độc đáo, có cảnh quan sông núi, có biển bao la ôm ấp. Làng Cảnh Dương nằm trên cửa biển Di Luân với toạ độ: 170,50 - 170,52 vĩ Bắc 1060,26 - 1060,27 kinh Đông Cảnh Dương được ví như "một con thuyền đang thả neo trên sông nước" [73,8+ hay như một bán đảo nhỏ. - Phía Đông là biển cả mênh mông bao bọc - Phía Tây là con Kênh Xuân Hưng lịch sử 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Phía Bắc là sông Ròn - Phía Nam là bãi cát vàng trải dài Địa thế này còn được phác họa trong Văn tế tổ với những câu thơ khá mượt mà: "Phía đông ngọc đổng chầu về Rùa vàng mũi vích nằm kề phía Tây Bảng vàng phía Bắc gần đây Phượng Hoàng chất ngất núi xây nghìn trùng Phía Nam bãi cát một vùng Như hình xa thổ vốn cung chầu về Chung quanh nước bọc ba bề Nghiên tần, bút tốn nằm kề Loan giang" 1.
Điều kiện tự nhiên Sông Loan núi Phượng hữu tình Bảng vàng ấn ngọc phân minh chầu về Nếu là người con của Cảnh Dương, hoặc đã từng đến Cảnh Dương không ai không biết đến hai câu thơ đầy { nghĩa này. Đây là những dòng thơ đã từng được khắc trên một văn bia dựng ở đầu làng, trên đường đi vào cổng làng trước năm 1945. Không phải ngẫu nhiên mà câu thơ lại được đặt 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vào vị trí trang trọng đó, phải chăng nó thay lời giới thiệu, như một lời nhắn gửi hay { nghĩa hơn là một thông điệp muốn gửi gắm đến tất cả những ai đã, đang và sẽ đến Cảnh Dương. Bởi ẩn chứa trong đó không chỉ là cảnh vật, con người mà cả tâm hồn của người dân nơi đây.
"Đây là cảnh quan trên bến dưới thuyền, là cảnh quan sông núi âm dương hoà hợp trong bức tranh sơn thuỷ" [73,14+. Hình ảnh "sông Loan", "núi Phượng" tạo cho Cảnh Dương vẻ thơ mộng, độc đáo và đầy sức quyến rũ, tạo nên cảm hứng bất tận cho các nhà văn, nhà thơ: "Cái đẹp! Ôi, cái đẹp, đến các bậc thánh như cụ Khổng Tử còn mê cái đẹp, huống chi các cụ nho sĩ nhà ta" *74, 29+. Cái đẹp chẳng phải ở đâu quá xa vời mà chính là đây, là non xanh, là nước biếc, là sự kết hợp hài hoà đến ngỡ ngàng khiến các bậc hiền tài không thể không viết thành thơ. "Sông Loan, núi Phượng như một bức tranh đẹp, hài hoà và cân xứng làm nên cảnh sắc riêng của xứ Ròn, mà làng Cảnh Dương chính là một điểm son rực rỡ trong bức tranh thiên nhiên kz thú đó" *27,9].
Sông Loan hay còn được gọi là sông Ròn, sông Di Luân, sông Nể Giang. Mặc dù có nhiều tên gọi khác nhau nhưng "tên gọi nào cũng mang dấu ấn văn hoá đẹp" [68, 139]. Cụ Tố Như Nguyễn Du khi đương chức cai bạ Quảng Bình thời Gia Long, nhớ quê Tiên Điền ngoài huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, đến Di Luân đứng bên sông Ròn làm thơ chữ Hán cũng đành gọi tên sông theo bọn người Hán thuở quận Nhật Nam, bộ Giao Chỉ là Nể Giang: Nể giang trào trướng bạch hàm thiên. (Sông Nể lồng lộng bóng trời trắng xoá khi thuỷ triều lên) Sông Ròn là một trong năm con sông lớn của Quảng Bình và là con sông ở miền Trung phát nguyên từ dãy Hoành Sơn.
