đặt vấn đề con người, số phận con người, nhân cách con người bị tha hóa, chà đạp, truyện Nam Cao thuộc loại truyện tâm lý, ít biến cố nhưng lại giàu chất truyện nó có sức ám ảnh, khơi gợi vì nhà văn đã đụng chạm tới vấn đề của con người chứ không chỉ bó hẹp trong khuôn khổ của một sự việc, một hiện tượng”. [16; 239] Trong bài Chất hài trong trong truyện ngắn Nam Cao, tác giả Lê Thị Đức Hạnh đã viết “Mỗi ngòi bút có một cách khai thác và thể hiện vấn đề theo một cách riêng miễn sao đạt được hiệu quả cao. Trong khi phản ánh hiện thực Nam Cao thường hay đi vào những chủ đề mang tính suy ngẫm, thiên về truy tìm, đúc rút ra một triết lý cho cuộc sống, có truyện dễ trầm lặng nặng nề về suy tư hơn là công phá bằng những tiếng cười to, hả hê, khoái trá. Đương nhiên nhà văn đứng ở góc độ nào, cười kiểu nào hay không cười mà truyện mang tính nhân bản cao thì vẫn có ý nghĩa xã hội sâu sắc”.
[16; 283] Các nhà nghiên cứu cũng đã thống nhất khi nhận định: “Giọng điệu của Nam Cao là sự tổng hợp của nhiều chất liệu, giọng điệu và không lẫn với bất kì ai và có thể nói, nét độc đáo tạo nên phong cách Nam Cao là sự pha trộn tài tình các giọng GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Điệp 4 SVTH: Nguyễn Thị Bích Huyền Từ láy trong truyện ngắn Nam Cao điệu trong mỗi tác phẩm của ông. Người đọc nhận ra trên những trang viết của Nam Cao giọng khách quan lạnh lùng xen lẫn đồng cảm, sẻ chia, giọng trữ tình đầy chất thơ hòa lẫn trong giọng văn xuôi phàm tục, giọng cay đắng chua chát xen lẫn hài hước, tự trào”. [16; 34] Trong Khảo luận văn chương, Hà Minh Đức cho ta thấy Nam Cao đã nhìn đúng sự thật cuộc sống của con người. Nam Cao luôn có những ước mơ, khát vọng chân chính cho tương lai của mình nhưng những ước mơ cao cả ấy bị cái thấp hèn đè bẹp đưa con người đến bế tắc.
Ông nhận định “Thật ít có trong sách nói đến cảnh nghèo với nỗi xót xa thương cảm và chân thực đến thế. Nam Cao thiết tha yêu quý cái làng quê của mình, yêu quý những người đã nghèo cần cù chịu đựng bám chặt lấy mảnh đất quê hương và gắn bó với nhau bằng một tình thương yêu bền vững”. [7; 276] Trong Nam Cao- Nhà văn hiện thực xuất sắc. Tác giả Hà Minh Đức đã khẳng định “Nói đến nghệ thuật của Nam Cao là nói đến sự phong phú và đa dạng của một ngòi bút đầy tài năng sáng tạo.
Với cái sắc sảo của một nhà văn có bản lĩnh Nam Cao đã tự mở cho mình một hướng đi riêng bên cạnh cái đôn hậu của Nguyên Hồng, cái trào lộng của Nguyễn Công Hoan, và cái thâm trầm mà sắc sảo của Ngô Tất Tố, Nam Cao đã góp thêm vào dòng văn học hiện thực phê phán một phong cách mới”. Nam Cao- Đời văn và tác phẩm (Hà Minh Đức). Nam Cao- Phác thảo sự nghiệp và chân dung (Phong Lê). Nhà văn tư tưởng và phong cách (Nguyễn Đăng Mạnh)… 4.
