mở đầu cuộc nam tiến của người Việt Nam” Hay bài “Quyền uy và tính chân chính ở Việt Nam thế kỷ XI”14, Đình Việt Nam15… và rất nhiều bài viết khác về lịch sử, văn hóa Việt Nam. Năm 2015, tác giả vinh dự nhận giải thưởng Việt Nam học của Quỹ văn hóa Phan Chu Trinh. Với những công trình trên cho thấy tác giả là một trong những sử gia quan tâm nghiên cứu, am hiểu lịch sử Việt Nam và điều này chúng ta sẽ thấy rõ qua công trình Việt Nam thời dựng nước mà chúng tôi sẽ giới thiệu dưới đây. Nội dung của công trình Quyển Việt Nam thời dựng nước (The Birth of Vietnam) được trường đại học California xuất bản năm 1983, là bản hiệu đính và mở rộng từ luận án tiến sĩ của Keith Weller Taylor được bảo vệ ở trường đại học Michigan (Hoa Kỳ) năm 1976.
Ngoài phần giới thiệu và kết luận, quyển sách có bảy chương tương ứng với sáu giai đoạn của quá trình dựng nước (từ thế kỷ VII trước Công nguyên đến thế kỷ X). Lạc hầu – Những truyền thống sơ khai - giai đoạn thứ nhất của quá trình dựng nước, là thời kỳ Đông Sơn hay Lạc Việt, quyền lực của người Trung Hoa chưa vươn tới Việt Nam. Người Việt Nam là những thành viên quan trọng của nền văn minh Đồ Đồng thời tiền sử hướng về duyên hải và các hải đảo Đông Nam Á. Ranh giới chính trị và văn hóa giữa hai dân tộc đã được phân định rõ ràng.
Tác giả trình bày lịch sử Việt Nam theo chiều lịch đại trải qua thời kỳ vua Hùng (18 đời vua Hùng từ thế kỷ VII - đến thế kỷ III trước Công nguyên) – nhà nước Văn lang đóng đô ở Mê Linh, thời An Dương Vương (258 – 208 trước Công nguyên) và nhà nước Âu Lạc đóng đô ở Cổ Loa, nhà nước Nam Việt của Triệu Đà (179 -111 trước Công nguyên), nhà Tây Hán (111 trước công nguyên – 25 sau công nguyên) và cuộc khỏi nghĩa của Hai Bà Trưng (40-43). 6 Regional Conflicts among the Viêt Peoples between the 13th and 19th Centuries 7 “Introduction,” Nguyen Du’s Kim Van Kieu, translated by Vladislav Zhukov (Ithaca: Cornell Southeast Asia Program Publications, 2013). 8 “Comments on ‘The Biography of the Hong Bang Clan as a Medieval Vietnamese Invented Tradition’ by Liam Kelly,” Journal of Vietnamese Studies 7, 2 (summer 2012):131-138. 9 “Literacy in Early Seventeenth-Century Northern Vietnam,” in Michael Arthur Aung-Thwin and Kenneth R.
New Perspectives on the History and Historiography of Southeast Asia: Continuing Explorations (New York: Routledge, 2011), pp. 10 “The Vietnamese Civil War of 1955-1975 in Historical Perspective,” in Andrew Wiest and Michael J., Triumph Revisited: Historians Battle for the Vietnam War (New York: Routledge, 2010), pp. 11 “Vietnamese Confucian Narratives,” in Benjamin A. Duncan, and Herman Ooms, eds., Rethinking Confucianism: Past and Present in China, Japan, Korea, and Vietnam, (Los Angeles: UCLA Asian Pacific Monograph Series, 2002), pp.