Phải chăng vì thế mà người ta ví sông Ròn chính là "người bạn tình" của dãy Hoành Sơn? Tuy là 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một con sông lớn nhưng sông có chiều dài chỉ khoảng 30 km, lưu vực sông khoảng 260 km2. Sông có hai nguồn chính là hai con suối tạo thành, một nguồn là khe Hùng Sơn bắt đầu từ khe Chùa Thông, vùng Đá Đen (xã Quảng Hợp), nguồn khác là khe Thai bắt đầu từ vùng Đá Bạc (xã Quảng Kim). Sông chảy qua các xã Quảng Kim, Quảng Châu, Quảng Tùng, Quảng Phú rồi ra biển qua cửa Cảnh Dương. Cửa sông hẹp, sông lại cạn nên không thuận lợi cho các loại thuyền bè ra vào (chỉ thích hợp với một số loại thuyền nhỏ).
Sông Ròn là người bạn tri kỷ, gắn bó thân thiết với người dân nơi đây. Tự bao giờ, theo dòng chảy của tự nhiên, con sông như nhịp cầu nối liền những con người, vùng đất lại với nhau và hơn thế, nó đã chảy vào tâm hồn mỗi người những tìm cảm, sự sẻ chia và cộng cảm. Đâu đó đã không còn khoảng cách giữa con người và thiên nhiên, tất cả như hài hoà, đan xen. Người Cảnh Dương đã không biết bao nhiêu lần, trên con sông này, họ tìm đến những vùng đất khác để làm ăn, buôn bán, đánh bắt tôm, cá.
và không hiểu từ khi nào, hình ảnh con sông đã ăn sâu vào tâm thức của mỗi người, như một nét văn hoá khó phai mờ. Trong bức tranh tuyệt đẹp của tạo hoá, sông Ròn sẽ trở nên mềm mại hơn, thơ mộng hơn khi xuất hiện dãy Hoành Sơn sừng sững, hùng vĩ và đầy sức sống. Vì thế Hoành Sơn được ví như con chim Phượng đang mạnh mẽ dang rộng đôi cánh: "chim đang bay ra biển Đông, hai cánh xoè ra hai bên. Cánh trái của chim là phía Hà Tĩnh, cánh phải là Quảng Bình, chỗ cao nhất của chim có bình độ 1.089 m, và nơi mỏ chim cúi xuống biến là đỉnh Đèo Ngang (cũ) có cổng Hoành Sơn Quan, phân chia địa giới hai tỉnh".
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoành Sơn có chiều dài 129km, đỉnh cao nhất là đỉnh Chóp Chài cao 1.044 km ngăn cách giữa hai vùng Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên. Đèo Ngang và Hoành Sơn được xem là "địa đầu bình phong cho cả hai miền Bắc và Nam - Hoành Sơn nhất đái - cho nên vua Minh Mạng cũng lấy Hoành Sơn làm trường thành án ngữ - dĩ Hoành Sơn vi án" *73,15+. Nơi đây đã từng diễn ra trận chiến giữa hai nước Việt Chăm và "vết tích Lâm Ấp vẫn còn in dấu" [27, 9+. Đại Nam nhất thống chí ghi: "Thạch thành Lâm ấp trúc Lục lộ Tử An bình" Dịch nghĩa: Thành đá Lâm Ấp đắp Đường bộ Tử An xây (Bùi Quang dịch) Trên đỉnh Đèo Ngang hiện vẫn sừng sững uy nghi một cổng thành Hoành Sơn Quan.