Phạm vi nghiên cứu Với đề tài này, phạm vi nghiên cứu là từ láy trong một số truyện ngắn Nam Cao trước và sau Cách mạng. Đặc biệt là phân tích hiệu quả biểu đạt của từ láy trong truyện ngắn Nam Cao. Qua đó, làm nổi bật phần nào tài năng của Nam Cao trên bình diện ngôn từ. Về phạm vi tư liệu, luận văn có tham khảo một số công trình nghiên cứu từ láy trong tiếng Việt và các sách phê bình văn học về Nam Cao.
Về ngữ liệu khảo sát người viết khảo sát 12 tác phẩm trong Tuyển tập những truyện ngắn hay nhất của Nhà xuất bản Văn học, 2012. GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Điệp 5 SVTH: Nguyễn Thị Bích Huyền Từ láy trong truyện ngắn Nam Cao 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, người viết sử dụng các phương pháp sau: Trước hết là phương pháp hệ thống. Với phương pháp này người viết sưu tầm, tập hợp các tài liệu, hệ thống hóa vấn đề lý thuyết về từ láy.
Người viết còn sử dụng phương pháp thống kê.Với phương pháp này, người viết thống kê, phân loại từ láy trong truyện ngắn Nam Cao. Từ số liệu thống kê, phân loại người viết có sự đánh giá, phân tích khoa học và chính xác hơn. Song song đó là phương pháp phân tích để làm sáng tỏ đề tài. Phương pháp này được người viết vận dụng làm nổi bật hiệu quả biểu đạt của từ láy và tài năng của Nam Cao.
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Điệp 6 SVTH: Nguyễn Thị Bích Huyền Từ láy trong truyện ngắn Nam Cao CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỪ LÁY 1. KHÁI NIỆM TỪ LÁY Từ láy được cấu tạo theo phương pháp cấu tạo từ đặc biệt của tiếng Việt là phép điệp âm không những tạo nên những âm thanh thánh thót, uyển chuyển mà còn gợi lên những hình tượng độc đáo. Đã có nhiều nhà văn, nhà thơ sử dụng loại từ này rất phong phú đa dạng trong những tác phẩm của họ. Vì có tính hấp dẫn nên từ láy đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ.
Tuy nhiên các nhà nghiên cứu lại có nhiều ý kiến khác nhau về từ láy. Tác giả Hoàng Văn Hành, trong Từ láy trong tiếng Việt khẳng định: “Láy là sự hòa phối về âm và nghĩa, mà điệp và đối là những quy tắc hay là những hình thái thể hiện sự hòa phối đó” [9; 30]. Tác giả Đỗ Hữu Châu, trong Từ vựng ngữ nghĩa quan niệm: “Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh, tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm. Nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của hình vị hay đơn vị có nghĩa” [3; 34].
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp, trong Từ vựng học tiếng Việt, gọi từ láy là ngữ láy âm “Ngữ láy âm là những đơn vị được hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã có. Chúng vừa có sự hài hòa về ngữ âm, vừa có giá trị gợi cảm, gợi tả” [8; 86] Hai tác giả Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung đã đưa ra định nghĩa “Từ láy là từ phức được tạo ra bằng phương thức láy âm có tác dụng tạo nghĩa. Và để tạo ra nhạc tính cho sự hòa phối âm thanh đối với một ngôn ngữ vốn giàu nhạc tính như tiếng Việt, sự láy không đơn thuần là sự lặp lại âm, thanh của âm tiết ban đầu mà bao giờ cũng kèm theo sự biến đổi âm, thanh nhất định, dù là ít nhất để tạo ra cái thế vừa giống nhau lại vừa khác nhau. Cái thế ấy được gọi là cái thế “vừa điệp vừa đối”.