12 “On Being Muonged,” Asian Ethnicity, vol. 13 “Viet Nam Hoc o Bac My” [Vietnamese Studies in North America], in Phan Huy Le et al.), Viet Nam Hoc (Hanoi: Nha Xuat Ban The Gioi, 2000), I:80-92. 14 Xem: Nhiều tác giả, Những vấn đề lịch sử Việt Nam, Nxb Trẻ, 2001, tr. 15 Xem Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự (1998), Đình Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
3 Văn hóa Việt Nam từ nguồn gốc là văn hóa hướng biển kết hợp với môi trường lục địa “Văn minh Đông Sơn là thành tựu văn hóa tổng hợp của các dân tộc sinh sống trong 16 môi trường địa chính trị duy nhất. Những dân tộc này đến từ cả miền biển lẫn miền núi”17. Xã hội Lạc thời vua Hùng đã có sự phân chia giai cấp dựa trên làng tương đối nhỏ và các nhóm gia đình dưới sự cai quản của Lạc hầu, những cánh đồng trồng lúa nước có hệ thống kênh mương tưới tiêu dựa theo sự lên xuống của thủy triều cho thấy kỹ thuật nông nghiệp tương đối tiên tiến. Nhà nước Ấu Lạc của An Dương Vương đẩy lùi được cuộc tấn công lần thứ nhất của Triệu Đà năm 210 trước Công nguyên nhưng lại sụp đổ hai năm sau đó khi Triệu Đà tấn công trở lại.
Triệu Đà lập nên nước Nam Việt, thiết lập các quận, huyện ngay trong lòng xã hội Lạc, các Lạc hầu chính thức được thừa nhận là các thái thú cấp quận và huyện của nhà Hán, được ban “ấn tín và áo mão”. Chính sách cai trị của nhà Hán ở Cửu Chân nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp như nguồn thu thuế ổn định và thiết lập xã hội phụ hệ dựa trên hôn nhân một vợ một chồng.Về cuộc khởi nghĩa của Trưng Trắc, Keith Weller Taylor đã đưa ra một chi tiết khác với những nhà sử học Việt Nam là Thi Sách cũng là thành viên tham gia vào cuộc khởi nghĩa do Trưng Trắc lãnh đạo chứ không phải vì Thi Sách bị Tô Định giết khiến Trưng Trắc nổi dậy. Ông giải thích điều này là “xuất phát từ định kiến gia trưởng của những thế kỷ sau này, vốn có thể không ủng hộ đàn bà lãnh đạo khởi nghĩa và được công nhận như một nữ vương trong khi chồng vẫn còn sống”18. Cuộc khởi nghĩa của Trưng Trắc và Trưng Nhị cuối cùng bị thất bại do thiếu một đạo quân có kỷ luật và những người theo bà là những Lạc hầu vốn chỉ để tìm kiếm quyền lợi tốt nhất cho họ và sẳn sàng chạy theo nhà Hán nếu điều đó có lợi cho họ.
Thời đại Hán – Việt - giai đoạn thứ hai của quá trình dựng nước: Là thời kỳ người Hán trực tiếp cai trị Việt Nam thông qua Mã Viện, Vương Mãng, Sĩ Nhiếp, dẫn đến sự đời các đại gia đình Hán – Việt và các cuộc khởi nghĩa chống nhà Hán trong thế kỷ thứ II. Triết học Trung Hoa và Phật giáo Ấn Độ bắt đầu được du nhập vào Việt Nam. Theo sau cuộc viễn chinh của Mã Viện, một giai cấp cai trị mới mang hai dòng máu Hán – Việt được hình thành, họ sẳn sàng dung hòa văn hóa Hán với văn hóa bản địa phương Nam, được triều đình Hán xem như đại diện tiêu biểu của xã hội địa phương vì họ có tiềm lực kinh tế và có thế lực chính trị ở địa phương. Sự bóc lộ quá độ của tầng lớp quan lại nhà Hán ở Giao Chỉ đã dẫn đến các cuộc khởi nghĩa chống nhà Hán: Hơn 2000 thường dân tấn công và đốt phá các trung tâm hành chính trong huyện Tượng Lâm năm 100; Sau đó năm 136, một cuộc nổi loạn khác cũng tấn công vào Tượng Lâm, họ đốt trụi các trung tâm chính quyền và giết chết các quan triều Hán.
