Tổng quan nghiên cứu

Làng Cảnh Dương thuộc huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình là một trong "bát danh hương" nổi tiếng với bề dày lịch sử hơn 366 năm hình thành và phát triển tính từ năm 1643. Tọa lạc trên diện tích tự nhiên hẹp khoảng 3 km2 tại tọa độ địa lý 17°50' - 17°52' vĩ Bắc và 106°26' - 106°27' kinh Đông, Cảnh Dương sở hữu địa thế đặc biệt như một bán đảo cát trắng với ba bề sông biển bao bọc. Toàn bộ đất đai của làng là cồn cát ven biển, không có đất canh tác nông nghiệp lúa nước, điều này buộc 100% cư dân từ thuở lập làng phải chọn biển làm hướng sinh tồn và phát triển kinh tế.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ thực trạng các giá trị văn hóa dân gian truyền thống của làng biển Cảnh Dương đang đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng. Trải qua hai cuộc chiến tranh ác liệt cùng hơn 120 trận càn quét của đối phương, hơn 80% công trình kiến trúc cổ kính như Đình Lớn, chùa Cảnh Phúc Tự, Miếu Cá Ông nguyên bản đã bị tàn phá nặng nề. Cùng với áp lực đô thị hóa và hiện đại hóa, nhiều di sản phi vật thể quý báu như hò chèo cạn, hát ru, hội bơi trải và tri thức dân gian biển có nguy cơ thất truyền.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là khảo sát toàn diện, phân tích cấu trúc và lý giải các hiện tượng văn hóa dân gian tiêu biểu tại làng Cảnh Dương từ khởi thủy năm 1643 đến năm 2009 trên 6 phương diện: kiến trúc dân gian, tín ngưỡng tâm linh, lễ hội cổ truyền, diễn xướng dân gian, ngữ văn và tri thức bản địa. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp hệ thống dữ liệu chuẩn xác để phục vụ công tác số hóa 100% tư liệu 4 văn bia cổ, bảo tồn 11 đạo sắc phong triều Nguyễn và xây dựng chiến lược phát triển du lịch di sản văn hóa bền vững cho địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được triển khai dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các lý thuyết nhân học và văn hóa học hiện đại. Trong đó, hai lý thuyết trọng tâm được áp dụng gồm:

Thứ nhất, Lý thuyết Sinh thái Văn hóa (Cultural Ecology) giúp làm rõ mối quan hệ tương tác hữu cơ giữa môi trường tự nhiên ven biển khắc nghiệt với phương thức mưu sinh và các hình thái văn hóa dân gian của cư dân.

Thứ hai, Lý thuyết Tiếp biến và Giao lưu Văn hóa (Acculturation) được sử dụng để giải mã quá trình di dân từ Nghệ An vào Quảng Bình từ thế kỷ XVII, phân tích sự dung hợp giữa yếu tố văn hóa cội nguồn xứ Nghệ với văn hóa biển miền Trung.

Mô hình nghiên cứu được xây dựng theo cấu trúc chức năng ba trục: Môi trường tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử là nền tảng; Thực hành kinh tế biển là động lực; Hệ thống di sản vật thể và phi vật thể là biểu đạt văn hóa cốt lõi. Khung phân tích vận dụng 5 khái niệm chuyên ngành then chốt: Văn hóa dân gian ven biển (Maritime Folklore), Bát danh hương Quảng Bình, Tín ngưỡng Thành hoàng Bổn Thổ, Tục thờ Cá Ông (Nam Hải Đại Tướng Quân) và Tri thức bản địa (Indigenous Knowledge) về khí hậu, luồng hải lưu và ngư trường.

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, tác giả đã tiến hành khảo sát điền dã thực địa toàn diện tại địa bàn xã Cảnh Dương trong khung thời gian nghiên cứu liên tục từ năm 2008 đến năm 2009. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 100% các phế tích và di tích kiến trúc tâm linh hiện hữu tại 8 thôn của xã, 4 văn bia cổ chữ Hán, 11 đạo sắc phong thần từ thời vua Thiệu Trị đến vua Khải Định, cùng 2 bộ cốt xương cá voi khổng lồ được bảo tồn tại Linh Ngư Miếu.

