Chương 1. Khái quát về motif *vụ án” và bộ ba tác phẩm: Vự án (Franz Kafka), Kẻ ngoại cuộc (Albert Camus) và Những ngã tư và những cột đèn (Trần Dần) Trong chương này, đề tài sẽ giải quyết một số vấn đề chính: Thứ nhất. khái lược một số điểm đáng chú ý khái niệm về motif và nghiên cứu motif trong văn học. Thứ hai, từ cách hiểu vé motif và đường hướng nghiên cứu, chúng tôi tiền hành khảo sat sự xuất hiện của motif “vu án” trong văn học Việt Nam và phương Tây, dé nhận 12 điện sự hình thành và phát triển trong cấu trúc của nó.
Thứ ba, việc giới thuyết về thuật ngữ giả trinh thám và chỉ ra mỗi liên hệ mật thiết của với motif “vu an” sẽ là cơ sở, tiền dé dé tiếp tục phát triển chương 2. Cuối cùng, chúng tôi sẽ giới thiệu vài nét chính yếu về các tác pham và các tác giả, nhằm gợi mở ve boi cảnh văn học, văn hóa, xã hội va vị trí, vai trò của các tác phẩm, tác giả ay. Cấu trúc motif “vụ án” trong Vu án (Franz Kafka), Kẻ ngoại cuộc (Albert Camus) và Nhitng ngã tr và những cột đèn (Trần Dan) nhìn từ loại hình giả trinh thám Chương nay sẽ tập trung phân tích cau tạo của motif “vụ án” thông qua các phan, các giai đoạn của vụ án được thé hiện linh động trong ba tác phẩm: sự xuất hiện và diễn biến của vụ án, phán xét của vụ án và kết thúc của vụ án. Từ đó, xem xét từng giai đoạn này dưới góc độ loại hình giả trình thám dé chỉ ra sự vi phạm, vượt bỏ của các nguyên tắc tiêu thuyết trinh thám trong từng tác phẩm.
Dé làm được điều này, chúng tôi viện dẫn lý thuyết về loại hình của tiêu thuyết trinh thám của Todorov và so sánh nó với sự thé hiện của motif “vụ án” trong ba văn bản. Biểu hiện đầu tiên của tính chất giả trình thám thé hiện qua tính chất ngẫu nhiên khi vụ án xuất hiện và ngay lập tức nó rơi vào tình trạng “mờ hóa”. Tiếp theo, giả trinh thám được nhận thấy qua sự rời rac, thiếu vắng mỗi quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tdi, bản án và hình phạt được xác định trong các tác phẩm cũng như. Đồng thời, tội phạm cau thành nên vụ án vốn đóng vai trò trung tâm nay đã trở thành thứ yếu.
Hoặc biến mat hoàn toàn, hoặc trở thành yêu tô dé dẫn dắt đến một tội lỗi đích thực. Cuỗi cùng, kết thúc của vụ án cho thay sự that bại hoàn toàn cua lí tinh và sự lỗ bịch của “trò chơi trí tuệ” mả truyện trình thám vẫn thường xem trọng. Cấu trúc motif “vu án” trong Vu án (Franz Kafka), Kẻ ngoại cuộc (Albert Camus) và Nhitng ngã tư và những cột đèn (Trần Dan) nhìn từ nghệ thuật tô chức hình tượng Tiếp nỗi chương 2. chương 3 nhằm chỉ những giá trị thâm mỹ của motif “vu an” trong phương điện t6 chức các hình tượng nghệ thuật.
Cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian trong motif “vụ án” là những yếu tố góp phan không nhỏ trong việc kiến tạo hình tượng nghệ thuật, đặc biệt là hình tượng nhân vật của tác pham. Không gian, thời gian trong vụ án không ngừng biến đổi, bị bóp méo. Đó là không gian lăn ranh với sự 13 tiếp nói. chồng chéo giữa các không gian có tính chất khác nhau.
