Tài liệu: Hình tượng tác giả trong thơ chữ hán của hồ chí minh

Tài liệu Hình tượng tác giả trong thơ chữ hán của hồ chí minh tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành tại Việt Nam

Chuyên ngành

Lý Luận Văn Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2009

102
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm Hình Tượng Tác Giả Trong Thơ Chữ Hán

Hình tượng tác giả là một khái niệm quan trọng trong lý thuyết văn học hiện đại, đặc biệt trong phân tích thơ trữ tình. Đây là sự thể hiện của nhân cách tác giả thông qua các tác phẩm văn học, phản ánh cảm xúc, tư tưởng và thế giới quan của người sáng tác. Trong thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh, hình tượng tác giả không chỉ là biểu hiện cá nhân mà còn là một lựa chọn tất yếu để truyền tải thông điệp cộng sản và yêu nước. Hình tượng này kết hợp hài hoà giữa các phẩm chất đối lập: dân tộc và quốc tế, trữ tình và cách mạng, bình dị và kiệt xuất. Sự phối hợp này tạo nên một hình mẫu cao đẹp của con người mới trong thời đại mới.

1.1. Định Nghĩa Và Các Yếu Tố Cơ Bản

Hình tượng tác giả bao gồm cái nhìn nghệ thuật và sự tự biểu hiện. Cái nhìn nghệ thuật là cách tác giả quan sát và đánh giá con người, thiên nhiên, cuộc sống. Sự tự biểu hiện là cách tác giả bộc lộ cá tính, tình cảm, quan điểm của mình. Trong thơ chữ Hán, những yếu tố này phản ánh rõ ràng thái độ sống của Hồ Chí Minh đối với độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc nhân dân.

1.2. Sự Khác Biệt Giữa Tác Giả Và Nhân Vật Trữ Tình

Tác giả là người thực sáng tác tác phẩm, còn nhân vật trữ tình là người nói trong bài thơ. Trong thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự thống nhất giữa tác giả thực và nhân vật trữ tình là rất gần gũi, tạo nên sự xác thực và sức thuyết phục trong việc truyền tải thông điệp cách mạng.

II. Cái Nhìn Nghệ Thuật Về Con Người Của Hình Tượng Tác Giả

Hồ Chí Minh trong thơ chữ Hán thể hiện một cái nhìn nghệ thuật độc đáo về con người và xã hội. Ông quan niệm con người là bộ phận gắn bó hữu cơ với thiên nhiên, phải chịu những nhọc nhằn của kiếp nhân sinh. Nhưng đồng thời, con người là đối tượng của niềm thương cảm vô hạn và lòng tin tuyệt đối. Hình tượng tác giả này không chỉ nhìn thấy khổ đau mà còn tin vào khả năng vượt lên của con người. Quan điểm humanistic này xuất phát từ hiểu biết sâu sắc về cuộc sống của những người lao khổ, những người vô sản bị áp bức. Ông tin rằng thơ phải là tiếng nói chân thật của tình cảm bình dị, phản ánh nỗi khổ và hy vọng của nhân dân.

2.1. Con Người Một Bộ Phận Của Thiên Nhiên

Trong thơ chữ Hán, Hồ Chí Minh thường khắc họa con người trong mối quan hệ mật thiết với thiên nhiên. Cảnh vật trở thành phương tiện để bộc lộ tâm trạng và sự suy ngẫm của nhân vật. Hình tượng này phản ánh quan điểm duy vật của tác giả, thấy con người là sản phẩm của thiên nhiên, vừa chịu tác động của thế giới vật chất vừa có khả năng cải tạo thế giới.

2.2. Niềm Thương Cảm Và Lòng Tin Vào Nhân Loại

Hình tượng tác giả trong thơ chữ Hán là người giàu lòng nhân đạo vô biên. Ông yêu thương con người, yêu hoa hồng, yêu thiên nhiên, yêu tự do. Lòng thương cảm này không phải là cảm xúc nông nổi mà xuất phát từ hiểu biết sâu sắc về những cuộc khổ lụi của nhân dân, từ cam kết dâng hiến cuộc đời cho độc lập và tự do.

