Chương I KHÁI LƯỢC VE TRUYEN THONG QUOC TE 1. Truyền thông quốc tế dược định nghĩa là “truyền thông, xuyên biên giới". Với dịnh nghĩa này, đối tượng nghiên cứu của truyền thông quốc tế chính là các đòng thông tin luân chuyển xuyên qua các rào cản biên giới các quốc gia - dân tộc cùng các thể chế uà luật lệ điều tiết chúng. Dĩ nhiên, các yếu tố của truyền thông nói chung vẫn được đề cập đến trong truyền thông quốc tế như: quy trình truyền thông, chủ thể, công chúng, v.; tuy nhiên, trong truyền thông quốc tế, chúng được nhìn nhận từ góc độ mới - góc độ toàn cầu.
Có những trùng hợp nhất định giữa “truyền thông quốc tế” và “thông tin đối ngoại”. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, “thông tin đối ngoại” là hình thức phổ biến của truyền thông. Hoạt động thông tin đối ngoại đã giúp hình thành nên các tuyến thông tin xuyên biên giới giữa các quốc gia nhằm 1. "The communication that occurs across international borders", xem: Thussu, D.: International Communication: Continuity and Change, London, Arnold, 2000, p.
13 mục đích tuyên truyền, quảng bá, giải thích và thuyết phục công chúng nước ngoài - liên quan đến thái độ, đường lối, chính sách. của quốc gia thực hiện hành vĩ truyền thông này. 'Tuy nhiên, có hai nguyên nhân cơ bản dang làm thay đổi bức tranh về truyền thông quốc tế hậu chiến tranh lạnh. Nguyên nhân thứ nhất: sự xóa bỏ các rào cần địa lý (do một cực của chiến tranh lạnh tan vỡ) - thế giới bước vào kỷ nguyên toàn cầu với những mối quan tâm chung và tình trạng tùy thuộc lẫn nhau về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường.
Nguyên nhân thứ hai: sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang giúp con người tiến hành giao tiếp với nhau vượt qua các rào cản không gian địa lý và thời gian vật lý. Không gian hoạt động (bao gồm cả không gian giao tiếp) của các chủ thể sống (ở mọi cấp độ - từ cá thể cho đến cộng đồng) đang được mở rộng, vượt ra khuôn khổ biên giới của các nhà nước dân tộc. Dưới tác động của những nguyên nhân nói trên, hầu hết các hình thức (các phương tiện) truyền thông đang chuyển hóa theo hướng: rũ bỏ dần tính chất địa phương để khoác lên mình tính chất quốc tế. Ví dụ như một trang báo mạng của một địa phương nào đó, bất cứ ai trên thế giới cũng có thể truy cập đến để đọc nó (nếu như biết ngôn ngữ), thu nhận thông tin và đưa ra các phán xét.
Đây là một thực tiễn phổ biến, nhất là với các trang web viết bằng tiếng Anh - một ngôn ngữ được toàn cầu hóa và truyền thông quốc tế sử dụng như thứ ngôn ngữ giao tiếp chủ đạo. 14 Hiện nay, những dòng tin xuyên biên giới không còn đơn thuần đo chính phủ các nước phát tán và chỉ phối. Dưới sự dan dat cla các quy luật thị trường, và trong một thế giới đang toàn cầu hóa, các dòng thông tin xuyên quốc gia hướng đến mục tiêu đáp ứng nhu cầu đa dạng của quảng đại quần chúng trên thế giới. Một cách khách quan hơn, chúng biểu hiện như một tập hợp da dạng các dòng chảy xuyên biên giới, mà ở đó "thông tin đối ngoại” của các nhà nước dân tộc chỉ là một bộ phận.
