Đặt vấn đề Mật ong là sản phẩm tự nhiên đƣợc sản xu t nhờ ong mật và hiện nay dù công nghệ kỹ thuật tiên tiến con ngƣời vẫn chƣa thể tự sản xu t mật ong. Mật đƣợc tạo thành nhƣ một sản phẩm của quá trình chuyển hóa sinh học ở loài ong mà nguyên liệu là mật và ph n hoa.Với nhiều công dụng cả về dinh dƣỡng lẫn hoạt tính sinh học cao, mật ong trở thành nguồn thực phẩm dinh dƣỡng và trở thành mặt hàng xu t khẩu đầy tiềm năng. Việt Nam là nƣớc có truyền thống nuôi mật ong lâu đời. Theo ƣớc tính năm 2013, Việt Nam có khoảng 1,5 triệu đàn ong, sản lƣợng mật năm 2013 là 42.000 t n (chiếm 90% sản lƣợng), tiêu thụ nội địa khoảng 4.
Tuy nhiên với giá trị to lớn kèm theo sự gia tăng nhu cầu mà hiện nay trên thị trƣờng xu t hiện các sản phẩm mật ong kém ch t lƣợng thậm chí là mật ong giả đƣợc sản xu t từ nguồn nguyên liệu không rõ nguồn gốc đƣợc là rõ một cách tinh vi nhằm đánh lừa ngƣời tiêu dùng gây giảm giá trị mật ong thật, bên cạnh đó gây ảnh hƣởng mạnh mẽ đến sức khỏe ngƣời tiêu dùng. Các sản phẩm mật ong giả chỉ dựa vào mắt thƣờng khó có thể phân biệt đƣợc với mật ong thật, gây tổn hại nhiều đến ngành nuôi ong Việt Nam. Xu t phát từ thực tế đó, đề tài: “Nghiên cứu một số thành phần hóa học, cảm quan của mật ong ở Việt Nam” để có thể đánh giá ch t lƣợng mật ong trên thị trƣờng. Lý do chọn đề tài : Mật ong có hàm lƣợng dinh dƣỡng cao, là sản phẩm nông nghiệp tiềm năng xu t khẩu của Việt Nam, có mặt trên nhiều thị trƣờng cả nội địa lẫn ở các nƣớc trên thế giới.
Đặc điểm chính của mật ong là vị ngọt tự nhiên, có hàm lƣợng đƣờng cao. Mật ong có màu từ vàng nhạt đến màu nâu vàng. Chính các đặc điểm đó thuận lợi cho việc là giả mật ong. Chỉ cần thực hiện một số ƣớc với nguồn nguyên liệu đơn giản nhƣ đƣờng hoặc siro bắp, hóa ch t thực phẩm là có thể tạo ra đƣợc số lƣợng lớn mật 1 ong giả có giá tiền ngang hoặc có khi cao hơn mật ong thật.
Ngay trên thị trƣờng nội địa Việt Nam số lƣợng mật ong giả ngày càng tăng và nhiều thủ thuật tinh vi để đánh lừa ngƣời tiêu dùng. Bên cạnh đó cũng có các phƣơng pháp trong dân gian giúp phân biệt đƣợc mật ong giả và mật ong thật, tuy nhiên các phƣơng pháp đó chƣa có ằng chứng khoa học chứng minh và mật ong giả hiện nay đƣợc thay đổi để dù thực phân biệt bằng mắt thƣờng hay phƣơng pháp truyền miệng vẫn gặp khó khăn khi phân iệt. Do đó với các kỹ thuật hiện đại nhằm đánh giá và khảo sát hàm lƣợng các ch t đặc trƣng nh t trong mật ong thật và mật ong nghi ngờ là mật ong giả đƣợc bày bắn trên thị trƣờng. Thông qua đó so sánh đối chiếu sự giống nhau hoặc khác nhau, tính chân thật của sản phẩm.
Bên cạnh đó có thể hỗ trợ cho việc đánh giá sản phẩm mật ong đƣợc bày bán trên thị trƣờng. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu một số thành phần hóa học, cảm quan của mật ong ở Việt Nam. Từ đó đánh giá phân iệt đƣợc giữa mật ong thật và mật ong kém ch t lƣợng. Xác định hàm lƣợng đƣờng glucose, fructose, saccharose, HMF.