III. Sự Tự Biểu Hiện Cá Tính Trong Tác Phẩm

Sự tự biểu hiện của hình tượng tác giả Hồ Chí Minh trong thơ chữ Hán là những bộc lộ chân thật về con người của một vị lãnh tụ cộng sản vĩ đại. Đây không phải những lời nói suông mà là kết quả của quá trình tìm tòi, đấu tranh lâu dài trên năm châu bốn biển. Hình tượng tác giả này là một con người yêu tự do, vươn lên chống áp bức và bất công. Ông không chỉ có những tư tưởng cao cả mà còn có ý chí kiên cường, bản lĩnh của người chiến sĩ cách mạng. Thơ của Hồ Chí Minh trở thành công cụ để tranh đấu, để kêu gọi, để truyền cảm hứng cho các thế hệ đấu tranh giải phóng dân tộc.

3.1. Con Người Yêu Tự Do Và Nhân Đạo

Trong thơ chữ Hán, hình tượng tác giả bộc lộ tâm huyết sâu sắc về tự do. Ông yêu con người vì chính tính nhân đạo của mình, yêu hoa hồng như yêu ước mơ, yêu thiên nhiên như yêu cuộc sống. Những yêu thương này không tách rời khỏi lý tưởng cộng sản, tạo nên sự hoàn chỉnh về tính cách.

3.2. Ý Chí Và Nghị Lực Kiên Cường

Hình tượng tác giả Hồ Chí Minh là biểu tượng của ý chí bất khuất. Suốt cuộc đời, ông không từ bỏ lý tưởng, không sợ gian khổ, luôn tin vào chiến thắng cuối cùng. Thơ chữ Hán của ông là bằng chứng sống động về những ngả rẽ tâm lý, những giây phút yếu đuối nhưng cũng những thời kỳ vươn lên kiên cường của một người lãnh đạo vĩ đại.

IV. Giọng Điệu Nghệ Thuật Như Biểu Tượng Hình Tượng Tác Giả

Giọng điệu nghệ thuật là một biểu tượng đắc lực để thể hiện hình tượng tác giả trong thơ chữ Hán. Giọng điệu trữ tình ấm áp của Hồ Chí Minh bộc lộ tâm tính nhân hậu, yêu thương thiên nhiên và con người. Giọng điệu châm biếm, trào lộng phản ánh tính chất chiến đấu, chỉ trích những thế lực áp bức và bất công. Giọng điệu lạc quan, tin tưởng khẳng định lòng tin vào tương lai tươi sáng của cộng hòa. Thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước và sau năm 1945 cho thấy sự thay đổi giọng điệu, từ buồn bã, cảm tính sang sôi nổi, chiến đấu. Nhưng qua tất cả những thay đổi đó, hình tượng tác giả vẫn giữ vững bản chất là người cộng sản, người lãnh đạo, người yêu nước.

4.1. Giọng Điệu Trữ Tình Ấm Áp Và Châm Biếm

Giọng điệu trữ tình ấm áp trong thơ chữ Hán cho thấy hình tượng tác giả là người có tâm hồn nhạy cảm, yêu vẻ đẹp. Ngược lại, giọng điệu trào lộng châm biếm bộc lộ tính chất đấu tranh, không khoan nhượng trước những sai trái. Cả hai giọng điệu này cùng tạo nên một nhân vật hoàn chỉnh, vừa nhân hậu vừa cách mạng.

