CHƯƠNG I NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Khái niệm tôn giáo và văn hóa tôn giáo 1.1 Khái niệm Cho đến nay, có rất nhiều khái niệm về tôn giáo nhưng vẫn chưa có một định nghĩa chuẩn mực được mọi người thừa nhận. Cũng như văn hóa, tôn giáo là một đối tượng phức tạp khó định nghĩa một cách chính xác. Có thể đan cử một số định nghĩa điển hình như sau : Theo từ điển Oxford: "Tôn giáo là hệ thống của niềm tin và sự tôn thờ, là sự trực nhận của con người về năng lực chế ngự siêu nhiên, đặc biệt là về một ngôi vị Thượng đế có quyền uy được tuân phục, là kết quả của sự trực nhận như thế trong cách ứng xử. System of faith and worship; human recognition of super human controlling powger and especially of a personal God entitled to obedience, effect of such recognition on conduct ete.) Carlyle thì cho rằng : "Tôn giáo là điều mà con người thực sự tin tưởng, thực sự ghi khắc trong lòng và hiểu biết chắc chắn, có liên quan đến các mối tương hệ sống còn của con người và vũ trụ u huyền này, cũng như bổn phận và định mệnh của con người trong vũ trụ".S Mill thì bảo rằng : "Yếu tính của tôn giáo là sự hướng dẫn một cách mạnh mẽ và nhiệt thành những cảm xúc và ước vọng hướng đến một đối tượng lý tưởng được xem là tuyệt hảo, là đỉnh cao tột cùng để vượt qua mọi đối tượng ích kỷ của dục vọng".
Aldous Huxley thì định nghĩa : "Tôn giáo là một hệ thống giáo dục mà qua đó con người có thể tự rèn luyện, trước hết là để tạo ra những thay đổi cần thiết trong bản thân con người và xã hội; rồi sau đó, để nâng cao ý thức nhằm kiến tạo 10 những quan hệ thích đáng hơn giữa họ và vũ trụ mà họ là một thành phần". Thích Tâm Thiện, “Tôn giáo và giá trị thực tại”) Theo những định nghĩa trên thì tôn giáo được quy về ba điểm chính : - Tôn giáo là cách thức thể hiện niềm tin vào một vị “Tối thượng” hay một thế lực siêu nhiên vượt ra khỏi tầm hiểu biết của con người. - Từ niềm tin ấy đưa đến cách ứng xử tương ứng của con người đối với tự nhiên và xã hội. - Niềm tin tôn giáo sẽ giáo dục, rèn luyện con người theo con đường chân, thiện, mỹ.
Nếu bỏ qua tính chất “thần thánh” của tôn giáo thì những yếu tố thuộc về con người như : lối sống, giáo dục và rèn luyện cái chân, cái thiện và cái mỹ cũng chính là những giá trị văn hóa. Từ những đặc điểm trên và trong quan niệm của người viết, tôn giáo có thể được định nghĩa là “một hoạt động thể hiện niềm tin vào một thế lực siêu nhiên nằm ngoài trí hiểu con người, bằng cách thực hành một lối sống phù hợp với niềm tin ấy”. Tôn giáo vốn dĩ là một thành tố của văn hóa, nó cũng mang những đặc tính của văn hóa. Do đó, trong tôn giáo có tồn tại yếu tố văn hóa tôn giáo.
Cho nên, phát xuất từ những mối liên quan giữa tôn giáo và văn hóa thì văn hóa tôn giáo được định nghĩa là “một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội”.2 Đặc trưng của văn hóa tôn giáo Theo định nghĩa trên, văn hóa tôn giáo mang 4 đặc trưng chủ yếu của văn hóa, đó là: tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh, tính lịch sử. Xét về tính hệ thống : bất kỳ một tôn giáo đúng nghĩa nào cũng phải có tính hệ thống, tính hệ thống thể hiện từ trong cơ cấu tổ chức đến giáo lý và giáo điều. Những giá trị tôn giáo được xác lập từ khi hình thành, trải qua sự đào thải của thời gian, đến khi định hình thành những giá trị bền vững đều phải kinh qua một quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa. Những giá trị còn đứng vững được phải là những giá trị mang tính hệ thống chặt chẽ, giá trị này là tiền đề để xây dựng những giá trị cao hơn.