Về gốc tích của Hoành Sơn Quan, tác giả Nguyễn Tú nhận định: "Năm thứ tư, đời vua Minh Mạng, Quảng Bình bộ tâu nói: Hoành Sơn, chỗ giáp giới tỉnh Quảng Bình với Hà Tĩnh, núi cao, lại giáp biển là chỗ quan trọng, xin đặt quan ải ở đây. Vua nghe lời tâu mà đặt tên là Hoành Sơn Quan, sai công bộ Thị lang Đoàn Công Phú đốc xuất việc làm và dụ rằng: Nay phương Nam phương Bắc họp thành một nhà, bốn mặt biên thuz đều không xảy ra việc gì, dải núi Hoành Sơn mà đặt thêm quan ải để xét hỏi bọn gian phi, không cần cao rộng lắm. Đến tháng 3 năm 1842, vua Thiệu Trị, con vua Minh Mạng, ông vua thứ ba triều Nguyễn, ngự giá ra Bắc đón nhận lễ sắc phong của Hoàng đế Trung Quốc ngang qua Đèo Ngang đã làm bài thơ vịnh cổng thành, khắc vào bia bên cạnh cửa như sau: 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhất đái miên thành hạn tiết san Uyển diên khởi phục hải tần quan Dịch nghĩa: Hoành Sơn một dải núi như dải lụa chắn ngang Nhấp nhô trùng điệp uốn khúc bên bờ biển Hoành Sơn quan không chỉ có { nghĩa về mặt lịch sử mà nó còn kết tinh giá trị văn hoá vô cùng qu{ giá. Mặc dù trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, chứng kiến biết bao đổi thay của đất nước, nhưng Hoành Sơn quan không vì thế mà nhạt phai trong tâm thức của mỗi người.
Đến tận hôm nay, khi đặt chân đến chốn này, tận mắt chứng kiến sự tồn tại, thách thức với thời gian của Hoành Sơn quan - một trong những công trình được đánh giá là "chắc chắn hơn cả những cổng thành chốn kinh kz" [70, 49] chúng ta mới hiểu hết sức sống tiềm tàng đang ẩn chứa đâu đây: ". trải bao nhiêu gió núi, mưa ngàn, chịu đựng trước biết bao cơn bão ác liệt, cả bão trời lẫn bão bom đạn của địch mà vẫn vững chãi, chắc chắn, thi gan cùng tuế nguyệt, thách đố với thời gian. Đứng trước Hoành Sơn Quan, nhìn lên vòm cửa cao ngất, tưởng như núi non xung quanh đều thấp xuống mà tự thấy con người lớn lên, vít được tầng mây, nhìn suốt được biển trời bát ngát, mà động lòng hoài cổ, tưởng tượng ra những điều kz diệu!" [70, 49]. “Việc xây dựng Hoành Sơn Quan, người ta không hiểu, người xưa, với hai bàn tay không, lưng trần chân đất, không một tấc sắt thép, máy móc, họ làm sao đưa lên ngọn núi này một khối lượng đá gạch, vôi vữa, bằng con đường bậc thang tưởng như chọc trời này, để xây một cổng thành, đến nay trải hơn 150 năm, vẫn còn vững chắc tưởng như chưa hề hư hỏng” *68, 50].
17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoành Sơn không chỉ có { nghĩa quan trọng về mặt kinh tế đối với người dân Cảnh Dương nói riêng và người dân vùng phía Bắc Quảng Bình nói chung mà còn rất đỗi thiêng liêng đối với Cảnh Dương: "Nằm trước mặt làng, Hoành Sơn cách Cảnh Dương (nơi gần nhất) 4 cây số, là một kz quan mà thiên nhiên ban tặng cho con người, miền đất "Địa linh, nhân kiệt". Người Cảnh Dương xưa đã chọn làm hướng làng. "Tả Thanh long: Di lộc, Di Luân; hữu Bạch Hổ: Trung Hoà, Cương giáng" "Trái thi vạn con nước, phải thu về vạn ngọn đá ngầm" "Di Hoành sơn vi án" (Trích Phạm tộc phả k{) Con người tắm mình trong cảnh quan sông núi, cảnh quan sông núi tiềm ẩn trong lòng người đã hình thành một tình cảm đẹp, một triết l{ đẹp, một lối sống đẹp - đấy là niềm tự hào chính đáng về quê hương".