Tổng Quan Về Marketing Quốc Tế: Chiến Lược và Thách Thức

Khám phá chiến lược marketing quốc tế hiệu quả trong bài viết 'Marketing quốc tế 2'. Nâng cao khả năng tiếp cận và phát triển thị trường toàn cầu.

Người đăng

Ẩn danh
484
0
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

1. Phần I: Tổng quan về thương mại quốc tế

1.1. Nguồn gốc của Marketing quốc tế: Cơ hội và thách thức

1.2. Minh họa về Marketing: Sự phát sinh việc đa quốc tịch hóa các tập đoàn

1.3. Tầm quan trọng của marketing quốc tế và sự chuyển đổi thành công ty đa quốc gia

1.4. Quá trình của marketing quốc tế

1.5. Định nghĩa marketing quốc tế và các hạn chế của định nghĩa truyền thống

1.6. Định nghĩa mới về marketing quốc tế theo Hiệp Hội Marketing Mỹ

1.7. Quy mô và phân biệt marketing quốc tế với các hình thức marketing khác

1.8. Chiến lược Marketing hỗn hợp và khả năng ứng dụng của Marketing

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần I Tổng quan về th ng mại quốc tế 1. Nguồn gốc của Marketing quốc tế : C hội và thách thức Minh hoạ về Marketing : Sự phát sinh việc đa quốc tịch hoá các tập đoàn. Khác nhiều công ty của Mỹ, không chủ đích hoạt động kinh doanh ở n ớc ngoài, Beatrice Foods – một công ty thực phẩm và sản phẩm tiêu dùng lớn thứ 2 ở Mỹ đã tự nhận mình là một doanh nghiệp quốc tế mà trong đó Mỹ là một trong các thị tr ờng công ty đang hoạt động. Mong muốn trở thành công ty đứng đầu thế giới nh tập đoàn Nestle. Công ty Beatrice đã nhận ra điều tất yếu rằng nếu là một pháp nhân Mỹ hoạt động theo luật pháp Mỹ thì sẽ bị giới hạn hoạt động và gặp những khó khĕn về thuế. Công ty này đã từ bỏ quốc tịch Mỹ bằng việc chuyển trụ sở đĕng ký sang quốc gia khác, mặc dù trụ sở chính vẫn ở Chicago. Từ “foods” trong tên của tập đoàn này tr ớc đây nhằm ngụ ý Beatrice Foods là một công ty Mỹ có thể sẽ đ ợc loại bỏ. Mục tiêu của công ty Beatrice trong 10 nĕm tới là tĕng doanh thu trên thị tr ờng quốc tế từ 23% so với tồng doanh thu lên 40%. Tr ờng hợp của công ty Beatrice đã nêu lên tầm quan trọng của marketing quốc tế và sự mong muốn chuyển đổi từ công ty quốc gia thành công ty đa quốc gia. Khi cạnh tranh quốc tế ngày càng trở nên mạnh mẽ thì các công ty nếu không có khuynh h ớng quốc tế hoá kịp thời sẽ gặp nhũng ảnh h ởng bất lợi. Một doanh nghiệp khôn ngoan phải có tâm lý quyết đoán và cái nhìn tiến bộ, linh hoạt về thị tr ờng thế giới h n là chỉ phản ứng hay tự vệ. Theo đó mà các vấn đề có thể gặp phải sẽ đ ợc chuyển thành những thử thách hay c hội. Cuốn sách này tập trung vào việc lập kế hoạch, tiến hành thực hiện và kiểm soát các nguồn lực hợp tác với mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá các c hội thị tr ờng toàn cầu. Cuốn sách đánh giá tầm quan trọng của marketing quốc tế, đối với Mỹ và đối với cả thế giới. Mở rộng h n là sự đánh giá tầm ảnh h ởng của các nền vĕn minh khác nhau trên thế giới tới quá trình marketing quốc tế. Sách đ a ra quan niệm rõ ràng, đầy đủ về các khái niệm và vấn đề c bản trong th ng mại quốc tế nói chung và marketing quốc tế nói riêng. Cuối cùng, sách sâu chuỗi các khái niệm và kĩ nĕng marketing cĕn bản thành một hệ thống nằm trong thế giới th ng mại, gắn kết trực tiếp chúng với các quyết định marketing quốc tế mà trọng tầm là sự hợp tác trong marketing. Sách