Ngoài ra còn có nhiều nhà ngôn ngữ khác như: Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Hữu Quỳnh…cũng đưa ra các quan niệm của mình về từ láy. Nhìn chung, từ ý kiến của GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Điệp 7 SVTH: Nguyễn Thị Bích Huyền Từ láy trong truyện ngắn Nam Cao các nhà nghiên cứu trên, người viết có thể hiểu từ láy là một hiện tượng ngôn ngữ đặc biệt trong tiếng Việt. Từ láy được cấu tạo theo phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận âm tiết, kèm theo sự hòa phối về ngữ âm, tạo nên sự hài hòa và có giá trị gợi cảm, gợi tả. PHÂN LOẠI TỪ LÁY Xuất phát từ quan điểm từ láy được cấu tạo theo phương thức hòa phối ngữ âm, cho nên khi xem xét từ láy, mặt ngữ âm phải được coi là dấu hiệu cơ bản.
Với tư cách là phương tiện tạo nên tính biểu trưng, tính hình tượng, sự hòa phối ngữ âm trong từ láy phải có quy luật riêng. Quy luật hòa phối ngữ âm đó không những thể hiện ở chỗ giống nhau mà còn thể hiện ở chỗ khác nhau đều đặn giữa các thành tố trong từ láy. Hiện nay, sự phân loại từ láy thường được dựa trên cơ sở: số lượng âm tiết trong từ láy và sự đồng nhất hay khác biệt trong thành phần cấu tạo của các thành tố trong từ láy do cách phối hợp ngữ âm tạo nên. Theo tác giả Hoàng Văn Hành Về mặt cấu tạo của từ láy nên phân loại từ láy trong tiếng Việt theo nhiều bước và mỗi bước nên chọn dùng một tiêu chí được coi là thỏa đáng.
Làm như thế sẽ đảm bảo được ba yêu cầu là vừa bao quát được đối tượng nghiên cứu, nhìn đối tượng ấy được từ nhiều mặt, vừa đảm bảo được sự nhất quán trong hệ thống phân loại ở từng bước. Bước thứ nhất của phân loại từ láy trong tiếng Việt là lấy “số bậc trong quá trình cấu tạo từ láy” làm tiêu chí. Bước thứ hai của sự phân loại là lấy “mức độ tác động của cơ chế láy vào tiếng gốc” hay “mức độ điệp trong quan hệ giữa các tiếng ở từ láy” làm căn cứ. Bước thứ ba trong phân loại này là lấy “tính chất điệp hoặc đối khuôn vần” làm căn cứ.
Như vậy, theo tác giả có bốn kiểu từ láy: -Từ láy hoàn toàn, điệp vần: khư khư, đăm đăm… -Từ láy hoàn toàn, đối vần: vằng vặc, ngô nghê… -Từ láy bộ phận, điệp vần: lê thê, chạng vạng… -Từ láy bộ phận, đối vần: đỏ đắn, mấp máy… GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Điệp 8 SVTH: Nguyễn Thị Bích Huyền Từ láy trong truyện ngắn Nam Cao a) Từ láy bậc một ( từ láy đơn) Theo tác giả, từ láy đơn là những từ mà khi cấu tạo tiếng gốc được nhân đôi một bước sao cho giữa tiếng láy và tiếng gốc có được sự hòa phối ngữ âm thể hiện ở quy tắc điệp và đối. Láy đơn gồm có láy hoàn toàn và láy bộ phận. -Từ láy hoàn toàn Đặc trưng chung của từ láy hoàn toàn là trong cấu tạo của nó, tiếng gốc được lặp lại toàn bộ ở tiếng láy nhưng sự lặp lại ấy thể hiện dưới hai hình thái: hình thái giữ nguyên dạng khuôn vần (có hoặc không có chuyển đổi thanh), hình thái biến dạng khuôn vần một cách đều đặn nhờ chuyển đổi chính âm hoặc phụ âm cuối theo những quy tắc nhất định. +Từ láy hoàn toàn, điệp vần: Đặc trưng của những từ láy này là điệp phụ âm đầu, khuôn vần và thanh.
Trong điều kiện ấy trọng âm trở thành nét dị biệt trong quan hệ giữa tiếng gốc và tiếng láy và là yếu tố tạo nên thế đối.