Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch tại thành phố Buôn Mê Thuột, tỉnh Đắc Lắc" được thực hiện bởi sinh viên Đỗ Quang Ninh (lớp VH1801, mã sinh viên 1412601073), dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Nguyễn Thị Phương Thảo, thuộc ngành Việt Nam học (chuyên ngành Văn hóa du lịch) tại Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng vào năm 2021.

Về bối cảnh thực tiễn, thành phố Buôn Ma Thuột là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của tỉnh Đắk Lắk và là đô thị trung tâm cấp Vùng Tây Nguyên, giữ vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng. Địa phương là đầu mối giao thông huyết mạch kết nối liên vùng (Quốc lộ 14 nối Gia Lai, Kon Tum, Đắk Nông, TP. Hồ Chí Minh; Quốc lộ 26 nối Khánh Hòa; Quốc lộ 27 nối Đà Lạt; Quốc lộ 29 nối Phú Yên; Tỉnh lộ 1 nối Buôn Đôn). Bên cạnh lợi thế thổ nhưỡng đất đỏ bazan màu mỡ tạo nên thương hiệu "Thủ phủ cà phê" dẫn đầu cả nước về sản lượng, Buôn Ma Thuột còn là địa bàn tụ cư lâu đời của nhiều sắc tộc bản địa với kho tàng di sản đặc sắc, tiêu biểu là Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên. Tuy nhiên, hoạt động du lịch tại địa phương phát triển còn chậm, doanh thu và lượng khách thu hút được chưa tương xứng với quy mô tài nguyên hiện hữu.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định cụ thể:

  1. Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về du lịch, tài nguyên du lịch và vai trò của tài nguyên trong tổ chức hoạt động du lịch.
  2. Khảo sát, thống kê và đánh giá tiềm năng tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực tại thành phố Buôn Ma Thuột.
  3. Phân tích hiện trạng phát triển du lịch giai đoạn 2018 - 2021; chỉ rõ các kết quả đạt được, những mặt tồn tại và nguyên nhân kìm hãm.
  4. Đề xuất các nhóm giải pháp khả thi nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên, thúc đẩy du lịch thành phố Buôn Ma Thuột phát triển bền vững.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tiềm năng và thực trạng phát triển hoạt động du lịch tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính thành phố Buôn Ma Thuột, có mở rộng liên hệ chức năng với các tuyến, điểm du lịch phụ cận trong tỉnh Đắk Lắk (Buôn Đôn, hồ Lắk, mạng lưới rừng đặc dụng).
  • Phạm vi thời gian: Tập trung khai thác các dữ liệu, tài liệu và số liệu thống kê từ năm 2018 đến năm 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận vấn đề từ góc độ địa lý - văn hóa du lịch, sử dụng khung lý luận về tài nguyên du lịch kết hợp các văn bản pháp luật chuyên ngành:

  • Khái niệm du lịch: Tác giả điểm luận các quan điểm học thuật quốc tế như Guer Freuler (du lịch gắn với nhu cầu phục hồi sức khỏe và thay đổi môi trường), Walter Hunziker và Kurt Krapf (tổng hòa các mối quan hệ phát sinh từ hành trình và lưu trú tạm thời), Kaspar, Picara-Edmod (tiếp cận kinh tế học về dòng tiêu dùng của du khách). Đồng thời, trích dẫn quy định tại Khoản 1, Điều 4, Chương I của Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 và phân tích góc độ tiếp cận của người đi du lịch, người kinh doanh, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư sở tại.
  • Khái niệm và đặc điểm tài nguyên du lịch: Viện dẫn quan điểm của các nhà khoa học Trung Quốc, Pirojnik và định nghĩa tại Khoản 4, Điều 3, Chương I Luật Du lịch Việt Nam năm 2017. Tác giả phân tích 6 đặc tính của tài nguyên du lịch: là đối tượng khai thác của nhiều ngành kinh tế; mang phạm trù lịch sử; có tính biến đổi; có tính sở hữu chung; chịu tính mùa vụ của khí hậu; và gắn liền với vị trí địa lý cố định (sản phẩm du lịch tiêu dùng tại chỗ).
  • Phân loại tài nguyên du lịch: Căn cứ Điều 13 và Khoản 1 Điều 15 Luật Du lịch năm 2017, tài nguyên được chia thành tài nguyên du lịch tự nhiên (địa hình - địa mạo, khí hậu, nước, sinh vật) và tài nguyên du lịch nhân văn (di tích lịch sử - văn hóa, công trình kiến trúc, bảo tàng, lễ hội truyền thống, làng nghề thủ công, ẩm thực, tôn giáo, âm nhạc nghệ thuật).
  • Vai trò của tài nguyên: Khẳng định vai trò quyết định trong việc hình thành sản phẩm du lịch, định hình các loại hình du lịch chuyên biệt, đáp ứng nhu cầu du khách và là bộ phận cấu thành của tổ chức lãnh thổ du lịch.
  • Cơ sở văn bản chính sách: Khóa luận cập nhật các văn bản quản lý nhà nước như Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ (Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030); Quyết định số 357/QĐ-BVHTTDL ngày 25/01/2021 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Chương trình mục tiêu phát triển văn hóa giai đoạn 2016 - 2020; các văn bản chỉ đạo phòng chống dịch bệnh của Chính phủ và UBND tỉnh Đắk Lắk.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai:

  • Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Thu thập thông tin thứ cấp từ sách chuyên ngành, báo chí, niên giám thống kê và báo cáo ngành; sau đó tiến hành phân loại, so sánh, tổng hợp các chỉ tiêu về lượt khách, doanh thu, cơ sở lưu trú và lao động du lịch.
  • Phương pháp khảo sát thực tế tại địa phương: Khảo sát thực địa thông qua quan sát, tìm hiểu trực tiếp tại các điểm đến du lịch tự nhiên, di tích, buôn làng văn hóa và cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn để đối chiếu lý luận với thực tiễn khai thác.

Nguồn dữ liệu của đề tài bắt nguồn từ các báo cáo định kỳ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk, số liệu điều tra dân số năm 2019, thông tin từ Hiệp hội Du lịch Đắk Lắk và Trung tâm Thông tin - Xúc tiến Du lịch Đắk Lắk.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH

Chương 1 tập trung làm rõ hệ thống lý luận nền tảng làm công cụ phân tích cho toàn bộ khóa luận:

  • Phân tích bản chất hiện tượng du lịch dưới các lăng kính khác nhau, nhấn mạnh tính chất ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp gắn liền với nhu cầu nghỉ ngơi, nâng cao nhận thức và giao lưu văn hóa.
  • Phân định ranh giới và mối quan hệ giữa tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn. Tài nguyên tự nhiên đóng vai trò nền tảng cảnh quan, chi phối tính mùa vụ thông qua khí hậu (mùa khô - mùa mưa) và quyết định sự phân bố không gian nghỉ dưỡng, sinh thái. Tài nguyên nhân văn tạo nên tính độc đáo, bản sắc văn hóa và sức thu hút chiều sâu cho điểm đến thông qua các giá trị lịch sử, lễ hội, làng nghề và phong tục tập quán.
  • Làm rõ tính bất động của tài nguyên du lịch: Không thể vận chuyển tài nguyên đến với khách hàng mà buộc khách du lịch phải di chuyển đến vị trí địa lý của tài nguyên để tiêu thụ dịch vụ tại chỗ. Do đó, tổ chức lãnh thổ du lịch và phát triển mạng lưới giao thông, cơ sở lưu trú là điều kiện tiên quyết để chuyển hóa tài nguyên tiềm năng thành sản phẩm du lịch thương mại.

CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI BUÔN MÊ THUỘT – ĐĂK LĂK

Chương 2 là phần trọng tâm của khóa luận, phản ánh bức tranh toàn cảnh về tài nguyên và kết quả hoạt động du lịch của địa phương:

  • Tổng quan địa bàn: Buôn Ma Thuột có diện tích tự nhiên 377,18 km² (37.718 ha, chiếm 2,87% diện tích tỉnh Đắk Lắk), dân số năm 2019 đạt 375.590 người, mật độ 996 người/km², gồm 13 phường và 8 xã. Địa hình cao nguyên dốc thoải từ 5° đến 10° từ Đông sang Tây, độ cao trung bình 500m (tuyệt đối 536m). Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 (chiếm 87% lượng mưa cả năm, tháng 8 và 9 đạt lượng mưa cao nhất đến 300 mm/tháng); mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau (chiếm 13% lượng mưa cả năm, cường độ mưa dưới 10 mm/tháng), đây là thời kỳ thuận lợi nhất để khai thác du lịch, trùng với mùa thu hoạch cà phê và các lễ hội truyền thống.
  • Tiềm năng tài nguyên du lịch tự nhiên:
    • Rừng và bảo tồn sinh học: Buôn Ma Thuột nằm trong vùng đệm của mạng lưới vườn quốc gia và khu bảo tồn rộng 228.000 ha (chiếm 18,99% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Đắk Lắk). Nổi bật với kiểu rừng khộp rụng lá mùa khô đặc trưng của Đông Nam Á.
    • Thủy văn và cảnh quan: Hệ thống thác nước hùng vĩ gồm thác Đray Nur (dài trên 250m, cao trên 30m), thác Đray Sáp (thác khói), thác Trinh Nữ, Thủy Tiên, Gia Long, Krông Kmar. Hệ thống hồ mặt nước gồm hồ Lắk (hồ tự nhiên lớn thứ hai Việt Nam), hồ Ea Kao, hồ Đạt Lý, hồ Ea Nao, Ea Chư Cáp.
    • Thắng cảnh địa chất và nông nghiệp: Cặp đá Voi Yang-tao (Đá Voi Mẹ dài 200m, chu vi 500m, cao hơn 30m; Đá Voi Cha dài 70m, chu vi 180m); các khu du lịch sinh thái như Ko Tam (cách trung tâm 9 km), Đồi Thông (cách 7 km), Vườn cảnh Trohbư (xã Ea Nuôl); vùng chuyên canh cà phê, tiêu, ca cao, bơ, tạo cơ sở tổ chức định kỳ Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột 2 năm một lần.
  • Tiềm năng tài nguyên du lịch nhân văn:
    • Dân cư và di sản: Địa bàn có 40 dân tộc sinh sống (người Kinh chiếm khoảng 85%, đồng bào Ê-đê chiếm tỷ lệ lớn nhất trong nhóm dân tộc thiểu số bản địa, tiếp đến là Tày, Thái, Gia Rai, Hoa...). Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại ngày 25/11/2005. Bảo tàng Đắk Lắk lưu giữ trên 10.000 đơn vị hiện vật.
    • Di tích và công trình kiến trúc: Thành phố có 05 di tích được xếp hạng, gồm 04 di tích cấp quốc gia (Nhà đày Buôn Ma Thuột xây dựng 1930 - 1931, Đình Lạc Giao diện tích 700 m², Biệt điện Bảo Đại số 04 Nguyễn Du, Bia tưởng niệm 100 chiến sĩ Nam tiến) và 01 di tích cấp tỉnh (Tượng đài Mậu Thân 1968). Các kiến trúc tiêu biểu khác gồm Chùa Sắc Tứ Khải Đoan (xây dựng từ năm 1951), Tòa Giám mục Buôn Ma Thuột (kiến trúc nhà dài gỗ lợp ngói vảy cá), Tượng đài chiến thắng Buôn Ma Thuột tại Ngã 6 Ban Mê, cây Kơ Nia cổ thụ.
