Chương 1với 3 vấn đề : “Tổng quan tình hình nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử” với việc nêu khái niệm, liệt kê các công trình nghiên cứu về TTLS trên thế giới, nêu “sự khác nhau giữa TTLS thời kì trung đại và thời kì hiện đại”, “tình hình nghiên cứu về Lan Khai và tiểu thuyết lịch sử của ông”, “Những vấn đề cấp thiết đặt ra trong nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai”. Chương 2 “Từ quan niệm nghệ thuật đến quá trình sáng tác tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai” với 2 nội dung “Về quan niệm của Lan Khai” với quan niệm về nhà văn, văn học và quan niệm nghệ thuật về con người; “Quá trình sáng tác của Lan Khai” với 4 luận điểm “Sở trường sáng tác”, “Hoàn cảnh sáng tác”, “Diễn trình sáng tác” và “Tiểu thuyết lịch sử trong sự nghiệp sáng tác của Lan Khai và trong sự vận động của thể tài tiểu thuyết lịch sử Việt Nam”. Chương 3 “Từ hiện thực lịch sử đến bức tranh nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai ” với 3 nội dung “Cảm hứng sáng tác” với việc “ca ngợi truyền thống yêu nước của dân tộc”, “ca ngợi cái đẹp, cái thiện”, “Phê phán xã hội phong kiến và chiến tranh phi nghĩa”; “Sự kiện trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai” với các luận điểm “Sự hoán đổi ngôi vị của các triều đại phong kiến”, “Những cuộc nội chiến”, “Những cuộc nổi dậy của nhân dân”, “Những cuộc đấu tranh 14 chống kẻ thù xâm lược và bè lũ tay sai”; “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai” gồm “Nhân vật vua chúa, quan lại và tướng lĩnh”, “Nhân vật người anh hùng”, “Người phụ nữ”, “Nhân vật binh sĩ và dân chúng”, “Nhân vật kẻ thù cướp nước và bán nước”. Chương 4 có 5 nội dung “Sự kết hợp hài hòa giữa lịch sử và hư cấu nghệ thuật”; “Nghệ thuật kết cấu” với việc “Kế thừa và sáng tạo kết cấu của tiểu thuyết truyền thống” và “Kết cấu kiểu tiểu thuyết hiện đại”; “Các phương thức kiến tạo chân dung nhân vật”; “Thời gian và không gian nghệ thuật”; “Nghệ thuật trần thuật” với “Người trần thuật, điểm nhìn trần thuật”, “Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật”.
Có thể nói, tác giả đã nghiên cứu về một nhà văn cụ thể là Lan Khai với 20 cuốn tiểu thuyết lịch sử trước giai đoạn 1945 có dung lượng nhỏ và mỏng được liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo, không nghiên cứu về giai đoạn đương đại như đề tài của chúng tôi. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên chỉ là những bài báo ngắn, nêu lên một yếu tố nào đó của thể loại mà chưa đi sâu vào vấn đề được nêu, có một số sách lý luận văn học cũng ít đề cập đến lý thuyết thể loại TTLS, cho thấy khoảng trống còn thiếu hụt về mặt lý thuyết. Bên cạnh đó, một số luận văn thạc sĩ chỉ đi vào một khía cạnh nào đó của một tác phẩm cụ thể, nên chưa có tính khái quát về mặt lý thuyết thể loại. Cuối cùng, chúng tôi thấy có 4 luận án tiến sĩ công phu nói trên đi sâu vào cả giai đoạn dài và có sự tiếp nối về thời gian, còn luận án của Đỗ Thị Nhàn chỉ nghiên cứu về một tác giả cụ thể thuộc giai đoạn trước 1945 với một số tác phẩm có dung lượng nhỏ và mỏng.