Xét về tính giá trị : mọi tôn giáo đều phải có những giá trị thiết thực ít là đối với đời sống nhân bản của một con người thì mới có tín đồ tin theo. Những tôn giáo lớn trên thế giới đều là những tôn giáo đã tích lũy được một hệ thống các giá trị bền vững, gắn kết chặt chẽ và mật thiết với nhau. Xét về tính nhân sinh : hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần xét cho đến ngọn nguồn đều do con người sáng tạo. Một số tôn giáo cho rằng niềm tin là do mạc khải.
Nhưng xét cho đến cùng thì cách thức thể hiện lại do ở con người. Xét về tính lịch sử : mọi tôn giáo đều phải trải qua một quá trình hình thành và phát triển. Trong qua trình hình thành, người ta phải kinh qua những tác động nội tại nhằm sản sinh ra những giá trị mới và đào thải những giá trị không phù hợp nhằm hoàn thiện hóa tôn giáo của mình.Trong quá trình phát triển, các tôn giáo đều phải trải qua quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa, nhằm mở rộng ranh giới lãnh thổ cũng như tăng nhân số tín đồ. Tính lịch sử cũng là một bằng chứng về sự tồn tại và bền vững của một tôn giáo.2 Khái quát một số đặc điểm của văn hóa và con người Nam Bộ 1.1 Đặc điểm không gian văn hóa Nam Bộ được xác định là vùng đất miền Nam Việt Nam.
Vùng đất này từ khi được khai phá cho đến nay đã trải qua nhiều triều đại phong kiến lẫn thể chế chính trị, nên mang nhiều tên gọi như: Nam Kỳ, Nam Kỳ lục tỉnh, Gia Định 12 Đồng Nai, Nam Trung, Lục Châu, Nam Việt, Nam Phần, Nam Bộ, Nam Bộ cũ v. Nam Bộ vốn dĩ có khí hậu ôn hòa, cư dân ít phải đối diện với những đe dọa của thiên tai. Do đó, con người nơi đây sống rất gần gũi với thiên nhiên, cởi mở và chan hòa trong mọi mối quan hệ xã hội. Đứng từ góc nhìn hệ sinh thái, có thể phân chia Nam Bộ thành hai tiểu vùng là Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ.
- Đông Nam bộ bao gồm lưu vực sông Đồng Nai, Sài Gòn, sông Bé, Vàm Cỏ với các dạng địa hình - hệ sinh thái đồi núi rìa cao nguyên, châu thổ cũ và khu vực rừng ngập mặn ven biển - Tây Nam bộ chủ yếu là vùng châu thổ đồng bằng sông Cửu Long, với tứ giác sông nước Long Xuyên - Đồng Tháp Mười kéo dài tới vùng ngập mặn của bán đảo Cà Mau. Ở đây hình thành hai phương thức kinh tế chủ yếu là phương thức làm ruộng ở vùng thấp thuộc miền Tây sông Hậu –được gọi là miệt ruộng và phương thức làm vườn ở vùng cao ven hạ lưu sông Tiền – thì được gọi là miệt vườn.2 Đặc điểm về thời gian văn hóa Năm 1698, khi Chúa Nguyễn Phước Chu - sai Thống soái Nguyễn Hữu Kính (có tư liệu ghi là Nguyễn Hữu Cảnh) vào miền Nam kinh lý và lập phủ Gia Định thì nơi đây đã có người Việt đến buôn bán và khẩn hoang lập ấp rải rác trong đồng bằng sông Mê Kông ở châu thổ miền Nam và lưu vực sông Mê Nam bên nước Xiêm (Thái Lan). Nơi ở của người An Nam là một cù lao khá rộng, cách phố thị kinh đô một con sông, nên việc đi lại giao dịch rất thuận lợi. Nhìn cách bố trí thôn trại chung quanh Ayuthia, ta có thể phỏng đoán cộng đồng người Việt ở đây khá đông và là một trong những nhóm ngoại kiều tới lập nghiệp sớm nhất.