    • Điểm đến văn hóa - cộng đồng: Buôn AKô Đhông (đầu nguồn suối Ea Nuôl), buôn Tuôr (xã Hòa Phú), buôn Kmrơng Prông (xã Ea Tu); Làng cà phê Trung Nguyên, Bảo tàng Thế giới Cà phê; quần thể Buôn Đôn với Nhà sàn cổ 115 tuổi của vua voi Khun Yu Nốb (trị giá lúc dựng bằng 10 con voi lớn), Mộ vua Voi tại buôn Yang Lành, Cầu treo Buôn Đôn dài khoảng 1 km bắc qua rặng si cổ thụ trên dòng sông Sêrêpôk.
    • Lễ hội và phong tục: Lễ hội đua voi Buôn Đôn (tháng 3 định kỳ 2 năm/lần); Lễ đâm trâu (Koh Kpo) của người Ba Na diễn ra 3 ngày đêm; Lễ cúng lúa sắp trổ bông của người Ê-đê (huyện Krông Bông kéo dài 2 giờ với lễ vật 4 ché rượu cần, 2 gà, 2 heo); Lễ bỏ mả; Lễ cúng bến nước; Lễ ăn cơm mới; Lễ cúng sức khỏe cho voi; Lễ cưới voi và Lễ cúng cắt ngà voi của người M'Nông.
    • Ẩm thực: Bún đỏ, bún chìa, bánh canh cá dầm, bò nhúng me, bánh ướt thịt nướng, bánh bột lọc Đạt Lý, bánh khọt Y Jút, bánh bèo chén, cơm lam gà nướng, canh lá bép, đọt mây, cà đắng, rau tập tàng.
  • Thực trạng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực:
    • Giao thông: Đường bộ đối ngoại gồm 7 tuyến quốc lộ với tổng chiều dài 678 km (đường Hồ Chí Minh/QL14 hoàn thành nâng cấp năm 2015, QL26, QL27, QL29, QL14C, QL19C, đường Trường Sơn Đông); toàn tỉnh có 433 cầu dân sinh. Sân bay Buôn Ma Thuột đạt cấp 4C (dân sự) và cấp 1 (quân sự), năng lực đáp ứng 1 triệu lượt khách/năm, kết nối trực tiếp với Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Vinh.
    • Cơ sở dịch vụ: Thành phố có hơn 30 khách sạn, nhà nghỉ (Dakruco 4 sao, Sài Gòn - Ban Mê, Mường Thanh; các homestay như Zan, Lee’s House, An); trên 10 nhà hàng ẩm thực lớn. Tính đến 20/12/2017, toàn tỉnh có 201 cơ sở lưu trú (4.304 phòng); 40 đơn vị lữ hành (10 lữ hành quốc tế); 20 khu điểm du lịch; 04 đơn vị vận tải khách; 65 hướng dẫn viên được cấp thẻ (31 thẻ quốc tế).
    • Lao động: Năm 2005 toàn ngành có 920 người; giai đoạn 2006 - 2010 tăng bình quân 13,10%/năm lên 1.800 người. Đến năm 2020, tổng lao động du lịch đạt 13.000 người (trực tiếp 4.080 người). Giai đoạn 2017 - 2020, Sở VH-TT-DL tổ chức 18 lớp đào tạo cho gần 1.400 học viên; đưa tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo từ gần 70% (trước 2017) giảm xuống còn khoảng 20%.
  • Tồn tại, hạn chế: Sản phẩm du lịch đơn điệu, trùng lặp giữa các điểm đến; thiếu doanh nghiệp lớn đầu tư các dự án tầm cỡ; hướng dẫn viên thiếu hụt nghiêm trọng đối với các ngoại ngữ như tiếng Hàn, Trung Quốc, Nhật Bản; hạ tầng giao thông kết nối vùng sâu còn trở ngại; vướng mắc pháp lý đất đai trong đầu tư du lịch canh nông; đề xuất chợ đêm thành phố Buôn Ma Thuột chưa thể triển khai do vướng quy hoạch; đợt bùng phát dịch Covid-19 làm tê liệt hoạt động lữ hành và các điểm tham quan.

