Chương 1: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và hoạt động giới thiệu văn hóa dân gian trong và ngoài nước Chương 2: Giới thiệu tết Trung thu của Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam Chương 3: Những vấn đề đặt ra từ việc giới thiệu tết Trung thu của Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 10 z CHƢƠNG 1 BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM VÀ HOẠT ĐỘNG GIỚI THIỆU VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC 1. Khái quát về Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam Theo quyết định số 1595/QĐ-KHXH, ngày 26/11/2010 của Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam - quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam như sau: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là đơn vị sự nghiệp của Viện Khoa học xã hội Việt Nam, có chức năng nghiên cứu khoa học, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, phục chế hiện vật và tư liệu về các dân tộc; tổ chức trưng bày, trình diễn và hình thức hoạt động khác, nhằm giới thiệu, phổ biến và giáo dục về giá trị lịch sử, văn hóa của các dân tộc trong và ngoài nước; cung cấp tư liệu nghiên cứu về các dân tộc cho các ngành; đào tạo cán bộ nghiên cứu, nghiệp vụ, quản lý về nhân học và bảo tàng học. BTDTHVN là một thiết chế văn hóa thực sự cần được quan tâm đúng với vai trò của nó trong sự nghiệp giữ gìn và bảo vệ các di sản văn hoá trong bối cảnh Việt Nam có sự đa dạng văn hoá. Loại hình bảo tàng này rất quan trọng và có ý nghĩa to lớn về nhiều phương diện trên quy mô quốc gia cũng như ở từng địa phương, bởi vì nước ta có tới 54 dân tộc.
Cho nên, ngay từ năm 1981, Nhà nước đã chủ trương hình thành một Bảo tàng Dân tộc học đặt tại thủ đô Hà Nội. Bảo tàng lấy tên giao dịch quốc tế là Vietnam Museum of Ethnology (viết tắt là VME). Toà nhà trung tâm của Bảo tàng được gọi là toà nhà Trống đồng do kiến trúc sư Hà Đức Lịnh (người dân tộc Tày thiết kế mô phỏng theo hình trống đồng - một biểu tượng chung của nền văn minh Việt Nam (phần nội thất của công trình do kiến trúc sư Véronique Dollfus người Pháp thiết kế). Lối vào toà nhà là một chiếc cầu đá granit, bắc qua một hồ nước nhân tạo, tạo cảm giác như bước lên căn nhà sàn phổ biến ở nhiều vùng.
Sảnh lớn của nhà trưng bày thể hiện không gian bao quát của mảnh đất chữ S với nền lát đá theo biểu trưng hình thể của đất nước Việt Nam và bên trên có một không gian hình tròn 11 z tượng trưng cho bầu trời. Bên trong nhà trưng bày Trống đồng có trên dưới 650 đơn vị hiện vật và 280 ảnh, chủ yếu được phô bày trong 97 tủ kính có kích thước và kiểu dáng khác nhau [12, tr. Cùng với các hiện vật gốc, Bảo tàng còn sử dụng manơcanh, khu tái tạo, bản đồ, sách cứng… giúp người xem dễ dàng tiếp cận với nội dung trưng bày, tự nhận thức được giá trị, ý nghĩa của hiện vật trong đời sống đời thường. Nội dung trưng bày thường xuyên có chín phần: Giới thiệu chung; Dân tộc Việt (Kinh); Các dân tộc Mường, Thổ, Chứt; Các dân tộc ngôn ngữ Tày – Thái và Kađai; Các dân tộc nhóm ngôn ngữ Hmông – Dao, Tạng - Miến và người Sán Dìu, người Ngái; Các dân tộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme ở miền núi phía Bắc và vùng Trường Sơn – Tây Nguyên; Các dân tộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo ở miền núi; Các dân tộc Chăm, Hoa, Khơme; Sự giao lưu giữa các dân tộc.