Nhưng, các công trình nghiên cứu đó vẫn còn thiếu hụt về mặt lý thuyết thể loại như đã nêu trên, phần lớn các tác giả mới dừng lại ở việc điểm qua một bình diện nào đó của tác phẩm cụ thể, chưa có công trình nào phân tích thấu triệt các lớp cấu trúc thể loại của các xu hướng TTLS Việt Nam đương đại để thấy được các đặc trưng thể loại và sự đổi mới của mỗi xu hướng TTLS. Vì thế, đề tài của chúng tôi đi sâu khái quát các đặc trưng thể loại, ý nghĩa, vai trò, sự cách tân của TTLS Việt Nam đương đại theo ba xu hướng: bám sát sử liệu, dụ ngôn hóa sử liệu và đối thoại với sử liệu là điều quan trọng và cần thiết, có những đóng góp nhất định cho ngành Lý luận văn học nước nhà. Các quan niệm về đặc trƣng thể loại Khi bàn về TTLS, hệ thống các quan điểm của các nhà khoa học trong và ngoài nước được nói đến trong các công trình nghiên cứu có thể chia thành ba luồng ý kiến chính, một là kết hợp hài hòa 2 yếu tố “lịch sử” và “hư cấu”, hai là thiên về tính tiểu thuyết và “hư cấu” nghệ thuật, ba là đề cao yếu tố “lịch sử” và trung thành với các sự thật lịch sử được ghi chép trong sử liệu. Trong đó, chúng tôi thấy hầu hết các nhà lý luận văn học theo quan điểm thứ nhất, cho rằng cần tôn trọng sự thật lịch sử và nhà văn có quyền được hư cấu ở một giới hạn, mức độ nhất định, yếu tố “lịch sử” và “hư cấu” sẽ chi phối, quy định, ràng buộc lẫn nhau, cần kết hợp chúng một cách hài hòa, hợp lý theo nguyên tắc thể loại.
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn bàn nhiều về mối quan hệ giữa nhà văn – tác phẩm - bạn đọc, các vấn đề tiếp nhận văn học, ý nghĩa và tác dụng của tiểu thuyết lịch sử với cuộc sống 15 hôm nay,… 1. Quan niệm về kết hợp hài hòa giữa lịch sử và hƣ cấu nghệ thuật Trước hết, luận án tổng hợp lại các ý kiến cho rằng TTLS cần kết hợp hài hòa giữa lịch sử và hư cấu nghệ thuật, nhà văn cần phải tôn trọng tính chân thật của lịch sử, đồng thời được phép tưởng tượng, sáng tạo, gia công, thêm bớt các chi tiết ở một mức độ nhất định để đưa các nhân vật lịch sử vào tác phẩm văn học sống động theo cái nhìn chủ quan của mình, mang cảm xúc thẩm mỹ đến cho người đọc, nhưng không làm sai lệch sự thật “lịch sử chính trị” của nước nhà. Tiêu biểu cho hệ thống quan điểm này, ta có thể nhắc đến hàng loạt các tác giả như Chế Lan Viên cho rằng “các nhà tiểu thuyết lịch sử phải nhảy qua hai vòng lửa, vòng lửa lịch sử và vòng lửa tiểu thuyết, nghĩa là vừa phải tôn trọng tính chân thực lịch sử, vừa phải hư cấu trong quá trình viết tiểu thuyết lịch sử” [214; 24]. Giống với ý kiến trên, Nguyễn Phương Chi cho rằng một TTLS thành công, tạo được tiếng vang trong công chúng khi nó “vẽ lại được diện mạo lịch sử”, cho thấy “quy luật vận động bên trong của lịch sử” và nhà văn phải xây dựng được các “chân dung lịch sử” có cá tính sống động, có đời sống, vận mệnh của các nhân vật tiểu thuyết [55].