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI BUÔN MÊ THUỘT, ĐĂK LĂK

Dựa trên kết quả phân tích hiện trạng, tác giả trình bày hệ thống định hướng và 6 nhóm giải pháp chủ yếu:

  • Định hướng phát triển: Phấn đấu xây dựng Buôn Ma Thuột thành đô thị xanh, mang đậm bản sắc văn hóa - lịch sử, là trung tâm trung chuyển và dịch vụ du lịch chính của vùng Tây Nguyên; đưa du lịch từng bước trở thành ngành kinh tế quan trọng.
  • Các nhóm giải pháp chi tiết:
    1. Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch: Đổi mới sản phẩm du lịch sinh thái dã ngoại quanh các hồ bằng thuyền độc mộc, tour mạo hiểm vượt sông Sêrêpôk qua hệ thống cầu treo; khai thác chuyên sâu dòng sản phẩm "Du lịch cà phê" (trải nghiệm quy trình chăm sóc, thu hoạch, chế biến tại đồn điền và thưởng thức tại chỗ); kết hợp du lịch văn hóa ẩm thực truyền thống.
    2. Khai thác bền vững các giá trị tài nguyên du lịch: Gắn khai thác du lịch với bảo vệ nghiêm ngặt hệ sinh thái rừng đặc dụng và nguồn nước; bảo tồn nguyên trạng không gian văn hóa nhà dài của người Ê-đê tại các buôn Buôn Tuôr, buôn Kmrơng Prông, Buôn AKô Đhông; phục dựng các nghi lễ dân gian đúng bản sắc bản địa, tránh thương mại hóa méo mó.
    3. Cải thiện cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và cơ sở hạ tầng: Tiếp tục nâng cấp hệ thống giao thông đường bộ đối ngoại và đường dân sinh nông thôn; tháo gỡ quy hoạch xây dựng để sớm hình thành tuyến chợ đêm Buôn Ma Thuột phục vụ kinh tế đêm; khuyến khích đầu tư các khách sạn cao cấp và chuỗi homestay đạt chuẩn.
    4. Nâng cao chất lượng nguồn lao động du lịch: Mở rộng các chương trình liên kết đào tạo nghề giữa Hiệp hội Du lịch với các trường cao đẳng, đại học; tập trung bồi dưỡng ngoại ngữ hiếm (Hàn, Trung, Nhật) cho đội ngũ hướng dẫn viên; đẩy mạnh đào tạo kỹ năng du lịch cộng đồng tại chỗ cho đồng bào dân tộc thiểu số.
    5. Tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá du lịch: Định vị thương hiệu "Thủ phủ cà phê" gắn với Không gian văn hóa Cồng chiêng; mở rộng hợp tác kích cầu liên minh 5 tỉnh (Bình Định, Phú Yên, Gia Lai, Quảng Ninh, Ninh Bình); ứng dụng công nghệ thông tin trong số hóa dữ liệu điểm đến và xúc tiến thị trường nội địa.
    6. Tăng cường công tác quản lý về du lịch: Đổi mới cơ chế chính sách nhằm thu hút các nhà đầu tư chiến lược; phối hợp liên ngành giữa ngành du lịch và nông nghiệp để tháo gỡ rào cản đất đai cho mô hình du lịch nông nghiệp nông thôn; siết chặt quản lý an toàn dịch bệnh và tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và trình bày các dữ liệu thực tế về ngành du lịch tỉnh Đắk Lắk và thành phố Buôn Ma Thuột qua các bảng thống kê cụ thể:

Bảng 1: Mạng lưới các khu rừng đặc dụng và khu bảo tồn thiên nhiên liên kết du lịch

TT Danh mục Diện tích (1.000 ha) Chức năng bảo tồn
1 Vườn quốc gia Yok Đôn 110,7 Hệ sinh thái rừng thưa (rừng khộp)
2 Vườn quốc gia Chư Yang Sin 59,5 Đa dạng sinh học
3 Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Ka 20,4 Bảo tồn động thực vật
4 Khu DTLSVHMT hồ Lắk 10,3 Môi trường cảnh quan
5 Khu Lâm viên Ea Kao 0,085 Môi trường cảnh quan
6 Khu BTTN loài sinh cảnh thông nước 0,067 Bảo tồn thông nước
7 Khu BTTN Ea Sô 26,9 Bảo tồn động thực vật
Tổng Toàn tỉnh (chiếm 18,99% diện tích tự nhiên) 228,0 Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên

Bảng 2: Số lượng khách du lịch đến Đắk Lắk giai đoạn 2018 – 2020

Năm Tổng lượt khách (nghìn lượt) Mức tăng/giảm (%) Khách nội địa (nghìn lượt) Mức tăng/giảm (%) Khách quốc tế (nghìn lượt) Mức tăng/giảm (%)
2018 703,0 - 636,0 - 67,0 -
2019 765,0 +8,82 674,0 +5,97 91,0 +35,82
2020 524,0 -31,50 475,0 -29,67 49,0 -46,15

Bảng 3: Doanh thu ngành du lịch tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2018 – 2020