Truyền thông quốc tế đang trở thành một “sân chơi chung”. Từ nhà nước, công ty, cộng đồng. cho đến cá thể - tất cả đều có thể tham dự với những “quy ước và luật lệ tự xây dựng” tương ứng. Đơn cử như, nếu một nhà nước nào đó muốn hiện diện trên Facebook, nó buộc phải "đóng vai” thành viên giống như các thành viên còn lại, và không thể mang theo "quyền uy” mà nó có trong đời sống chính trị vào.
không gian này. Trước kia, các nghiên cứu về truyền thông quốc tế thường chỉ quan tâm đến khía cạnh trao đổi thông tin giữa các chính phủ với nhau, trong điều kiện một số cường quốc nắm quyền thiết lập chương trình nghị sự. Nhưng khi “bức màn sắt” phân đôi thế giới trong chiến tranh lạnh bị sụp đổ và kỹ thuật truyền thông (đặc biệt phải kế đến công nghệ thông tin và công nghệ số) được ứng dụng rộng rãi thì truyền thông quốc tế thực sự đã vượt ra khỏi lĩnh vực nhỏ hẹp là quan hệ giữa các chính phủ để bao hàm cả quan hệ thị trường uà xã hội - ở cấp độ toàn cầu. lỗ Với thực tiễn đó, có thể gọi mọi hoạt động “thông tin đối ngoại” của nhà nước là “truyền thông quốc tế” nhưng chiều ngược lại - thì không.
Đó là điểm khác biệt căn bản của truuền thông quốc tế hiện naụ so uới trước kia. Hiện nay, tham dự truyền thông quốc tế không chỉ có các chủ thế nhà nước mà còn “các chủ thể phi nhà nước”, như các chủ thể đến từ xã hội (các tổ chức xã hội, phong trào xã hội, các tổ chức phi chính phủ, các thành viên của mạng xã hội toàn cầu.); kế đó là các chủ thể đến từ thị trường (các công ty và tập đoàn xuyên quốc gia, các hoạt động kinh doanh xuyên biên giới.); và các chủ thể quốc tế (các thể chế quốc tế mang tính khu vực cũng như toàn cầu như ASEAN, WTO, WB. Cũng bởi vậy, nội dung của khái niệm “truyền thông quốc tế” đến nay đã mở rộng ra rất nhiều, nó bao hàm từ chính trị, kinh tế, xã hội, uăn hóa cho đến quân sự. Với tư cách là một môn học, truyền thông quốc tế hiện nay đang nóng lên bởi những hướng nghiên cứu lớn như: văn hóa, các phương tiện truyền thông và truyền thông so sánh.
Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có sự nhất trí của giới nghiên cứu về ngành khoa học này. Nhiều quan điểm cho rằng, truyền thông quốc tế chưa phải là một bộ môn độc lập vì nó là kết quả giao thoa của nhiều ngành khác nhau (mà cụ thế là ngành quan hệ quốc tế và ngành truyền thông). Đi theo hướng đó, trong nhiều trường đại học ở Hoa Kỳ, bộ môn truyền thông quốc tế được giảng dạy như một cấu thành của ngành quan hệ quốc tế (IR) hay một môn thuộc khoa học chính trị (Political Sciences). 16 Tuy nhiên, ở châu Âu (đặc biệt là Anh), Australia, Trung, Quốc, Nhật Bản và một số quốc gia khác trên thế giới, truyền thông quốc tế đang được nhìn nhận như một ngành tương đối độc lập, với những môn chuyên sâu như: toàn cầu hóa; chủ nghĩa liên văn hóa; giao thoa văn hóa, chủ nghĩa đa văn hóa; truyền thông toàn cầu; công nghiệp văn hóa.
Các cách tiếp cận 2. Cách tiếp cận triết học Một trong những luận thuyết sớm nhất về truyền thông là do nhà triết học người Pháp Saint Simon (176o-182s) khởi xướng. Ông sử dụng phương pháp “tương tự” để mô tả bản chất, chức năng và vị trí của truyền thông trong xã hội. Ông biện giải: Cũng giống như cơ thể, một xã hội bao.
