Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ VẤN ĐỀ KHẢO SÁT THỰC TẾ DÂN CA H’MÔNG HÀ GIANG 1. Nguồn gốc lị ch sƣ̉ của ngƣời H’mông Hà Giang Người H’mông ở nước ta nói chung và ở Hà Giang nói riêng tự gọi mì nh là Mông. Tộc danh đó cũng cũng dùng thống nhất cho người H’mông ở các nước khác như Trung Quốc , Thái Lan , Lào … Từ xa xưa người Hán đã gọi người H’mông là người Mèo – từ Mèo là âm Hán chỉ người H’m ông – một bộ lạc biết trồng lúa rất sớm ở vùng hồ Bàng Hải và hồ Động Đì nh (Trung Quốc). Theo truyền thuyết của những người già , xưa kia , dân tộc H’mô ng cũng có một quốc gia riêng với biểu tượng : Hình đôi sừng trâu và cờ mầu đỏ.
Dấu ấn ấy vẫn còn đế n ngày nay (một số gia đì nh người H’mông Hà Giang vẫn treo miếng vải đỏ trước cửa nhà và hì nh bộ sừng trâu để làm chốt trên của cánh cửa chính mỗi nhà ). Vào khoảng thế kỷ thứ IX – XVI, các thế lực phong kiến Trung Quốc b ắt đầu mở rộng sự bành trướng về phương Nam. Người H’mông cũng không tránh khỏi sự ảnh hưởng của những cuộc bành trướng đó. Từ Tây Nam Trung Quốc , người H’mông di cư sang Việt Nam với ba thời kỳ đông nhất : Thời kỳ đầu tiên c ách đây khoảng trên 300 năm, họ từ Quý Châu sang Đồng Văn (Hà Giang).
Thời kỳ này tương ứng với phong trào đấu tranh của người H’mông ở Quý Châu với nhà Minh Thanh. Thời kỳ thứ hai cách đây trên 200 năm, lần di cư này phù hợp vớ i phong trào khởi nghĩ a của người H’mông ở Quý Châu khi đã bị thất bại (1776-1892). Thời kỳ di cư thứ ba cách đây khoảng từ 120 năm đến 160 năm. Đây là cuộc di cư đông nhất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 18 của người H’mông sang Việt Nam.
Hàng vạn người H’mông đ ã từ Trung Quốc di cư sang Hà Giang , Lào Cai, Yên Bái và khu tự trị Tây Bắc. Nguồn gốc của họ phần nhiều cũng ở Quý Châu , một số ở Vân Nam , Quảng Tây (Trung Quốc ). Thời kỳ này tương ứng với cuộc khởi nghĩ a của người H’mông hưởng ứng phong trào Thái bì nh thiên quốc đấu tranh chống triều đại Mãn Thanh, cuộc đấu tranh này kéo dài từ 1840 đến 1868 [64; 54]. Đến với Việt Nam , đến với vùng đất mới , nơi không có chiến tranh sắc tộc, người H’mông đã tìm thấy nguồn sống hứa hẹn nhiều ấm no.
Với tinh thần cần cù lao động và sáng tạo , người H’mông đã biến nơi rừng núi hoang vu thành quê hương than yêu của mì nh , lưu niệm lại mảnh đất đầu tiên người H’mông đặt chân đến với đị a danh là Mèo Vạc (Hà Giang), đến nay vẫn còn lưu lại bài ca : "Cá bơi ở dưới nước Chim bay ở trên trời, Chúng ta sống ở vùng cao. Và con chim có tổ Người Mèo ta cũng có quê, Quê ta là Mèo Vạc" [44 ; 292]. Như vậy , Hà Gia ng chí nh là một trong những mảnh đất sinh sống đầu tiên của người H’mông Việt Nam. Dưới chế độ cũ, người H’mông ở Việt Nam nói chung và ở Hà Giang nói riêng cũng bị áp bức bóc lột , nhất là từ khi nước ta bị thực dân Pháp xâm lược.