Bên cạnh việc duy trì hệ thống trưng bày thường xuyên, BTDTHVN đã dành hai khu vực ở tầng 1 và tầng 2 để tổ chức các trưng bày chuyên đề. Mỗi trưng bày này khoảng 150m2 và thường duy trì từ 6 tháng đến 1 năm. Các chủ đề trong trưng bày chuyên đề hay tập trung vào những nội dung mang tính chất chuyên sâu mà trưng bày thường xuyên chưa có. Một số trưng bày chuyên đề của BTDTHVN đã để lại dấu ấn trong lòng công chúng như “Tết trẻ em” (1999), “Gia phả Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại” (2001), “Hanbok – Y phục truyền thống Hàn Quốc” (2004), “Cuộc sống cư dân làng chài Cửa Vạn” (2004), “Đồ vải của người Thái ở tiểu vùng sông Mê Công: tiếp nối và biến đổi” (2004), “Từ Chi – nhà dân tộc học” (2005), “100 năm đám cưới Việt Nam” (2005), “Cuộc sống Hà Nội thời bao cấp” (2006), “Chúng tôi ăn rừng: George Condominas ở làng Saluk” (2007), Tết Trung thu ở Hàn Quốc (2007), “Sống trong bí tích: Văn hoá Công giáo đương đại Việt Nam” (2008), “Đường 9: Cơ hội và thách thức” (2009), “Câu chuyện Mê Công: Thách thức và ước mơ” (2009), “Tết Trung thu và ngày trẻ em ở Nhật” (2009), “HIV: 20 năm thách thức và ước mơ” (2010), “Ánh nhìn chéo: truyền thống lễ hội Val – de- Mare & Yên Bái” (2012)… Cùng với việc duy trì và phát triển khu trưng bày trong nhà, ngay từ cuối năm 1997, BTDTHVN bắt đầu tiến hành xây dựng khu trưng bày ngoài 12 z trời với diện tích 2,1 ha.
Khu trưng bày được hình thành với mục đích bổ sung cho phần trưng bày trong toà nhà Trống đồng, tạo cho bảo tàng một hệ thống trưng bày hoàn chỉnh, tạo lập một không gian văn hoá sinh động, hấp dẫn. Mặc dù cả nước có 54 dân tộc với rất nhiều nhóm địa phương khác nhau, nhưng BTDTHVN chỉ có thể lựa chọn giới thiệu một số công trình kiến trúc dân gian tiêu biểu tại khu trưng bày ngoài trời. Các công trình này phản ánh sự đa dạng phong phú về kiến trúc từ loại hình, chất liệu đến kỹ thuật và tri thức bản địa của những chủ nhân văn hoá. Đó là nhà rông của người Bana, nhà mồ của người Giarai, nhà sàn dài của người Êđê, nhà sàn của người Tày, nhà nửa sàn nửa đất của người Dao, nhà trệt lợp ván pơmu của người Hmông, nhà ngói của người Việt, nhà sàn thấp của người Chăm, nhà trình tường của người Hà nhì.
Trưng bày được bố trí theo 3 “đai” kế tiếp, “ứng với 3 vùng địa lý – tự nhiên khác nhau về độ cao ở nước ta: một vành đai dành cho văn hoá ở vùng núi cao, một đai – vùng cao nguyên và vùng thung lũng, còn đai thấp nhất – vùng đồng bằng” [11, tr. Như vậy, từ năm 1997 đến năm 2005, BTDTHVN đã hoàn thành cơ bản việc xây dựng các trưng bày tại khu ngoài trời. Các công trình kiến trúc dân gian bao gồm: nhà mồ của người Giarai (1998); nhà của người Hmông (1999); nhà của người Tày (1999); nhà của người Dao (1999); nhà của người Việt (2000); nhà của người Chăm (2001, 2004); nhà dài của người Êđê (2001); nhà rông của người Bana (2001 - 2003); nhà của người Hà Nhì (2004); nhà mồ của người Cơtu (2005). Ngoài các công trình chính là các kiến trúc dân gian truyền thống nêu trên, tại khu trưng bày ngoài trời của BTDTHVN còn có các hạng mục khác như: thuỷ đình, xưởng gốm, vườn thuốc nam củ người Việt, cối giã gạo bằng sức nước của người Dao, nhà trưng bày thuyền, lò đúc của người Hmông, lò rèn của người Nùng… Gắn với các công trình và hạng mục phụ trợ, BTDTHVN còn chú ý tới các loại cây, đặc biệt là những loại cây bản địa để hình thành không gian sinh thái gắn với các công trình kiến trúc dân gian của các dân tộc, các vùng miền khác nhau ví dụ như quanh nhà Dao có trồng những bụi lau, nhà Hà Nhì thì có vườn rau, ruộng ngô.
