lOMoARcPSD|16911414 ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Khoa Văn hóa học ---o0o--- TẬP BÀI GIẢNG Môn ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA HỌC TS. Nguyễn Ngọc Thơ Năm 20… Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 MỤC LỤC Chương 1: VĂN HÓA 1. Lịch sử văn hóa và văn minh 2. Đặc trưng của văn hóa 4. Chức năng của văn hóa 5. Toàn cầu hóa và văn hóa Chương 2: VĂN HÓA HỌC 1. Tổng quan Văn hóa học 2. Qúa trình hình thành và phát triển văn hóa học ở phương Tây 3. Lý luận Văn hóa học ở Trung Quốc 4. Văn hóa học và Nghiên cứu văn hóa 5. Một số lý thuyết Văn hóa học tiêu biểu a. Tiến hóa luận cổ điển b. Tân tiến hóa luận c. Chức năng luận d. Chủ nghĩa vật chất văn hóa e. Cấu trúc luận f. Lý thuyết chọn lọc văn hóa g. Chủ nghĩa nữ quyền h. Chủ nghĩa hậu hiện đại Bổ sung: Chủ nghĩa Hậu cấu trúc Chủ nghĩa Hậu Nhân văn Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 CHƯƠNG I VĂN HÓA 1. NHẬN DIỆN VĂN HOÁ GS. Trần Ngọc Thêm Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Tp. HCM Ngày nay, không còn ai nghi ngờ gì về sự tồn tại của văn hóa học như mô ̣t khoa học đô ̣c lâ ̣p. Tuy nhiên, nền tảng lý luâ ̣n của nó thì vẫn đang trên đường hoàn thiê ̣n. Nền tảng lý luâ ̣n của văn hóa học có thể được xây dựng từ nhiều hướng, nhưng trong bất kỳ trường hợp nào thì nó cũng phải giúp giải quyết được những vấn đề rất cụ thể do thực tiễn đă ̣t ra. Trước hết, nó phải cho phép trả lời ba câu hỏi: Thứ nhất, làm sao để xác định được mô ̣t sự vâ ̣t, hiê ̣n tượng. có thuô ̣c về văn hóa hay không. Thứ hai, làm sao để xác định được mô ̣t đối tượng có phải là mô ̣t nền văn hóa hay không. Và thứ ba, làm sao để nhâ ̣n diê ̣n được mô ̣t nghiên cứu có phải là thuô ̣c lĩnh vực văn hóa học hay không. Bài viết này nằm trong mô ̣t hướng tiếp câ ̣n xây dựng nền tảng lý luâ ̣n của văn hóa học và giới hạn ở cố ́ gắng trả lời mô ̣t cách ngắn gọn ba câu hỏi vừa nêu. Để nhâ ̣n diê ̣n mô ̣t đối tượng, không gì tốt hơn là dựa vào định nghĩa của nó. Như vâ ̣y, trước khi đi vào viê ̣c nhâ ̣n diê ̣n đối tượng, cần phải có định nghĩa đối tượng. Yêu cầu đă ̣t ra đối với mô ̣t định nghĩa là nó phải chứa đựng được những đă ̣c trưng CẦN và ĐỦ để bao quát vừa hết phạm vi của đối tượng, không thiếu, không thừa. Đáng tiếc là trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn người ta thường đưa ra định nghĩa mô ̣t cách khá tuỳ hứng, mà không để ý đến yêu cầu này. I- Định nghĩa văn hoá a) Văn hoá như một hệ giá tri Không thoả mãn với những định nghĩa đã có, trong bản in đầu tiên (lưu hành nô ̣i bô ̣) của cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam do Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội ấn hành năm 1991 [Trần Ngọc Thêm 1991], chúng tôi đã đề xuất định nghĩa coi "văn hoá là mô ̣t hê ̣ thống hữu cơ của các giá trị vâ ̣t chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt đô ̣ng thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hô ̣i của mình". Định nghĩa này vẫn được giữ nguyên trong các bản in chính thức sau này của cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam cũng như cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của cùng tác giả. Định nghĩa này xem văn hóa như mô ̣t hê ̣ giá trị. Trong lý luâ ̣n văn hóa học, những định nghĩa như vâ ̣y thường được xếp vào "cách tiếp câ ̣n giá trị học" (axiological approach, t. Hy Lạp axios = giá trị), bên cạnh những cách tiếp câ ̣n khác như miêu tả, chức năng, nhân loại học, tâm lý học, xã hội học, ký hiê ̣u học. Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 Có ý kiến cho rằng chỉ giới hạn văn hóa ở các giá trị là thu hẹp pham vi của nó và đối lâ ̣p cách tiếp câ ̣n giá trị học với cách tiếp câ ̣n nhân loại học coi văn hóa là tổng thể các sản phẩm hoạt đô ̣ng của con người, họ cho rằng chỉ có như vâ ̣y mới bao quát được toàn bô ̣ khái niệm văn hóa. Thực ra, nói như vâ ̣y là chưa hiểu hết khái niệm giá trị. "Giá trị" là khái niê ̣m có đô ̣ bao quát rất lớn. Không chỉ các đồ vâ ̣t, sách vở, tác phẩm nghê ̣ thuâ ̣t mới có thể là giá trị, mà cả truyền thống, nếp sống, chuẩn mực, tư tưởng, thiết chế xã hô ̣i, biểu trưng, thông tin. đều có thể là giá trị. Không chỉ các sản phẩm mới là giá trị, mà cả các hoạt đô ̣ng, công nghê ̣, quy trình, phương thức, quan hê ̣. đều có thể xác định như các giá trị. Giá trị có thể hữu hình hoă ̣c vô hình, có thể tĩnh hoă ̣c đô ̣ng. Và điều quan trọng là giá trị phụ thuô ̣c vào người đánh giá, nơi đánh giá, thời điểm đánh giá, tiêu chí đánh giá, v. Vì vâ ̣y, mọi sản phẩm hoạt đô ̣ng của con người đều có thể là giá trị. Ngoài ra, văn hóa không chỉ là những giá trị, mà còn là những biểu tượng. b) Văn hoá như một hệ biểu tượng Hoạt động sáng tạo ra các giá trị văn hóa có thể xuất phát từ những tư tưởng, ý nghĩa mà tạo ra những sự vật, khái niệm thể hiê ̣n các tư tưởng, ý nghĩa đó; hoă ̣c cũng có thể ngược lại, xuất phát từ những sự vật có sẵn để tìm mô ̣t tư tưởng, ý nghĩa thích hợp để gán vào. Bất luâ ̣n trong trường hợp nào, hoạt động "gắn mô ̣t sự vật, khái niệm với mô ̣t ý nghĩa, tư tưởng" là hoạt đô ̣ng biểu trưng. Sản phẩm của hoạt động biểu trưng là biểu tượng (symbol). Biểu tượng là tổng thể của hình ảnh được trưng ra (cái biểu hiên) ̣ cùng mối quan hê ̣ của nó với sự vật, khái niệm, tư tưởng mà nó thay thế (cái được biểu hiê ̣n, ý nghĩa). Thực vâ ̣t là sản phẩm tự nhiên. Thực vâ ̣t ăn được / không ăn được cũng là phẩm chất của tự nhiên. Nhưng cùng mô ̣t loại thực vâ ̣t, tô ̣c người này ăn, tô ̣c người kia có thể không ăn. Cùng ăn, nhưng tô ̣c người này đánh giá là ngon, tô ̣c người kia cho là không ngon. Viê ̣c gắn quan niê ̣m "ăn / không ăn", "ngon / không ngon" vào mô ̣t loại thực vâ ̣t là hoạt động biểu trưng, xuất phát từ cùng mô ̣t chất liê ̣u tự nhiên mà tạo nên những biểu tượng khác nhau: "thực vâ ̣t ăn / không ăn", "thực vâ ̣t ngon / không ngon". Những biểu tượng đó thuô ̣c về văn hóa. Nhờ có mối quan hê ̣ với cái được biểu hiê ̣n và cùng với nó (quan hê ̣) mà cái biểu hiê ̣n trở thành biểu tượng văn hóa. Nhờ có mối liên hê ̣ với ý nghĩa và cùng với nó mà mô ̣t sự vâ ̣t trở thành giá trị văn hóa. "Biểu tượng" và "giá trị" thực chất là hai khái niệm tương đồng, chúng thể hiê ̣n cùng mô ̣t đối tượng từ hai