Là dân tộc yêu tha thiết cuộc sống , gắn bó máu thị t với từng tấc đất quê hương, đồng bào H’mông đã nhiều lần nổi dậy hưởng ứng những cuộc đấu tranh chung từ năm 1918 đến 1922 suốt dọc biên giới từ Lào Cai đến Hà Giang. Sau đó lan dần đến các tỉ nh phí a Tây Bắc như Sơn La , Lai Châu. Sau năm 1945, dưới ánh sáng cách mạng và theo lời kêu gọi của Đảng , của Bác Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 19 Hồ, người H’ mông Hà Giang đã hòa vào không khí chung của cuộc kháng chiến chố ng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cùng với nhân dân cả nước. Ngày nay , dưới sự lãnh đạo của Đảng và chí nh phủ , đời sống đồng bào H’mông đã có nhiều thay đổi.
Những truyền thống tốt đẹp được phát huy , những tập tục xấu b ị bài trừ. Người H’mông Hà Giang đang tiến bước trên con đường đổi mới của đất nước , cùng các dân tộc anh em đoàn kết xây dựng quê hương, bảo vệ vững chắc vùng đất biên cương của tổ quốc. Điều kiện tự nhiên - xã hội - văn hóa của ngƣời Mông Hà Giang 1. Điều kiện tự nhiên Hà Giang - với tên gọi chính thức từ ngày 1/10/1991 (khi được tách ra từ tỉnh Hà Tuyên cũ ), với diện tích tự nhiên là 7.884,37 km2, dân số khoảng 724.
Là một tỉnh miền núi cao, nằm ở cực Bắc của tổ quốc, phía bắc giáp tỉnh Vân Nam và Quảng Tây - Trung Quốc với đường biên giới dài 274 km. Phía nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía đông giáp Cao Bằng, phía tây giáp Yên Bái và Lào Cai. Từ thị xã Hà Giang đến thủ đô Hà Nội dài khoảng255 km theo đường chim bay. Hà giang nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu Hà Giang về cơ bản vẫn mang những đặc điểm của vùng núi Việt Bắc song lại có những đặc điểm riêng, mát mẻ và lạnh hơn các tỉnh Đông Bắc, nhưng ấm hơn các tỉnh Tây Bắc.
Hà Giang là nơi cư trú của trên 20 dân tộc anh em đoà n kết sinh sống bên nhau như H’mông, Dao, Tày, Nùng, Lô Lô, Giáy, Bố Y, Pu Péo, Cờ Lao, Phù lá, Pà Thẻn, Kinh… (trong đó dân tộc H’mông có số dân đông nhất ). Hà Giang có 9 huyện và 1 thị xã, đó là Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ, Vị Xuyên, Băc Mê, Bắc Quang, Hoàng Su Phì , Xín Mần và thị xã Hà Giang. Hà Giang có độ cao trung bình từ 800 đến 1200m so với mực nước biển. Nơi cao nhất là đỉ nh Tây Côn Lĩ nh cao 2491m.
Điều đặc biệt là Hà Giang Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 20 không rộng lắm nhưng mật độ tập trung các ngọn núi cao khá dày đặc. Điều này xác nhận rằng Hà Giang là tỉnh núi cao hùng vĩ và hiểm trở. Thổ nhưỡng của người dân tộc H’mông Hà Giang chủ yếu sống tập trung ở những khu vực núi cao, địa thế hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, họ có xu hướng đồng tộc mạnh và luôn có sức hút sống tập trung ở một số khu vực nhất định. Đặc điểm nổi bật trong thế ứng xử văn hoá với môi trường tự nhiên của người H’mông là luôn vượt khó khăn, linh hoạt và tạo ra khả năng thích ứng văn hoá cao với môi trường tự nhiên khắc nghiệt.
Người H’mông cư trú ở bất cứ một trường nào đều tạo ra khả năng thích nghi một cách linh hoạt. Người H’mông ở các huyện phí a Bắc Hà Giang như Quản Bạ , Yên Minh , Đồng Văn , Mèo Vạc cư trú ở vùng núi đá đã canh tác trên loại hình nương thổ canh hốc đá. Các mảnh nương này nằm cheo leo trên các sườn núi đá vôi nhỏ hẹp, tiếng H’mông gọi là "Tế kho dế". Để bảo vệ đất khỏi xói mòn, đồng bào xếp đá be bờ.