Hay còn là không gian tâm tưởng được khúc xạ và kiến tạo trong thé giới nội tâm của nhân vật như một sự phản ứng lại trước những tác động tiêu cực của vụ án. Song hành cùng không gian chính là thời gian, được cấu tạo với hai tính chat: tdi gian phiếm chỉ và thời gian tâm tưởng. Trong khi thời gian tâm tưởng là thời gian đã được nội tâm hóa, gắn liền với không gian tam tưởng, thì thời gian phiém chỉ lại chính là thời gian của hiện thực nhưng đã bị xóa mờ đường viên, ranh giới. Tương ứng với các cách tô chức không - thời gian trên là hệ thông hình tượng nhân vật được kiến tạo nên: hân vạt lưỡng phân, nhân vật bị lưu day và nhân vật “thiểu sở”.
Các hình tượng nay vừa phản ánh vai trò, chức năng, vừa cho thay tính chất độc đáo trong mỗi kiêu nhân vật ma ta đều có thé nhận thay ở K., Meursault va Dưỡng. KHÁI QUAT VE MOTIF “VU AN” VÀ BO BA TAC PHAM: VU AN (FRANZ KAFKA), KE NGOAI CUỘC (ALBERT CAMUS) VA NHỮNG NGA TU VA NHŨNG COT DEN (TRAN DAN) 1. Motif “vụ án” trong văn học 1. Khái niệm motif và nghiên cứu motif trong văn học Về mặt nguồn gốc, theo nhà nghiên cứu Lại Nguyên An (Đỗ Đức Hiểu.
2003: 1012), motif gắn với văn hóa âm nhạc, được ghi nhận lần đầu tiên trong Từ điển âm nhạc (1703) của S. Brossard, sau đỏ được I. Goethe dé cập đến trong nghiên cứu văn học qua công trình Về thi ca tự sự và thi ca kịch nghệ. Dén nay, thuật ngữ này được sử dụng vô cùng phd biến trong các công trình nghiên cứu vẻ thé loại tự sự dân gian.
Thuật ngữ motif bắt đầu được đưa vào nghiên cứu văn học từ đầu thé ki XX, trong các công trình của A. Theo quan điểm của Veselovsky, “mdtip là một đơn vị không thể phản chia được cua tự sự ("theo tôi motip là đơn vị tự sự đơn giản nhất”). Tiêu chí của motip do là tính chất sơ lược của nó về hiện tượng chỉ có một bộ phận; đó là những yếu tổ không thể phan chia được nữa cua than thoại muộn và của truyện cổ tích” (Dẫn lại từ Propp, 2003: 32). O day, motif được khảo sát như những yếu tô không thé phân chia, những đơn vị nhỏ nhất của cốt truyện đân gian như sự vật, hình ảnh.
Ví dụ: chiếc gương thần, hình tượng người vợ ngốc nghéch, trận chiến bố với con, rắn đánh cấp công chúa (Đỗ Đức Hiểu, 2003: 1012). Hai vai trò của motif được Veselovsky nhân mạnh là: 1) một thành phân, một mắt xích cầu tạo nên cốt truyện; 2) là hình thức phôi thai, là hạt nhân của cốt truyện. V la, Propp trong công trình nỗi tiếng Hình thái học truyện cỗ tích (trích Tuyển tập V. tậpL) đã bác bỏ quan điểm của Veselovsky vé tính bất khả phân của motif, Dựa theo quan niệm của Veselovsky thì mọi câu chuyện cô tích đều có thé cho ta một motif.
Tiếp đó, Propp tiến hành phân tích một motif ngẫu nhiên: motif “con ran bắt cóc con gái của vua”. Ong lập luận rằng motif này bị chia ra thành bốn yếu tố mà néu đứng độc lập thì chúng có thê biến đồi: Con ran có thé bị thay thé bang con ma, cơn gió lốc, con qtg, con chim ung, người phù thuy. Việc bat cóc có thé thay bang hút máu, và các hành vi khác 15 thường có trong truyện cỗ tích. Con gái có thé thay bằng chi em gái, cô đâu, vợ, mẹ.