Xác định hoạt động của enzyme (Invectase) đặc trƣng có trong mật ong. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tƣợng nghiên cứu Mẫu mật ong tự nhiên đƣợc mua tại cơ sở sản xu t mật ong có uy tín, mẫu mật ong đƣợc làm giả từ mật bắp và đƣờng saccharose, các mẫu mật ong đƣợc mua tại nhiều nguồn khác nhau trên thị trƣờng.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu Thời gian từ ngày 03/02/2019 đến 20/08/2019 Địa điểm: trên địa bàn quận Gò V p và Quận 6, tại Trƣờng Đại học Công Nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh 2 4. Cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu Thu thập mẫu mật ong từ nhiều nguồn khác nhau. Tiến hành khảo sát thói quen và hành vi ngƣời tiêu dùng đối với các sản phẩm mật ong nhằm đánh giá và phân nhóm đối tƣợng khách hàng dựa trên kinh nghiệm và kiến thức và mật ong.
Đánh giá và phân tích cảm quan đối với các mẫu mật ong nhằm phân nhóm đặc tính hóa học và vật lý của mật ong. Phân tích hàm lƣợng đƣờng tổng, hàm lƣợng HMF và diastase có trong mật ong để so sánh đánh giá ch t lƣợng nguồn gốc mật ong. Đƣa ra kết luận và cách thức đánh giá ch t lƣợng mật ong trên thị trƣờng, giúp ngƣời tiêu dùng có cơ sở để lựa chọn những sản phẩm mật ong ch t lƣợng. Ý nghĩa của đề tài Từ những kết quả phân tích trên thiết bị phân tích hiện đại là bằng chứng khoa học để rút ra đƣợc sự giống và khác nhau giữa mật ong thật và giả hiện đang đƣợc bày bán trên thị trƣờng.
Đánh giá độ thật giả của sản phẩm mật ong đƣợc bày bán trên thị trƣờng giúp cho ngƣời tiêu dùng và ngƣời sử dụng mật ong không bị nhầm lẫn. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lƣợc về mật ong Mật ong là sản phẩm tự nhiên, dịch ngọt đƣợc tổng hợp từ ong mà nguồn nguyên liệu là mật hoa. Ong thu thập mật hoa, vận chuyển tới tổ ong và m t từ 3-6 tuần để chuyển hóa lƣợng mật hoa đó thành mật. Quá trình chuyển hóa mật ở Ong ao gồm các chuỗi phản ứng sinh học phức tạp mà ắt đầu ằng việc các ong thợ thu nhận mật hoa ở các ông hoa ằng vòi của chúng.
Nhờ các enzyme trong dạ dày của chúng kích thích trong vòng 30 phút cho quá trình chuyển hóa. Đặc iệt qua hoạt động này ong góp phần tăng khả năng thụ ph n cho hoa. Sau một chuỗi phản ứng sinh học mật ong đƣợc tạo ra trở thành nguồn thức ăn dự trữ của ong. Có 2 loại nguồn gốc mật ong: Mật ong từ mật hoặc nhựa của một loài thực vật.
Mật ong từ mật và nhựa của nhiều loài thực vật khác nhau. Mặc dù khoa học công nghệ ngày càng phát triển nhƣng con ngƣời vẫn phải thu nhận mật ngọt này từ ong để sử dụng nhƣ thức ăn đầy đủ dinh dƣỡng. Hầu hết các loại mật ong đều có nguồn gốc từ mật hoa, đƣợc ong thu thập và tích lũy dần. Do vậy, tùy thuộc vào các loài hoa khác nhau, điều kiện sinh dƣỡng và điều kiện môi trƣờng khác nhau mà có thành phần mật khác nhau.