Trên bản đồ có ghi rõ từ “Cochinchinois” để đánh dấu thôn trại của người Việt. Lúc đó, từ “Cochinchinois” được dùng để chỉ người Đàng Trong của Việt Nam và cũng có khi được dùng để chỉ chung người Việt, vì trước đây, trong thời gian chưa có phân ranh Trịnh - Nguyễn, thì Tây phương dùng địa danh ấy để chỉ người An 13 Nam, đó chính là từ ngữ phát xuất từ hai chữ “Giao Chỉ” - Cauchi - Cauchinchina - Cochinchine (Cochinchine có nghĩa Cochin ở gần Trung Hoa , nhằm phân biệt với Cochin ở Ấn Độ). Theo học giả Trương Vĩnh Ký, từ Cochinchine dùng để chỉ Đàng trong còn từ La Basse Cochinchine dùng để chỉ Nam Kỳ. Do đó, có thể nói từ Cochinchine (hoặc các biến thể Cocinchina, Cauchinchina, Cochinchina) ban đầu dùng để gọi toàn bộ Việt Nam.
Tuy nhiên, đến đầu thế kỷ XVII, khi Trịnh-Nguyễn phân tranh, nước Việt Nam phân đôi thành Đàng Trong và Đàng Ngoài, thì Cochinchine được dùng để chỉ Đàng Trong, còn từ Tonkin dùng để chỉ Đàng Ngoài. Về sau Cochinchine mới được dùng để chỉ Nam Kỳ, còn từ Annam dùng để chỉ Trung Kỳ. Đa số người Việt ở đây là người thuộc Đàng Trong, nhưng cũng có một số ít người thuộc Đàng Ngoài. Họ tới định cư và lập nghiệp từ khoảng thế kỷ XVI hay đầu thế kỷ XVII, nghĩa là từ thời nhà Mạc.
Đó là khi tình hình trong nước rất xáo trộn và người dân luôn trực diện với chiến tranh ly loạn. Do đó, sự sầm uất, trù phú của Nam Bộ là công lao khai phá của nhóm cư dân chủ yếu là người Việt từ cuối thế kỷ XVI, nhất là vào thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX. Chúa Nguyễn là người bảo hộ cho quá trình khai phá và thiết lập chủ quyền ở Nam Bộ một cách hoà bình, hữu nghị chứ không phải do chiến tranh xâm lược. Từ thế kỷ XVII các chúa Nguyễn đã tổ chức những đơn vị hành chính, sắp đặt quan cai trị, lập sổ sách quản lí dân đinh, ruộng đất và định ra các loại thuế.
Phủ Gia Định thành lập năm 1698 gồm hai dinh Trấn Biên (Biên Hoà) và Phiên Trấn (Gia Định) quản lí hơn 4 vạn hộ. Sau năm 1744 vùng đất từ Nam Hoành Sơn đến mũi Cà Mau được chia làm 12 dinh, trong đó vùng đất Nam Bộ chia thành 4 dinh (Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ và Hà Tiên). Trừ Hà Tiên lúc đầu còn là một dinh phụ thuộc, mỗi dinh quản một phủ, dưới phủ có huyện, tổng hay xã. Từ đó, về cơ bản tổ chức hành chính trên vùng đất Nam Bộ đã được kiện toàn.
Nhà Nguyễn bắt đầu từ triều đại vua Gia Long được thiết lập từ năm 1802 tiếp tục sự nghiệp của các chúa Nguyễn, Vua hoàn thiện hệ thống hành chính và thống nhất quản lí trên quy mô cả nước. Năm 1817 vua Gia Long cho đào kênh Thoại Hà.