Nhất trí với quan điểm cho rằng TTLS cần kết hợp hài hòa yếu tố “lịch sử” và “hư cấu”, trong bài “Tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Quốc Hải và Thủ đô sắp ngàn năm tuổi” (2008), Nhà văn số10, Võ Gia Trị bày tỏ quan điểm: “Tiểu thuyết lịch sử là một thể loại văn học gồm hai bộ phận không thể tách rời là phần tiểu thuyết và phần lịch sử, người viết ở đây không thể bỏ được phần nào, và chính cái phần lịch sử luôn đòi hỏi người viết biết sử dụng nó nhuần nhuyễn trong sáng tạo nghệ thuật của mình [.] xây dựng hình tượng nghệ thuật một cách chính xác và sinh động hơn”. Vì thế, yếu tố lịch sử là yếu tố nòng cốt của thể loại và nghệ thuật hư cấu cũng là yếu tố quan trọng tạo nên sức thuyết phục, lôi cuốn người đọc. Cùng trong quan điểm bàn về sự kết hợp hài hòa giữa lịch sử và hư cấu trong TTLS, Lucacs nói rằng “Hiện thực lịch sử” trong TTLS được thể hiện qua việc miêu tả cuộc sống “đời thường của nhân dân, nỗi đau và niềm vui sướng của những con người bình thường” và “chỉ ra được các biến cố liên quan tới số phận của nhân dân”, “phải mô tả số phận của nhân dân”, cùng “đời sống thực tiễn của nhân dân” [78]. Các nhân vật lịch sử phải được miêu tả cụ thể, chân thực, hiện lên như “những con người với đầy đủ tính cách tốt, xấu, mạnh, yếu, không nên thần thánh hóa hoặc hạ thấp các nhân vật lịch sử quan trọng xuống mức tầm thường” [78].Lucacs quan niệm về thể loại: “Tiểu thuyết lịch sử phản ánh và mô tả sự phát triển hiện thực của lịch sử một cách nghệ thuật, vì thế nó phải lấy kích thước nội dung và hình thức từ chính cái hiện thực đó” [304; 455]; Các nhà văn phải “chứng minh sự tồn tại của hoàn cảnh và các nhân vật lịch sử bằng công cụ nghệ thuật” và “nhiệm vụ của nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử là phải tạo dựng được một cách phong phú các tác động tương hỗ, cụ thể khớp với hoàn cảnh lịch sử mô tả” [304; 451].
Cùng trong quan điểm này, Bùi Văn Lợi đã nhấn mạnh đặc điểm quan trọng nhất của TTLS là “người nghệ sĩ phải làm sống lại những tài liệu lịch sử bằng trí tưởng tượng, bằng quyền hư cấu và sáng tạo nghệ thuật của mình […], việc nghiên cứu lịch sử là rất cần thiết đối với người nghệ sĩ, vì anh ta có nhiệm vụ phải phản ánh trung 16 thành một hiện thực lịch sử và làm sống lại những nhân vật lịch sử” [192]. Trong khi đó, Lại Nguyên Ân nêu khái niệm thể loại: “Tác phẩm tự sự hư cấu lấy đề tài lịch sử làm nội dung chính”. Tuy vậy, “những tiêu điểm chú ý của các sử gia lẫn các nhà văn quan tâm đến đề tài lịch sử, thường đều là sự hình thành, hưng thịnh, diệt vong của các nhà nước, những biến cố lớn trong đời sống xã hội của cộng đồng quốc gia, trong quan hệ giữa các quốc gia như chiến tranh, cách mạng, cuộc sống và sự nghiệp của những nhân vật có ảnh hưởng đến tiến trình lịch sử” [19; 1725]. Vì vậy, nhà văn phải có vốn kiến thức sâu rộng, uyên bác về lịch sử, có tầm nhìn văn hóa cao để nhận thức, đánh giá các sự kiện và nhân vật lịch sử đảm bảo tính xác thực, đồng thời phải có trí tưởng tượng phong phú, sâu sắc.
Tiểu biểu cho quan điểm nói trên, nhà văn Thái Vũ coi trọng sự “trung thực” với lịch sử, cho rằng nhà văn được phép “hư cấu” nhưng không bóp méo và không xuyên tạc lịch sử, ông nói: “Viết tiểu thuyết lịch sử trước hết phải trung thực với mọi chi tiết lịch sử mà biên niên sử có ghi. Hư cấu nhưng không phải là bịa. Tôi tôn trọng tính chân xác của lịch sử” [214; 23].