Phương pháp chọn mẫu phi xác suất (chọn mẫu chuyên gia kết hợp phương pháp quả cầu tuyết) được áp dụng để thực hiện 25 cuộc phỏng vấn sâu với các bô lão, thủ từ, nghệ nhân chèo cạn và ngư dân cao tuổi từ 65 đến 85 tuổi có am hiểu sâu sắc về phong tục tập quán làng xã.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích văn bản Hán Nôm đối sánh với tư liệu điền dã dân tộc học là nhằm đảm bảo tính xác thực lịch sử của các nguồn phả ký dòng họ như Phạm tộc gia phả ký, Nguyễn Thị tiểu tông gia phả, Bổn xã khai khẩn truyện ký. Nguồn dữ liệu thứ cấp được kế thừa chọn lọc từ các công trình kinh điển như Đại Nam nhất thống chí, Cảnh Dương chí lược xuất bản năm 1993 và các báo cáo khoa học của Viện Nghiên cứu Văn hóa Dân gian năm 2000. Toàn bộ dữ liệu được tổng hợp, phân loại và đối sánh liên vùng với hơn 30 làng biển tiêu biểu khu vực Bắc Trung Bộ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát và xử lý dữ liệu đã đưa ra 4 phát hiện khoa học quan trọng về văn hóa dân gian làng Cảnh Dương:

Thứ nhất, lịch sử định cư và quy hoạch không gian mang tính chiến lược cao. Làng được khởi lập vào ngày 18 tháng 11 năm 1643 (năm Quý Mùi) tại xứ Cồn Dưa bởi 6 vị tiền hiền. Đến năm 1655, làng dời về xứ Lòi Mắm (vị trí hiện nay) và chính thức định danh Cảnh Dương vào năm 1658. Chỉ sau 19 năm lập nghiệp, đến năm 1662, làng đã lập bộ đinh với 47 suất, sở hữu 4 ghe buôn và 6 ghe chài, tăng 100% năng lực phương tiện vượt biển so với giai đoạn đầu. Quy hoạch làng được bố trí hình bàn cờ độc đáo, các công trình đều tuân thủ trục phong thủy Tọa Khôn Hướng Cấn.

Thứ hai, di sản kiến trúc tâm linh và cổ vật có quy mô bề thế vượt trội so với các làng ven biển cùng thời. Đình Lớn được khởi dựng năm 1666 với quy mô 3 tòa chữ Tam bằng gỗ lim, táu ghép mộng hoàn toàn không dùng đinh. Chùa Cảnh Phúc Tự lập năm 1667 sở hữu ao sen rộng 400 m2, hơn 100 pho tượng sơn son thếp vàng và lưu giữ quả chuông đồng Cảnh Viện Hồng Chung đúc năm 1801 thời Tây Sơn với trọng lượng 137 kg, chiều cao toàn bộ 1050 mm và chu vi 1290 mm.

Thứ ba, sự dung hợp tín ngưỡng kép đặc sắc giữa Mẫu thần và Thần biển. Cảnh Dương thờ Đại Càn Tứ Vị Thánh Nương làm Thành hoàng Bổn Thổ tại Đình Lớn (được vua Tự Đức phong Thượng Đẳng Thần năm 1880) song song với tín ngưỡng thờ Cá Ông tại Linh Ngư Miếu (xây dựng lại năm 2005 lưu giữ 2 bộ cốt xương dài như đòn gánh và tổ chức lễ an táng Cá Cô ngày 26 tháng 2 năm 2009).

Thứ tư, tiềm lực kinh tế hàng hải và nghề chế biến mắm truyền thống đạt đỉnh cao. Từ năm 1664, làng đã có lệ cống nạp mắm Hàm Hương cho triều đình. Doanh thu buôn bán nước mắm và hải sản ra các tỉnh phía Bắc ước đạt trên 10 vạn đồng bạc mỗi năm vào đầu thế kỷ XX. Năm 1789, làng đã đóng góp 5 ghe Tràng Đà và 50 thanh niên ưu tú gia nhập đoàn quân của Hoàng đế Quang Trung.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi tạo nên bản sắc độc đáo của văn hóa Cảnh Dương nằm ở quy luật thích ứng sinh thái nhân văn. Do điều kiện tự nhiên 100% là cát trắng, không thể sản xuất nông nghiệp, cư dân buộc phải phát triển toàn diện kinh tế biển gồm đánh bắt xa bờ, vận tải thủy và chế biến hải sản. Vùng biển phía Bắc lạch Ròn với địa hình đá san hô phức tạp (Hòn La, Hòn Lố, Mũi Rồng) cung cấp nguồn hải sản phong phú như cá tho, cá dưa, cá hàm hương; trong khi vùng bãi ngang phía Nam đáy bùn cát thuận lợi cho nghề lưới trủ, lưới vây.