4.2. Sự Thay Đổi Giọng Điệu Trước Và Sau 1945

Những năm tù tội và chiến đấu từ 1943 đến 1945 tạo nên những bài thơ sâu sắc, buồn bã nhưng đầy hy vọng. Sau năm 1945, giọng điệu trở nên sôi nổi, lạc quan hơn, phản ánh niềm vui của con người độc lập. Sự biến đổi này chứng tỏ hình tượng tác giả là người sống thực, theo dõi sự thay đổi của thời đại.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có ba chương: Chƣơng 1. Một số vấn đề lý thuyết về hình tƣợng tác giả và việc nghiên cứu hình tƣợng tác giả trong thơ trữ tình. Cái nhìn nghệ thuật và sự tự biểu hiện của hình tƣợng tác giả trong thơ chữ Hán Hồ Chí Minh. Giọng điệu nghệ thuật nhƣ một biểu hiện của hình tƣợng tác giả trong thơ chữ Hán Hồ Chí Minh.

20 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ HÌNH TƢỢNG TÁC GIẢ VÀ KHÁI LƢỢC VỀ THƠ CHỮ HÁN CỦA HỒ CHÍ MINH 1. Khái niệm hình tƣợng tác giả 1. Những quan niệm phổ biến Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” - Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) - NXB Đại học quốc gia– Hà Nội – 1999 (tái bản) thì hình tượng tác giả là “Phạm trù thể hiện cách tự ý thức của tác giả về vai trò xã hội và vai trò văn học của mình trong tác phẩm, một vai trò được người đọc chờ đợi"[24, 124]. “Cơ sở tâm lý của hình tượng tác giả là hình tượng cái “Tôi” trong nhân cách mỗi người thể hiện trong giao tiếp.

Cơ sở nghệ thuật của hình tượng tác giả trong văn học chính là chất giao tiếp của văn bản nghệ thuật: Văn bản của tác phẩm bao giờ cũng là lời của người trần thuật, người kể chuyện hoặc nhân vật trữ tình. Nhà văn xây dựng một văn bản đồng thời với việc xây dựng ra hình tượng người phát ngôn văn bản ấy với một giọng điệu nhất định”. “Hình tượng tác giả có tính chất loại hình sâu sắc, nhưng cũng mang đậm cá tính tác giả, khi vai trò của cá tính sáng tạo của cái “Tôi” cá nhân được ý thức đầy đủ” [24, 125]. “Phạm trù hình tượng tác giả chẳng những cho phép nhận ra phong cách cá nhân, mà còn giúp tìm hiểu tính hệ thống của văn bản tác phẩm, mối quan hệ của nó với ý thức về vai trò xã hội và văn học của bản thân văn học” [24,125].

Theo Trần Đình Sử - Thi pháp văn học Trung đại Việt Nam – NXB Đại học Quốc gia Hà Nội- 2005 thì hình tượng tác giả được gọi là “Kiểu tác giả và ý thức cá tính trong văn học”;”Tác giả là người sáng tạo ra giá trị sáng tạo văn học”. “Tác giả là một hình tượng của văn hoá nghệ thuật, sản phẩm sáng tạo của một thời. Nó tồn tại và phát triển trên cơ sở tác giả cụ thể”. 21 “Chức năng của nghệ sỹ như một tác giả là tạo ra cái nhìn nghệ thuật và tạo ra hình thức nghệ thuật”.

“Với tư cách là tác giả, nghệ sỹ có một quan hệ nhất định với thế giới vật liệu đời sống sẽ tạo thành thế giới nghệ thuật của anh ta, có thái độ nhất định đối với ngôn ngữ mà anh ta sử dụng, đối với truyền thống nghệ thuật quá khứ, đối với các sáng tác, tác giả khác, đối với bạn đọc và phê bình. Nghệ sỹ cũng có thái độ nhất định đối với nhân vật của mình và các đặc điểm tài năng của chính mình. Tổng hoà tất cả những đặc điểm loại hình trong các quan hệ và thái độ đó sẽ tạo thành một kiểu tác giả nhất định trong lịch sử văn học thuộc một loại hình nhất định”. “Lịch sử văn học đã biết đến những kiểu tác giả khác nhau….