Thành phần chính ao gồm: nƣớc, đƣờng, acid amin, protein, lipid, khoáng và vitamin. ƣợng đƣờng có thể dao động từ 5% đến 80% mật hoa. Các acid amin cũng đƣợc tìm th y trong mật hoa, nhƣng với số lƣợng th p, thƣờng là 0,002% - 4,800% tổng ch t rắn trong mật hoa [1]. Trong tự nhiên ong làm tổ trên các thân hoặc các hốc cây ở nơi khu t và lợi dụng sự ồn ào ở các tổ chim để đánh lạc hƣớng chú ý của động vật hoang dã và con ngƣời tới tổ ong.1 Một dạng tổ ong trong tự nhiên Từ xƣa, con ngƣời ắt đầu nuôi ong để thu nhận mật ằng cách tạo những thùng gỗ để ong có thể làm tổ, những thùng gỗ này đƣợc đặt trong rừng hoặc các nơi có trồng nhiều hoa.
Đến nay hoạt động này vẫn đƣợc duy trì và mở rộng. Trong suốt quá trình thu nhận mật ong ngƣời nuôi ong sử dụng đồ ảo hộ và khói để giảm sự giận dữ trong đàn ong tránh ị ong đốt. Việc khai thác mật đƣợc thực hiện ằng cách nghiền hoặc ép và cần lƣu ý rằng điều này dẫn đến trong lƣợng mật đƣợc tách ra có lẫn nhiều tạp ch t nhƣ ph n hoa, sáp, men osmophyllic, dextrose hydrate,.Vì vậy quá trình xử lý mật sau khi tách là r t quan trọng. Mật ong sau khi đƣợc ép ra từ tổ ong đƣợc lọc qua hai lớp vải lƣới kích thƣớc 0,5mm hoặc lọc áp lực, thanh trùng.
Quá trình lọc áp lực loại ỏ các tạp ch t và các hợp ch t không mong muốn. Sau đó, mật ong đƣợc thanh trùng hoặc xử lý nhiệt trong hệ thống ở nhiệt độ khác nhau tùy thuộc vào loại mật ong mong muốn. Vì có tính acid, hàm lƣợng lớn fructose và độ nhớt cao nên mật ong có độ nhạy cao đối với xử lý nhiệt, do đó cần chú ý nhiệt độ xử lý để làm tan hạt dextrose và tiêu diệt vi sinh vật có trong mật mà không ảnh hƣởng đến ch t lƣợng mật. 5 Mật ong có khả năng hút ẩm nhiều, lƣợng nƣớc trong mật ong tăng nhanh dẫn đến làm tăng quá trình lên men trong mật ong.
Bên cạnh đó mật ong có tính acid, vì vậy trong các vật đựng để ảo quản mật ong nên phủ một lớp phủ ề mặt để tránh hiện tƣợng ăn mòn ên trong ảnh hƣởng đến ch t lƣợng mật ong hoặc có thể sử dụng các hủ thủy tinh để ảo quản. Trong quá trình ảo quản, nhiệt độ là yếu tố quan trọng vì cả thay đổi vật lý và hóa học diễn ra liên quan đến màu sắc, hƣơng thơm và hƣơng vị. Bảo quản ở nhiệt độ th p trong thời gian dài hoặc nhiệt đô cao trong thời gian ngắn sẽ có mức ảnh hƣởng đến lƣợng đƣờng, acid min [2]. Mật ong có nhiều đặc điểm khác nhau, một trong những đặc điểm xác định của mật ong là độ ẩm th p do vậy vi khuẩn không thể tồn tại trong môi trƣờng có áp su t thẩm th u cao.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là mật ong an toàn, nó có thể chứa bào tử của n m mốc hoặc các sinh vật khác vẫn có thể hoạt động nhƣ ch t gây dị ứng hoặc độc tố, do đó mật ong không đƣợc dùng làm thực phẩm cho em bé nhỏ hơn một tuổi [3].2 Hoạt động nuôi ong ở Việt Nam Tại Việt Nam có 5 loài ong ản địa đƣợc sử dụng chủ yếu: Apis cerana, Apis dorsata, Apis laboriasa, Apis florea, Apis andreniformi [4]. Trong đó loài Apis cerana tập trung nhiều ở những nơi có các loài cây đơn hoa và đƣợc sử dụng rộng rãi trong ngành nuôi ong, các loài còn lại đƣợc ắt gặp nhiều trong tự nhiên. Tại miền Nam Việt Nam nơi tập trung nhiều cánh rừng tràm là nơi lý tƣởng để các loài ong Apis dorsata sinh sống và phát triển.