So sánh với các làng nông nghiệp vùng đồng bằng Quảng Bình và các làng chài Nam Trung Bộ, Cảnh Dương thể hiện tính chất trung gian tiếp biến rõ rệt. Làng giữ vững hệ giá trị Nho học xứ Nghệ với truyền thống hiếu học khai khoa Tiến sĩ đầu tiên của huyện Quảng Trạch, duy trì 4 công trình bi ký cổ khuyến học khuyến đức. Đồng thời, Cảnh Dương tiếp thu tín ngưỡng thờ Cá Ông vốn thịnh hành từ phía Nam sông Gianh trở vào, tạo nên sự giao thoa hài hòa giữa tín ngưỡng Tứ Vị Thánh Nương phương Bắc và tục thờ thủy thần phương Nam.

Dữ liệu nghiên cứu về niên đại di tích và cơ cấu tín ngưỡng có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ phân bố niên đại các công trình di sản (thế kỷ XVII chiếm 50%, thế kỷ XVIII chiếm 20%, thế kỷ XIX - XX chiếm 30%) và bảng ma trận đối sánh 12 yếu tố văn hóa dân gian giữa Cảnh Dương với các làng biển lân cận như Ngư Thủy, Bảo Ninh, Thanh Trạch. Điều này minh chứng Cảnh Dương là một điển hình mẫu mực của làng biển văn vật miền Trung.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo cứu thực tế, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân gian làng Cảnh Dương:

Thứ nhất, thực hiện số hóa toàn diện 100% hệ thống tư liệu văn bia Hán Nôm, 11 đạo sắc phong thần và hồ sơ di tích kiến trúc cổ bằng công nghệ quét 3D và cơ sở dữ liệu số chuẩn quốc gia. Thời gian triển khai từ quý I năm 2026 đến quý IV năm 2027 do Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Quảng Bình chủ trì, phối hợp cùng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển.

Thứ hai, phục dựng và bảo tồn không gian thực hành các lễ hội dân gian truyền thống, đặc biệt là Lễ tế Cá Ông, hội bơi trải và nghệ thuật diễn xướng hò chèo cạn tại Linh Ngư Miếu. Mục tiêu tổ chức định kỳ 2 kỳ lễ hội quy mô lớn mỗi năm, hướng tới thu hút trên 15.000 lượt khách tham quan trải nghiệm mỗi năm. Thời gian thực hiện từ năm 2026 đến năm 2028 dưới sự điều hành của Ủy ban nhân dân xã Cảnh Dương và Ban quản lý di tích làng.

Thứ ba, xây dựng mô hình du lịch văn hóa di sản cộng đồng gắn kết không gian Làng bích họa Cảnh Dương với trải nghiệm làng nghề chế biến nước mắm truyền thống Hàm Hương. Phấn đấu nâng tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ du lịch văn hóa đạt trên 35% tổng thu ngân sách địa phương vào năm 2030. Đơn vị thực hiện gồm Ủy ban nhân dân huyện Quảng Trạch kết nối cùng các hiệp hội du lịch và doanh nghiệp lữ hành.

Thứ tư, biên soạn tài liệu giáo dục di sản địa phương đưa vào giảng dạy ngoại khóa tại 100% các trường tiểu học và trung học cơ sở trên địa bàn xã Cảnh Dương với thời lượng 15 tiết mỗi năm học, hoàn thành trước thềm năm học mới 2026 - 2027 do Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Quảng Trạch phê duyệt và giám sát.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Nhóm thứ nhất là các nhà nghiên cứu, chuyên gia văn hóa học, nhân học và Việt Nam học. Luận văn cung cấp hệ thống tư liệu điền dã nguyên bản, phương pháp tiếp cận di sản làng biển và nguồn sử liệu Hán Nôm quý giá phục vụ các công trình nghiên cứu so sánh văn hóa biển khu vực miền Trung.

Nhóm thứ hai là cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách tại địa phương. Nguồn tài liệu này là căn cứ khoa học trực tiếp để xây dựng hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia cho Lễ hội Cầu ngư và Hò chèo cạn Cảnh Dương, đồng thời lập quy hoạch tôn tạo di tích Đình Lớn và Linh Ngư Miếu.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành khoa học xã hội. Công trình đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu làng xã truyền thống, kỹ năng điền dã dân tộc học và kỹ thuật phân tích phả ký văn bia.

Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp du lịch lữ hành và tổ chức phát triển cộng đồng. Dữ liệu luận văn giúp định hình các sản phẩm du lịch trải nghiệm di sản độc đáo, xây dựng câu chuyện truyền thông văn hóa cho sản phẩm mắm truyền thống và các đặc sản OCOP địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Làng Cảnh Dương có nguồn gốc hình thành từ đâu và thuộc nhóm làng văn vật nào của Quảng Bình?