Nhà văn kiểu hiện thực lúc nào cũng có sổ tay và ngòi bút để ghi các tư liệu đời sống. Nhà văn cách mạng là người dùng nghệ thuật như vũ khí để đổi thay chế độ xã hội” [42,97 - 99 ]. Theo Hà Minh Đức (chủ biên) - Lý luận văn học - NXB Giáo dục - Hà Nội – 2008: “Vì đối tượng của văn học là con người và thế giới trong quan hệ của nó đối với con người cho nên quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù nền tảng của mọi đường hướng sáng tạo”. “Xét về phương diện thi pháp, chính quan niệm về con người góp phần quy định một mặt quan hệ của nghệ thuật đối với đời sống như một trong nhiều hình thái cơ bản của con người cảm thụ và chiếm lĩnh thực tại, phương thức khám phá và tái hiện nghệ thuật về thế giới, mặt khác quan điểm giao tiếp nghệ thuật, cách thức của nghệ thuật tổ chức và truyền đạt thông điệp của nó cho con người với tư cách là người tiếp cận” [6, 406].

Trên đây là những quan niệm phổ biến có tính chất lý thuyết về hình tượng tác giả nói chung. Cụ thể hơn về vấn đề này chính là quan điểm Trần Đình Sử trong “Giáo trình dẫn luận thi pháp học” - NXB Giáo dục – Hà Nội – 1998. Xuất phát từ những nhận định có tính nguyên tắc như: “Văn như kỳ nhân” (văn như con người) của người Trung Quốc thời Đường, Tống và 22 “phong cách ấy là con người” ở Phương Tây thế kỷ XVIII (18), người ta đi đến khẳng định tác giả như là một “Phạm trù thi pháp”. Vì vậy “cần phân biệt tác giả tiểu sử như một khái niệm ngoài thi pháp” cho nên “Hình tượng tác giả hiện hình trong tác phẩm mới là phạm trù của thi pháp học” [42,107 ].

“Hình tượng tác giả là cái được biểu hiện ra trong tác phẩm một cách đặc biệt”. “Có nghĩa là nhà văn biểu hiện cảm nhận của mình về thế giới, cách suy nghĩ của mình về ngôn ngữ, cách diến đạt của mình và cảm nhận đó trở thành trung tâm tổ chức tác phẩm, tạo thành sự thống nhất của nội tại của tác phẩm, sự thống nhất của tác phẩm về mặt phong cách học” [42, 107]. “Vấn đề hình tượng tác giả không chỉ là sự phản ảnh tác giả và tác phẩm, thể hiện tương quan giữa con người sáng tạo ra văn học và văn học, mà còn là vấn đề của cấu trúc nghệ thuật, sự thể hiện của chủ thể” [42,108]. Tóm lại “Hình tượng tác giả biểu hiện chủ yếu ở: Cái nhìn riêng, độc đáo, nhất quán có ý nghĩa tư tưởng, đạo đức, thị hiếu, giọng điệu trần thuật, gồm cả một phần giọng điệu nhân vật và ở sự miêu tả, hình dung của tác giả đối với chính mình” [42,109].

Các yếu tố của hình tƣợng tác giả 1. Cái nhìn nghệ thuật Bàn về cái nhìn nghệ thuật, trước hết chúng tôi xin được trình bày những nhận xét của một số nhà văn, nhà nghiên cứu trên thế giới. Nhà văn Pháp Macxenprutxtờ có nói: “Đối với nhà văn cũng như đối với nhà nghệ sỹ, phong cách không phải là vấn đề kỹ thuật mà là vấn đề cái nhìn” (dẫn theo Trần Đình Sử - Giáo trình dẫn luận thi pháp học - Sách đã dẫn [ 109].USpenxky viết: Đặc điểm của người trần thuật ngôi thứ ba trong “Chiến tranh và hoà bình” là một người thông minh, nhạy cảm, có tình cảm yêu ghét riêng, có kinh lịch riêng, đồng thời như mọi người, nó cũng bị hạn chế của năng lực nhận thức nội tại (theo Trần Đình Sử – sách đã dẫn, trang 110) 23 M. Khrapchencô viết: “Chân lý cuộc sống trong sáng tác nghệ thuật không tồn tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật có tính cá nhân đối với thế giới, vốn có ở từng nghệ sỹ thực thụ” (dẫn theo Trần Đình Sử - sách đã dẫn trang 109).