góc đô ̣ khác nhau. Như vâ ̣y, định nghĩa văn hóa đã nêu sẽ có cách trình bày thứ hai như sau: Văn hóa là mô ̣t hệ thống biểu tượng do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Khi dùng khái niệm "biểu tượng" là ta muốn chỉ ra phương thức cấu tạo của đơn vị văn hóa; còn khi dùng khái niệm "giá trị" là ta muốn nói đến tính sản phẩm của đơn vị văn hóa đó. Ta cũng có thể kết hợp cả hai cách trình bày thành mô ̣t định nghĩa tổng quát: Văn hóa là mô ̣t hệ thống giá trị mang tính biểu tượng do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. c) Văn hoá trong một hệ toạ độ và như một chùm đặc trưng Ý nghĩa của định nghĩa này là ở chỗ nó cung cấp cho ta hai bô ̣ công cụ quan trọng cho viê ̣c tìm hiểu và nghiên cứu văn hóa. Bô ̣ công cụ thứ nhất mà định nghĩa văn hóa cung cấp là mô ̣t hê ̣ toạ đô ̣ ba chiều mà trong đó văn hoá tồn tại: Định nghĩa nói đến Con người - đó là Chủ thể văn hoá. Định nghĩa nói đến Môi trường tự nhiên và xã hô ̣i - đó là Không gian văn hoá. Định nghĩa nói đến Quá trình hoạt đô ̣ng - đó là Thời gian văn hoá. Viê ̣c cụ thể hoá ba thông số của hê ̣ toạ đô ̣ này sẽ cho ta những nền văn hoá, những tiểu văn hóa, và những biến thể văn hoá khác nhau. Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 Bô ̣ công cụ thứ hai mà định nghĩa văn hóa cung cấp là mô ̣t chùm bốn đă ̣c trưng cho phép nhâ ̣n diê ̣n văn hóa: tính hệ thống, tính giá trị (hoă ̣c tính biểu trưng), tính nhân sinh và tính lịch sử. Đó là bốn đă ̣c trưng cần và đủ, có thể dùng làm công cụ để phân biê ̣t văn hóa với những khái niê ̣m, hiê ̣n tượng có liên quan. II- Nhâ ̣n diêṇ văn hoá Dựa vào bô ̣ công cụ thứ hai của định nghĩa văn hoá là chùm bốn đă ̣c trưng, ta có thể nhâ ̣n diê ̣n đối tượng có thuô ̣c về văn hóa hay không bằng cách xem xét nó trên hai bình diê ̣n: bình diê ̣n yếu tố và bình diê ̣n quan hê.̣ Bình diê ̣n yếu tố cho phép nhâ ̣n diê ̣n văn hóa mô ̣t cách đô ̣c lâ ̣p: mô ̣t đối tượng sẽ là văn hóa hoă ̣c không phải là văn hóa. Bình diê ̣n quan hê ̣ cho phép nhâ ̣n diê ̣n văn hóa mô ̣t cách tương đối: mô ̣t đối tượng đă ̣t trong những mối quan hê ̣ này thì là văn hóa nhưng đă ̣t trong những mối quan hê ̣ khác thì lại có thể không phải là văn hóa. Bình diê ̣n yếu tố: khu biê ̣t Văn hoá với Tự nhiên và Văn minh Trên bình diê ̣n yếu tố, văn hóa được phân biê ̣t với tự nhiên và văn minh.
Văn Hóa Đại Cương 4204: Tìm Hiểu Các Khía Cạnh Của Văn Hóa
Tài liệu nghiên cứu Van hoa dai cuong 4204, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về ., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn
Trường đại học
Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí MinhChuyên ngành
Văn hóa họcNgười đăng
Ẩn danhThể loại
Tập bài giảngPhí lưu trữ
45 PointMục lục chi tiết
THÔNG TIN CHI TIẾT
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Ngọc Thơ
Trường học: Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành: Văn hóa học
Đề tài: Khám Phá Văn Hóa Đại Cương 4204
Loại tài liệu: Tập bài giảng
Năm xuất bản: 20…
Địa điểm: TP. Hồ Chí Minh
Trích đoạn nội dung tài liệu
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