Làng Cảnh Dương được thành lập vào ngày 18 tháng 11 năm 1643 bởi 6 vị tiền hiền gốc từ trang Cảnh Dương, huyện Chân Phúc, phủ Đức Quang, tỉnh Nghệ An di cư vào châu Bố Chính. Trải qua hơn 366 năm lịch sử, nơi đây được tôn vinh là một trong "bát danh hương" văn vật của tỉnh Quảng Bình nhờ truyền thống hiếu học khai khoa Tiến sĩ, tinh thần kháng chiến kiên cường và kho tàng văn hóa dân gian phong phú.

Điểm độc đáo nhất của tín ngưỡng Thành hoàng tại làng Cảnh Dương là gì?

Khác với các làng nông nghiệp đồng bằng thường thờ nhân thần có công lập làng, Cảnh Dương thờ Nữ thần Đại Càn Tứ Vị Thánh Nương làm Thành hoàng Bổn Thổ tại Đình Lớn. Tín ngưỡng này có nguồn gốc phát nguyên từ Đền Cờn (Nghệ An) và được ngư dân tiếp nhận nhằm cầu mong sự chở che, bình an trên sóng nước, thể hiện rõ tính chất văn hóa tâm linh của cư dân mưu sinh trên biển cả.

Hiện vật cổ nào của làng Cảnh Dương còn nguyên vẹn sau hai cuộc chiến tranh ác liệt?

Hiện vật quý giá và nguyên vẹn nhất là quả chuông đồng Cảnh Viện Hồng Chung đúc năm 1801 dưới triều đại Tây Sơn, nặng 137 kg, cao 1050 mm. Chuông mang bài ký của giám sinh Nguyễn Đức Quỳnh và hiện được nhân dân lưu giữ trang trọng để gióng lên vào ngày lễ tế tổ Đông chí hàng năm, trở thành biểu tượng tinh thần bất diệt của làng biển.

Tín ngưỡng thờ Cá Ông tại Cảnh Dương có đặc trưng gì khác biệt so với các vùng biển khác?

Cảnh Dương nằm ngay ranh giới chuyển tiếp giữa văn hóa biển phía Bắc và phía Nam. Luận văn chỉ ra rằng từ Đèo Ngang trở ra Bắc tục thờ cá voi khá mờ nhạt, nhưng tại Cảnh Dương tín ngưỡng này lại phát triển cực kỳ mạnh mẽ với việc xây dựng Linh Ngư Miếu, lưu giữ 2 bộ xương khổng lồ và thực hành nghi lễ an táng Cá Ông chu đáo theo tục lệ địa phương.

Quy hoạch làng Cảnh Dương có nét kiến trúc nào đặc biệt so với các làng quê truyền thống?

Cảnh Dương được xây dựng trên cồn cát 3 km2 theo kết cấu bàn cờ thẳng tắp với các ngôi nhà gạch ngói san sát kiểu úp bát, tường rào bao quanh bằng đá san hô vững chắc. Kiến trúc này mang dáng dấp của một đô thị cổ ven biển văn minh, vừa giúp chắn gió bão mặn mòi từ đại dương, vừa thuận lợi cho việc phòng thủ quân sự trong lịch sử chống ngoại xâm.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện quá trình hơn 366 năm xây dựng và phát triển của làng biển Cảnh Dương từ dấu mốc lịch sử năm 1643.
  • Làm rõ cấu trúc không gian và giá trị nghệ thuật của quần thể di tích tiêu biểu gồm Đình Lớn, Chùa Cảnh Phúc Tự, Miếu Cá Ông cùng quả chuông đồng Tây Sơn đúc năm 1801.
  • Phân tích sâu sắc sự dung hợp độc đáo giữa tín ngưỡng Tứ Vị Thánh Nương và tục thờ Cá Ông trong đời sống tâm linh của cư dân vùng cửa lạch Ròn.
  • Khảo cứu và ghi nhận kho tàng di sản phi vật thể phong phú gồm 4 văn bia cổ, 11 đạo sắc phong triều Nguyễn, nghệ thuật diễn xướng hò chèo cạn và tri thức khai thác hải sản bản địa.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm kết nối bảo tồn di sản với phát triển kinh tế biển và du lịch cộng đồng bền vững giai đoạn 2026 - 2030.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp cái nhìn khoa học, toàn diện và sâu sắc về văn hóa dân gian làng Cảnh Dương trong bức tranh tổng thể văn hóa biển miền Trung. Kế hoạch tiếp theo cần tập trung hoàn thiện hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể quốc gia trước quý IV năm 2027 và triển khai các chương trình số hóa di sản số. Các cấp quản lý, nhà nghiên cứu và cộng đồng địa phương hãy chung tay hành động để gìn giữ, phát huy kho tàng văn hóa vô giá của làng biển Cảnh Dương anh hùng cho muôn đời sau.