tiếp cận từ tổng thể đến chi tiết. Cụ thể là phần 1 và 2 đ a ra cái nhìn tổng quát về th ng mại thế giới và môi tr ờng kinh doanh trên thị tr ờng thế giới. Phần 3 tập trung vào việc lập kế hoạch thâm nhập thị tr ờng, nhấn mạnh vào các vấn đề thông tin thị tr ờng, phân tích thị tr ờng và các chiến l ợc xâm nhập thị tr ờng. Phần 4 đề cập tới vấn đề đ a ra quyết định marketing – cũng là phần quan trọng nhất của cuốn sách. Phần 5 là những quyết định tài chính trên thị tr ờng thế giới. Phần này bạn đọc có thể không cần quan tâm nhiều, nh ng không nên hoàn toàn bỏ qua, bởi vì thị tr ờng tài chính xuyên suốt các quốc gia luôn có mối quan hệ chặt chẽ, không thể đ a ra các quyết định tài chính nếu không có sự cân nhắc các vấn đề tài chính có liên quan. Bắt đầu mỗi ch ng là một ví dụ minh hoạt về marketing, một nghiên cứu ngắn gọn về thế giới kinh doanh nhằm giúp cho việc giới thiệu nội dung của từng ch ng. Các đoạn quảng cáo và các ví dụ marketing thực tế sẽ đ ợc sử dụng trong các ch ng cho mục đích minh hoạ. Kết thúc ch ng là đoạn tóm tắt, các câu hỏi về những khái niệm bao trùm, một bài thảo luận để bạn đọc có thể đ a ra các ý kiến tranh luận, đ a ra một hay nhiều tr ờng hợp khác nhau để có thể cùng phân tích. Chú ý rằng các số liệu t ng ứng xuất hiện ở cuối ch ng là những số liệu thực tế và trích dẫn. Thông qua cái nhìn tổng quan về marketing quốc tế, ch ng này trả lời câu hỏi marketing quốc tế bao gồm những đối t ợng nào, bao gồm cái gì, tại sao có marketing quốc tế, thế nào là marketing quốc tế? Bài thảo luận bắt đầu bằng một ví dụ về việc marketing nói chung đ ợc định nghĩa ra sao và định nghĩa này đ ợc hiểu thế nào trong marketing quốc tế. Bên cạnh đó ch ng này cũng đề cập đến vai trò của marketing trong các nền kinh tế. Để tránh những quan niệm sai lầm th ờng thấy, một nghiên cứu rõ ràng và toàn diện về lợi ích của th ng mại quốc tế sẽ đ ợc trình bày. Ch ng 1 sẽ xem xét những tiêu chuẩn phải đ ợc xác định khi một công ty chuyển đổi thành công ty đa quốc gia. Cuối cùng ch ng 1 cũng sẽ nghiên cứu các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp dẫn đến sự thất bại của một số công ty Mỹ khi kinh doanh tại các thị tr ờng n ớc ngoài nĕng động. Quá trình của marketing quốc tế. Tr ớc khi nghiên cứu về marketing quốc tế, cần phải hiểu marketing là gì và nó hoạt động ra sao trên phạm vi quốc tế. Do có rất nhiều sách vở nói về marketing nên hiện nay có rất nhiều định nghĩa về marketing đang đ ợc sử dụng. Phần lớn các định nghĩa này th ờng có điểm chung và trình bày những khái niệm c bản về marketing theo cùng một cách. Mọi định nghĩa đều đ ợc chấp nhận miễn là hội tụ đủ các yếu tố thiết yếu, và với điều kiện ta cũng có thể chỉ ra đ ợc các u điểm cũng nh hạn chế của định nghĩa đó. Một trong những định nghĩa về marketing đ ợc chấp nhận rộng rãi là định nghĩa mà Hiệp Hội Marketing Mỹ (AMA) đã sử dụng trong nhiều thập kỷ qua: marketing là “một đặc tính của các hoạt động kinh doanh nhằm định h ớng nguồn hàng hoá và dịch vụ mà ng ời cung cấp đ a ra về phía khách hàng hoặc ng ời sử dụng”. Để định nghĩa marketing quốc tế, một số chuyên gia chỉ đ n giản kèm theo một cụm từ “đa quốc gia” vào sau định nghĩa về marketing vừa nêu. Mặc dù định nghĩa của Hiệp Hội Marketing Mỹ tỏ ra hữu dụng trong