Một vườn thực vật gắn với các ngôi nhà đang dần dần được hình thành và phát triển ở khu trưng bày ngoài trời này. Thêm vào đó, các lối đi ngoằn nghèo được lát chủ 13 z yếu bằng gạch làng Lai Xá (Hà Nội) cùng với con suối uốn khúc, nước chảy róc rách càng làm cho khung cảnh của khu trưng bày ngoài trời thêm sinh động và hấp dẫn. Hơn nữa, tại khu trưng bày này BTDTHVN đã sử dụng phương pháp trưng bày theo đời sống thực, rất phù hợp và đạt hiệu quả cao đối với loại hình bảo tàng Dân tộc học. Mỗi ngôi nhà chính là một hiện vật, đồng thời cũng có vai trò như một bảo tàng thu nhỏ, giới thiệu cách bài trí, trưng bày các đồ dùng của người dân.
Các ngôi nhà không chỉ là cái vỏ kiến trúc mà còn chứa đựng thông tin về tập tục sinh hoạt và cư trú của các cộng đồng cư dân đã sản sinh ra chúng: nơi thờ cúng tổ tiên, chỗ tiếp khách, nơi ngủ của gia đình… Như vậy, với sự đa dạng và sự tái hiện nhiều không gian văn hoá khác nhau, khu trưng bày ngoài trời của BTDTHVN là địa điểm thích hợp, lý tưởng để tổ chức các hoạt động sinh hoạt văn hoá của các dân tộc trong và ngoài nước cũng như hứa hẹn một điểm thu hút đông khách tham quan Việt Nam và quốc tế. Khi đã đưa hai khu trưng bày trong nhà và ngoài trời vào hoạt động ổn định cũng như khẳng định được thương hiệu trong giới bảo tàng, năm 2003 BTDTHVN bắt đầu tiến hành thực hiện kế hoạch xây dựng Bảo tàng Đông Nam Á - khu trưng bày văn hóa các nước trong khu vực Đông Nam Á. Tòa nhà Đông Nam Á làm mô phỏng theo hình cánh diều- một biểu tượng văn hóa của khu vực Đông Nam Á. Tòa nhà thiết kế hiện đại và bao gồm bốn tầng.
Tầng 1 sẽ trưng bày giới thiệu văn hóa của các nước trong khu vực Đông Nam Á với 280 hiện vật, 15 video, 27 bài text và ảnh theo 5 chủ đề: Đồ vải và trang phục; Đời sống hằng ngày; Đời sống xã hội; Nghệ thuật trình diễn; Tôn giáo tín ngưỡng. Không gian ở tầng hai dành cho việc giới thiệu các bộ sưu tập của các cá nhân hiến tặng như bộ sưu tập của nhà sưu tập Kaneko Kazushige (Nhật Bản), Rosalia Sciortino (Italy), Lê Thành Khôi (Việt kiều Pháp). Tầng 3 dành cho trưng bày chuyên đề, các phòng làm việc, phòng đa phương tiện, hội trường, chiếu phim… Tầng 4 dành cho kho bảo quản. Tính đến nay, BTDTHVN đã cơ bản hoàn thành việc xây dựng tòa nhà, chuẩn bị cơ sở vật chất cũng như tiến hành nghiên cứu, sưu tầm hiện vật cho trưng bày trong Bảo tàng Đông Nam Á (Bảo tàng ĐNA).
Các bộ sưu tập đã cơ bản được lên kế 14 z hoạch trưng bày, catalogue giới thiệu nội dung trưng bày đã xuất bản bằng 3 ngữ Việt - Anh - Pháp.