Nga Hoàng có thể thay bằng người nông dan, mục sư. Từ đó kết luận rằng motif không là đơn nhất, có thé phân chia và bản thân motif không phải là một chính thê logic về nghệ thuật. Vẻ điểm này, nhà nghiên cứu La Mai Thi Gia trong Thuyết nhị nguyên trong nghiên cứu motif truyện kế dân gian (2016: 91) đã trình bay lập luận của nhà nghiên cứu văn học Nga Igor Silantev nhằm bác bỏ những phê phán của Propp dành cho Veselovsky. Dựa trên quan niệm vẻ tính nhị nguyên (cau trúc và ngữ pháp) của motif, Igor Silantev lí giải rằng quan niệm của Propp là quan niệm cúa lý thuyết cấu trúc, chia motif ra thành nhiều thành tô về phương điện hình thái.
Trong khi đó Veselovsky lại muốn nhắn mạnh về tính toàn ven, không the phan chia của chủ dé ma motif muốn thé hiện, tức là dựa trên tiêu chí về mặt quan hệ ngữ nghĩa. Đỗi với Veselovsky, cầu tạo nhiều thành phan của motif là điều không cần bàn cãi, vì hiện tượng biến đỗi, thay thé giữa các thành phan sẽ không ảnh hưởng gì đến sự toàn vẹn về mặt ngữ nghĩa của motif. Dựa trên sự kết hợp giữa so đô hình thái hoc cúa Propp va lý thuyết etic - meic của nhà ngôn ngữ học K. Pike, Alan Dundes trong công trình From Etic to Emic Units in the Structural Study of Folktales (Tam dich: Từ đơn vị chat liệu đến đơn vị chức năng trong nghiên cứu cấu trúc truyện kế đân gian) đã dé xuất lý thuyết nhị nguyên vé motif.
Trong đó, motif gồm có hình thức bất biến (motifem) và các biến thé của nó (allomotif), nhằm phân biệt một cách rõ ràng và nhất quán nguyên lý bất biến và nguyên lý khả biến trong bản chất của motif. Ví dy motifem vẻ sự trừng phat có thể bao gom các motif như chọc mù mắt, cưa chân, thiến hoạn. Những biến thé khác nhau của motif ấy được gọi là các allomotif, ding dé lap đầy một motifem. Ở Việt Nam, nội hàm của thuật ngữ nay cũng tương đối thong nhất.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Tat Đắc trong Truyện kề dân gian doc bằng type va motif (2001) cho rằng: Motif truyện kẻ đôi khi là những khái niệm rất đơn giản, thưởng gắp trong truyện kế truyền thống. Có thé đó là những tạo vật khác thường như than tiên, phic thủy, rong, véu tình, người mẹ ghẻ ác, con vat biết nói. có thể dé là những thẻ giới điệu kì, hoặc ở những nơi ma thuật luôn cá hiệu lực, là tat ca những loài 16 vat thiêng có phép và nhiing hign tượng tự nhiên khác thưởng. Ban thân motif cũng có thé đã là một mau kẻ ngắn và đơn giản, một sự việc đủ sức gáy ấn tượng hoặc làm vui thích cho người nghe.
Một nghiên cứu quan trọng của tác giả La Mai Thi Gia, Motif trong nghiên cứu truyện kể dân gian: Lý thuyết và ứng dụng cũng đưa ra định nghĩa có nhiều điểm thống nhất với các quan điểm trước đó: “Motif là những yếu tổ nhỏ nhất, bat biển trong cẩu trúc truyện cồ tích than kỳ, nó có thể di chuyển từ truyện này sang truyện khác và xuất hiện ở nhiều truyen cổ tích có cau trúc trương tự nhau trên thể giới. Vì vậy, nhìn chung trong nghiên cứu văn học dân gian, đây là một thuật ngữ đã được sử dụng rất phô biến và thông nhất trong cách định nghĩa của các nhà nghiên cứu. Kế thừa từ các công trình trên, chúng tôi thống nhất cách hiểu vẻ thuật ngữ motif để làm cơ sở nghiên cứu cho khóa luận này: 1) Motif là đơn vị trần thuật nhỏ nhất cầu tao nên cốt truyện (Xét trong sự toàn vẹn về mặt ngữ nghĩa của motif); 2) motif có tính bên vững, xuất hiện lặp lại trong nhiều cốt truyện khác nhau; 3) motif hàm chứa một nội dung khác thường, gây ấn tượng.