Tùy theo địa hình, xếp đá be bờ theo từng kiểu khác nhau. Ở những hốc đá đất ít, người H’mông nhặt các hòn đá xếp vào khe giữa các mô đá ngăn thành gờ nhỏ giữ đất cho từng hốc, từng mảnh đất nhỏ. Ở các vạt đất rộng, người H’mông dùng đá be thành các bờ dải giữ đất, chống xói mòn. Ở loại nương này, người H’mông dùng cuốc làm đất.
Ở khu vực còn rừng già, người H’mông phát rừng làm nương rẫy tiếng H’mông gọi là "Tế giống". Loại nương dốc này dễ bị xói mòn nên người H’mông chỉ canh tác được vài ba vụ phải di chuyển luân canh. Tuy nhiên loại nương rẫy còn rất ít. Trên các sườn đồi nương thoai thoải, ít dốc người H’mông khai khẩn thành các nương bậc thang, tiếng H’mông gọi là "Tế kế đây".
Nương bậc thang bề ngang hẹp nhưng tương đối bằng phẳng xung quanh nương đồng bào đắp bờ nhỏ để giữ ẩm, giữ nước mưa. Phía trên đường xẻ rãnh có hệ thống Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 21 thoát nước khi mưa to nhằm chống xói mòn. Ở nương bậc thang, đồng bào dùng cày trong khâu làm đất. Nương bậc thang là gạch nối giữa ruộng và nương.
Tuy nhiên nương bậc thang chưa phải là ruộng vì thiếu nước và đất có độ thẩm thấu lớn. Đặc biệt tại các huyện miền Tây Hà Giang như Hoàng Su Phì , Xín Mần, người H’mông còn sáng tạo ra loại hình canh tác trên ruộng bậc thang độc đáo. Quy trình khai khẩn ruộng bậc thang là một điển hình ở thế ứng xử linh hoạt với môi trường. Trước khi tiến hành khai khẩn ruộng bậc thang, người H’mông phải chọn vùng đất có sườn núi có độ dốc dưới 400 có nguồn nước tự nhiên hoặc nước mạch đùn tương đối bằng phẳng và có mùn dày.
Người H’mông thường khai khẩn ngay sau khi ăn tết. Công việc làm ruộng bậc thang rất nặng nhọc nên phải huy động cả dòng họ hoặc trai tráng cả làng tham gia. Đầu tiên người H’mông dùng dao phát sạch cây cỏ. Sau đó tuỳ từng loại hình địa hình nếu mảnh đất chọn có độ dốc cao sẽ đào, san ruộng từ phía trên núi xuống chân núi.
Nếu có độ dốc thấp, ít mùn sẽ đào, san ruộng từ phía dưới lên. Công cụ đoàn san ruộng thường dùng cuốc bướm, nơi nhiều đá, rễ cây phải dùng cuốc chim. Khi san ruộng, cả tập thể lao động phải chú ý tạo điểm chuẩn để san bề mặt ruộng, khi đào và san ruộng bậc thang cố gắng triệt tiêu độ chênh lệch trên mặt bằng của thửa ruộng. Đồng thời phải chú trọng làm bờ giữ nước ngay từ khi san ruộng.
Bờ nhỏ nhưng phải lèn chặt, chống thẩm thấu. Khi có ruộng, người H’mông còn xây dựng hệ thống mương dẫn nước khá công phu. Mương phải đào sâu từ 40cm đến 50cm, rộng từ 80cm đến 100cm. Mạch mương chảy theo đường lượn của đường đồi chảy vào thửa ruộng đầu tiên.
Khi gặp địa hình gẫy cắt người H’mông khoét thân gỗ to làm máng (đường kính từ 40 cm - 50 cm). Nơi có địa hình hiểm trở phải làm cả một dàn máng dẫn nước. Người H’mông còn đào các rãnh dẫn nước từ ruộng trên xuống ruộng dưới theo nguyên tắc so le nhằm tránh vỡ bờ, trôi mầu.