một số tr ờng hợp, nh ng nó lại trở nên thiếu xót trong một vài tr ờng hợp giả định mặc nhiên. Những hạn chế này càng trở nên lớn h n khi định nghĩa đ ợc mở rộng ra thành marketing quốc tế. Một hạn chế của định nghĩa này là nó đã giới hạn marketing chỉ là “các hoạt động kinh doanh”. Một hạn chế khác nữa là định nghĩa áp đặt rằng một sản phẩm khi sản xuất xong thì phải sẵn sàng đ ợc đem bán cho khách hàng trong khi rất nhiều tr ờng hợp một công ty phải định rõ nhu cầu tiêu dùng của khách hàng tr ớc khi tạo ra một sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Nhu vậy h ớng của định nghĩa này là “chúng ta bán những gì chúng ta làm” mà đáng ra là “chúng ta làm cái ta có thể bán”. Chức nĕng của marketing ch a trọn vẹn vì định nghĩa dừng lại khi hàng hoá đ ợc bán đi, mà sự hài lòng của khách hàng sau khi mua mới có tính chất quyết định trong những lần mua hàng tiếp theo. Chính những lời phàn nàn của những nhà nhập khẩu Châu á và của những ng ời sử dụng là nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của các công ty Mỹ khi họ cung cấp phụ tùng thay thế và dịch vụ hậu mãi cho các thiết bị đã bán. Thêm một hạn chế của định nghĩa này là sự tiêu tốn tiền của khi quá nhấn mạnh vào việc phân phối các sản phẩm đi các n i so với các khía cạnh khác của quá trình kếp hợp marketing. Phải thừa nhận chính định nghĩa nhỏ hẹp này đã là nguyên nhân làm cho một số công ty Mỹ nghĩ rằng chức nĕng kinh doanh quốc tế của họ chỉ đ n giản là xuất khẩu những sản phẩm có thể đ ợc từ một n ớc này sang một n ớc khác. Cụm từ “đa quốc gia” khi đ ợc thêm vào định nghĩa cũng không loại bớt đi đ ợc các hạn chế của định nghĩa này. H n nữa, cụm từ này c ờng điệu hoá những nét giống nhau giữa các quốc gia, bên cạnh đó còn quan niệm bản chất của marketing quốc tế một cách quá đ n giản khi nhìn nhận quá trình xử lý marketing nh một bản sao chép các quyết sách và sử dụng chúng giống nhau tại mọi địa điểm kinh doanh khác nhau. Vào nĕm 1985, một định nghĩa mới đã khắc phục đ ợc hầu hết những hạn chế này đ ợc Hiệp Hội Marketing Mỹ thông qua. Theo đó, nó đ ợc sử dụng nh một định nghĩa c bản của marketing quốc tế và đ ợc phát biểu nh sau: marketing quốc tế là quá trình xử lý mang tính chất đa quốc gia trong việc lập kế hoạch và thực thi các công đoạn hình thành, định giá, quảng bá, phân bố những ý t ởng, hàng hoá và dịch vụ nhằm mục đích tạo ra các trao đổi để có thể thoả mãn những yêu cầu của cá nhân hay tổ chức. Trong định nghĩa mới đ ợc thông qua bởi Hiệp Hội Marketing Mỹ này chỉ có một từ “đa quốc gia” đ ợc thêm vào. Với ngụ ý rằng những hoạt động marketing phải đ ợc một vài quốc gia cùng tham gia, và những hoạt động này bằng mọi cách nên đ ợc liên kết xuyên suốt giữa các quốc gia. Nh ng dịnh nghĩa mới này vẫn không hoàn toàn thoát khỏi những mặt hạn chế. Với việc tách riêng những yêu cầu của cá nhân thành một phần và những yêu cầu của tổ chức thành một phần khác, định nghĩa đã quá tách biệt mối quan hệ giữa cá nhân và tổ chức. Kết quả là, nó đã loại trừ marketing mang tính chất công nghiệp, loại marketing này đòi hỏi những giao dịch diễn ra giữa hai tổ chức với nhau. Trong thế giới marketing quốc tế,…. Tuy nhiên, định nghĩa này đã thực sự có đ ợc một số u điểm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