Năm Kế hoạch (tỷ đồng) Thực hiện (tỷ đồng) Tỷ lệ thực hiện/KH (%) Tăng trưởng so với cùng kỳ (%)
2018 600 610 101,67 27,08
2019 650 660 102,56 28,53
2020 680 680 100,00 14,48

Số liệu cập nhật năm 2021 trong văn bản cho biết: Trong 7 tháng đầu năm 2021, lượng khách đến Đắk Lắk chỉ đạt trên 391.000 lượt (đạt 47% kế hoạch năm); doanh thu đạt 339 tỷ đồng (đạt 48% kế hoạch), chủ yếu phát sinh từ khối cơ sở lưu trú và dịch vụ thương mại, trong khi 28 khu điểm du lịch và khối lữ hành gần như đóng băng do đợt dịch bùng phát từ cuối tháng 4/2021.

Đóng góp của tác giả:

  • Khóa luận đã hệ thống hóa và kiểm kê tương đối đầy đủ các nguồn lực tài nguyên du lịch trên địa bàn Buôn Ma Thuột, phân loại rõ ràng giữa các điểm di tích lịch sử xếp hạng, lễ hội truyền thống của các sắc tộc và mạng lưới cảnh quan sinh thái mặt nước, rừng đặc dụng.
  • Đánh giá khách quan thực trạng kinh doanh trong giai đoạn chịu tác động của dịch Covid-19, phản ánh trung thực những điểm nghẽn về hạ tầng, sự thiếu hụt hướng dẫn viên ngoại ngữ và rào cản chính sách phát triển kinh tế đêm và du lịch canh nông.
  • Đề xuất các giải pháp bám sát đặc thù văn hóa - xã hội địa phương, nhấn mạnh việc phát triển chuỗi giá trị sản phẩm từ cây cà phê và huy động vai trò làm du lịch của cộng đồng buôn làng bản địa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa vào tổng hợp số liệu thứ cấp và quan sát mô tả; chưa triển khai được các cuộc điều tra xã hội học bằng bảng hỏi để thu thập dữ liệu sơ cấp về cơ cấu chi tiêu, mức độ hài lòng của du khách hoặc đánh giá nhận thức của cộng đồng dân cư.
  • Chuỗi số liệu phân tích năm 2021 bị gián đoạn và chưa trọn vẹn do ảnh hưởng của đợt giãn cách xã hội kéo dài và tình trạng ngừng hoạt động tại nhiều điểm đến.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được văn bản gợi mở:

  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế phối hợp liên ngành nhằm tháo gỡ vướng mắc pháp lý về đất đai trong phát triển mô hình du lịch nông nghiệp - canh nông ứng dụng công nghệ cao.
  • Nghiên cứu chuyên sâu về đề án quy hoạch và phát triển không gian kinh tế đêm (mô hình chợ đêm, phố đi bộ) tại khu vực trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột.
  • Khảo sát định lượng nhu cầu thị trường đối với các sản phẩm du lịch cà phê đặc thù và du lịch sinh thái cộng đồng tại các buôn làng người Ê-đê.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên các ngành Việt Nam học, Văn hóa du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Địa lý học đang tìm kiếm tư liệu tổng hợp về du lịch vùng Tây Nguyên và tỉnh Đắk Lắk.
  • Các nhà quản lý điểm đến, chuyên viên xúc tiến du lịch địa phương cần hệ thống danh mục chi tiết về di tích lịch sử văn hóa, tập quán lễ hội cổ truyền (lễ cúng bến nước, ăn cơm mới, cúng voi, cồng chiêng) và ẩm thực dân gian trên địa bàn Buôn Ma Thuột.
  • Phần đáng tham khảo nhất là tiểu mục tổng kiểm kê tài nguyên tự nhiên và nhân văn (Chương 2) với các dữ liệu cụ thể về thông số cảnh quan thác nước, quy mô các khu rừng đặc dụng và danh sách các cơ sở dịch vụ lữ hành, lưu trú giai đoạn 2018 - 2021.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn gốc tên gọi "Buôn Ma Thuột" được tác giả lý giải như thế nào trong khóa luận? Theo văn bản, tên gọi Buôn Ma Thuột bắt nguồn từ tiếng Ê-đê là "Buôn Ama Y Thuot" (trong đó "Buôn" nghĩa là làng, "Ama" nghĩa là cha), gọi tắt là Buôn Ma Thuột với ý nghĩa là "làng của cha Thuột" - tên của vị tù trưởng đã có công lập ra buôn làng đầu tiên bên bờ suối Ea Tam.