gồm các cơ quan và hệ tuần hoàn; các cơ quan được ví với những thiết chế kinh tế, chính trị, văn hóa. hợp thành cơ thể của một xã hội; hệ tuần hoàn của cơ thể dó sẽ là: vận tải, truyền thông, tài chính. Phát triển lý thuyết của Saint Simon, nhà triết học Herbert Spenser (1820-1903) cho rang, khi nhan loai phat triển lên xã hội công nghiệp thì khi đó, đời sống nhân loại cần được hình dung như một cơ thể sống bao gồm các bộ phận khác nhau được kết nối thành một thể thống nhất, hoạt động có ý thức và nhịp nhàng. Giao thông vận tải, tài chính.
giữ vai trò là huyết mạch (hệ tuần hoàn); còn truyền thông (các tuyến truyền tín hiệu, thông tin như thông tấn, điện tín, bưu điện.) giữ vai trò như hệ thần kinh - truyền tín hiệu từ trung ương (não) đến các cơ quan, đồng thời nhận tín hiệu phản hồi để xử lý và đưa ra các quyết định cho các cơ quan chức năng. Cách tiếp cận kinh tế- chính trị Cách tiếp cận này có cội nguồn là học thuyết Mác, tuy nhiên sau đó đã được cải biến trong điều kiện lịch sử mới. Nội dung cơ bản của thuyết này là: giai cấp cầm quyền không chỉ nắm trong tay phương thức sản xuất ra của cải vật chất mà cả phương thức sản xuất ra đời sống tỉnh thần. Sự thống trị về kinh tế dẫn đến sự thống trị vé tinh thần và văn hóa.
Trong chủ nghĩa tư bản, truyền thông là công cụ để truyền bá ý thức hệ của giai cấp tư sản, phản ánh lợi ích của giai cấp tư sản và đi ngược lại lợi ích của các giai cấp khác trong xã hội (xem C. Mác: Hệ tư tưởng Đức và Tuyên ngôn của Đảng cộng sản). Bởi vậy, khi chủ nghĩa tư bản vượt ra khỏi khuôn khổ của. “nhà nước dân tộc” để trở thành “chủ nghĩa tư bản quốc tế” thì đĩ nhiên, bước chuyển của truyền thông từ cấp độ “quốc gia" sang cấp độ “quốc tế” là một hệ quả tất yếu.
Do nắm trong tay phần lớn hạ tầng cơ sở và công nghệ thông tin nên giai cấp tư sản vẫn là giai cấp thống trị trong. trật tự thông tin toàn cầu; và dẫn đến tình trạng bất bình đẳng về thông tin cũng như truyền thông như hiện nay. Cách tiếp cận chính trị học Đến đầu thé ky XX, các nghiên cứu về truyền thông quốc. tế tiếp tục tiến hóa và phân nhánh.
Một cách tiếp cận đại diện cho thời kỳ này là gắn truyền thông quốc tế với lĩnh vực chính trị khi coi nó (truyền thông quốc t) vừa là một loại quyền lực, vừa là công cụ định hình quyền lực. Đi theo hướng này, Walter Lippmann với công trình về 18 dư luận xã hội cho rằng, các quốc gia có thể sử dụng truyền thông quốc tế để định hướng dư luận thế giới nhằm củng cố quyền lực của mình trên trường quốc tết. Một cách tiếp cận khác cũng nổi tiếng không kém, bắt nguồn từ khoa chính trị học là học thuyết “tuyên truyền” của Harold Lasswell (1927). Ong hướng sự quan tâm nghiên cứu đến việc sử dụng truyền thông quốc tế như một công cụ tuyên truyền trong chiến tranh2.
Cách tiếp cận toàn cầu Ở kỷ nguyên toàn cầu hóa hiện nay, khi các quốc gia bước vào hội nhập thì cách tiếp cận chính trị “lấy nhà nước dân tộc làm trung tâm” đã bộc lộ một số hạn chế, khiến các nghiên cứu về truyền thông quốc tế phải tìm kiếm những cách tiếp cận khác (hoặc phù hợp hơn, hoặc để bổ sung). Về cơ bản, hướng di mới này nhìn nhận truyền thông quốc tế từ nhãn quan “toàn cầu”, trong đó nổi bật là cách tiếp cận xã hội thông tin.