Như vậy cái nhìn nghệ thuật là một biểu hiện của tác giả. Nó có 6 đặc điểm sau đây: Thứ nhất, cái nhìn thể hiện trong tri giác, cảm giác, quan sát, cho nên nó nhằm mục đích phát hiện cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài, cái hùng. Thứ hai, cái nhìn bao quát không gian, bắt đầu từ điểm nhìn trong không gian và thời gian, bị không gian và thời gian chi phối. Thứ ba, cái nhìn xuất phát từ một cá thể, mang thị hiếu và tình cảm yêu ghét rõ ràng.

Thứ tư, cái nhìn gắn với liên tưởng, tư tưởng, cảm giác nội tâm, thể hiện ví von, ẩn dụ, đối sánh. Thứ năm, cái nhìn là sự kết hợp các thuộc tính xa nhau hoặc là sự tách rời thuộc tính khỏi sự vật một cách trừu tượng. Thứ sáu, cái nhìn thể hiện trong chi tiết nghệ thuật, vì chi tiết nghệ thuật là điểm rơi của cái nhìn. Tóm lại, Tìm hiểu hình tượng tác giả trong tác phẩm văn học trước hết là phải tìm hiểu cái nhìn của tác giả đó, có thể là cái nhìn đồng tình, hoặc cũng có thể là cái nhìn phản đối, cái nhìn đồng cảm hay phản cảm, cái nhìn thể hiện thái độ của tác giả.

Sự tự biểu hiện Sự tự biểu hiện của tác giả thành hình tượng cũng là một yếu tố quan trọng thuộc phạm trù hình tượng tác giả. Nó có 3 đặc điểm chính sau: Thứ nhất, sự tự thể hiện của tác giả thể hiện ở chỗ tác giả tự hình dung về hình tượng của mình trong tác phẩm như thế nào ( thường bộc lộ qua đại từ nhân xưng). 24 Thứ hai, không thể đồng nhất hình tượng tác giả với bản thân tác giả ngoài đời. Thứ ba, đó chính là trường hợp tác giả tự miêu tả mình trong tác phẩm.

Giọng điệu Cùng với cái nhìn nghệ thuật, sự tự biểu hiện, thì giọng điệu cũng là một yếu tố đặc trưng của hình tượng tác giả trong tác phẩm. Giọng điệu có 5 đặc điểm chính sau đây: Thứ nhất, giọng điệu trước hết là một yếu tố hình thức giúp nhận ra tác giả. Nếu trong cuộc sống nghe giọng nói người ta có thể nhận ra con người, thì trong văn học biết được giọng điệu là biết được cá tính nhà văn. Thứ hai, giọng điệu mang nội dung tình cảm, thái độ ứng xử của nhà văn trước các hiện tượng đời sống được phản ánh trong tác phẩm.

Thứ ba, nền tảng của giọng điệu là cảm hứng của tác giả. Belinxky: “Trong cảm hứng nhà thơ là người yêu say tư tưởng, yêu vẻ đẹp, yêu một sinh thể, đắm đuối vào trong đó và anh ta ngắm nó không phải bằng lý trí, không phải bằng tình cảm hay bằng một năng lực của tâm hồn, mà là bằng tất cả sự tràn đầy và toàn vẹn của tồn tại tinh thần của mình”… Vì thế cảm hứng xuất hiện khi tác giả nói đến mội cái gì cao cả, có ý nghĩa đối với tồn tại con người, nói đến niềm vui, nỗi đau lòng cảm giác và để thể hiện cảm hứng thì nhà văn sử dụng từ ngữ rất linh hoạt tạo nên những giọng điệu riêng cho tác phẩm. Thứ tư, là thái độ của nghệ sỹ đối với đối tượng tác giả miêu tả và đối với người đối thoại ở trong hay ở ngoài tác phẩm, là chất giọng bắt nguồn từ bản chất đạo đức của tác giả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