2. Thành phố Buôn Ma Thuột có bao nhiêu di tích lịch sử, văn hóa đã được xếp hạng tính đến thời điểm nghiên cứu? Thành phố có 05 di tích lịch sử, văn hóa được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh, bao gồm 04 di tích cấp quốc gia: Nhà đày Buôn Ma Thuột, Đình Lạc Giao, Biệt Điện Bảo Đại số 04 Nguyễn Du, Bia tưởng niệm 100 chiến sĩ Nam tiến; và 01 di tích cấp tỉnh là di tích Tượng đài Mậu Thân 1968.

3. Mạng lưới rừng đặc dụng và khu bảo tồn thiên nhiên liên quan đến không gian sinh thái Đắk Lắk có quy mô như thế nào? Theo số liệu từ Chi cục Kiểm lâm Đắk Lắk trong khóa luận, toàn tỉnh có 228.000 ha rừng đặc dụng và khu bảo tồn (chiếm 18,99% diện tích tự nhiên toàn tỉnh), bao gồm 7 danh mục: Vườn quốc gia Yok Đôn (110,7 nghìn ha), Vườn quốc gia Chư Yang Sin (59,5 nghìn ha), Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Ka (20,4 nghìn ha), Khu DTLSVHMT hồ Lắk (10,3 nghìn ha), Khu Lâm viên Ea Kao (0,085 nghìn ha), Khu BTTN loài sinh cảnh thông nước (0,067 nghìn ha) và Khu BTTN Ea Sô (26,9 nghìn ha).

4. Đại dịch Covid-19 đã làm biến động các chỉ tiêu kinh doanh du lịch của tỉnh Đắk Lắk ra sao trong năm 2020 và 2021? Năm 2020, tổng lượt khách giảm xuống còn 524.000 lượt (giảm 31,5% so với năm 2019), trong đó khách quốc tế sụt giảm mạnh 46,15% (chỉ còn 49.000 lượt). Trong 7 tháng đầu năm 2021, toàn tỉnh chỉ đón được trên 391.000 lượt khách (đạt 47% kế hoạch năm) và doanh thu đạt 339 tỷ đồng (đạt 48% kế hoạch), hoạt động lữ hành và kinh doanh tại 28 khu điểm du lịch gần như đóng băng do đợt dịch bùng phát từ cuối tháng 4/2021.

5. Khóa luận nêu những hạn chế gì về nguồn nhân lực du lịch tại địa phương? Văn bản chỉ rõ đội ngũ cán bộ, nhân viên du lịch còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng. Toàn tỉnh có dưới 100 hướng dẫn viên du lịch và số lượng hướng dẫn viên quốc tế còn rất ít (31 người có thẻ), đặc biệt thiếu hụt nhân lực am hiểu các ngoại ngữ như tiếng Hàn, Trung Quốc, Nhật Bản; các cơ sở đào tạo tại chỗ chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang dịch vụ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Quang Ninh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về khai thác tài nguyên du lịch và tái hiện chi tiết thực trạng phát triển du lịch tại thành phố Buôn Ma Thuột giai đoạn 2018 - 2021. Nghiên cứu chỉ ra sự đối lập rõ nét giữa nguồn tài nguyên tự nhiên, văn hóa đa sắc tộc vô cùng trù phú với quy mô kinh doanh dịch vụ còn đơn điệu, cơ sở hạ tầng giao thông chưa hoàn thiện và chất lượng nhân lực còn hạn chế. Hệ thống 6 nhóm giải pháp do tác giả đề xuất đã bao quát từ việc đa dạng hóa sản phẩm du lịch cà phê, phát triển kinh tế đêm đến liên kết vùng và tháo gỡ rào cản chính sách, cung cấp tư liệu tham khảo hữu ích cho công tác quy hoạch phát triển du lịch địa phương.