Đầu năm 144, một làn sóng nổi loạn mới lan truyền từ Nhật Nam đến Cửu Chân và Giao Chỉ. Năm 157, Chu Đạt cùng với dân chúng huyện Cư Phong nổi lên chống một huyện lịnh đặc biệt tham tàn. Năm 178, Lương Long lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở Hợp Phố và Giao Chỉ. Kết quả, triều đình buộc phải bổ nhiệm một quan có tiếng là thanh liêm – Cổ Tông làm Thứ sử Giao Chỉ, cai trị theo phương châm “Tất cả mọi người đều được quyền làm ăn sinh sống trong thái bình.
Người vô gia cư và tha hương sẽ được đón nhận và chăm sóc. Miễn thuế cho những ai gặp cảnh khốn cùng. Cường hào và kẻ bóc lột sẽ bị chém đầu. Người lương thiện sẽ được tuyển chọn làm quan” và hòa bình được lập lại ở Giao Chỉ.
Trong giai đoạn này nổi lên vai trò của Sĩ Nhiếp, người mang hai dòng máu Hán – Việt, làm Thái thú Giao Chỉ, vừa chiến đấu như một người lính bảo vệ biên cương cho nhà Hán vừa là thủ lĩnh 16 Điều này thể hiện qua truyền thuyết Lạc Long Quân, hoàng tử đến từ đại dương kết hợp cùng Âu Cơ, công chúa sơn lâm được xem là tổ tiên của dân tộc Việt Nam. 17 Keith Weller Taylor (1983), The Birth of Vietnam, University of California, U. 18 Keith Weller Taylor (1983),, pp.39 4 giới cầm quyền địa phương đầy tài năng đã “xây dựng xã hội địa phương trong bối cảnh văn minh Trung Hoa”19. Dưới thời Sĩ Nhiếp (thế kỷ thứ III), các thiền sư Ấn Độ truyền bá Phật giáo vào Giao Chỉ gắn với bốn ngôi chùa Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện ở Luy Lâu.
Chủ nghĩa địa phương và sáu triều đại (từ thế kỷ III – thế kỷ VI), giai đoạn thứ ba của quá trình dựng nước: Đề cập đến vai trò của giai cấp thống trị địa phương và sáu triều đại phương bắc thay nhau cai trị Giao Chỉ: Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần. Từ thế kỷ thứ III, giai cấp thống trị địa phương là những đại gia đình Hán – Việt đã có khả năng tự mình đảm trách mọi vấn đề, thoát khỏi sự phụ thuộc vào các triều đại phương bắc và ngày càng hướng đến văn hóa xã hội địa phương. Trong ba thế kỷ, triều đình phương bắc sáu lần đổi ngôi: nhà Ngô thay nhà Hán (Tam Quốc năm 220), nhà Tấn thay nhà Ngô (năm 265), nhà Tống thay nhà Tấn (năm 420), nhà Tề thay nhà Tống (năm 479), nhà Lương thay nhà Tề (năm 502), nhà Trần thay nhà Lương (năm 557) nhưng Giao Châu (Việt Nam) nhờ vào vai trò của các quan lại đại phương đã vượt qua sự chuyển giao quyền lực mỗi khi chính quyền phương bắc thay đổi triều đại: Thời nhà Ngô có Đào Hoàng, thời Tấn có Lương Thạc, thời Tống có Đỗ Tuệ Độ, thời Tề, Lương có Lý Thúc Hiến, họ thể hiện là những bề tôi trung với triều đình phương bắc chỉ mang hình thức lễ nghi và vì sinh ra và lớn lên ở Giao Châu nên theo đuổi một đường lối cai trị riêng có lợi cho người địa phương. Những gia tộc trên hướng đến sự tự trị và độc lập với triều đình phương bắc.
Từ thế kỷ IV – V, một hệ thống chính trị mới của người địa phương được hình thành tương đối rõ nét. Cũng chính thời gian này, biên giới phía bắc Giao Châu được điều chỉnh (trở thành biên giới giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc ngày nay) và “người Việt Nam không còn là một bộ phận thuộc phạm vi biên giới vô định như dưới thời Hán và Ngô”20. Ách đô hộ ở Việt Nam trong thế kỷ VI: là giai đoạn thứ tư của quá trình dựng nước (theo tác giả). Thời kỳ những hào kiệt bản xứ nỗ lực xác lập ranh giới mới của nước Việt, không chỉ tách Việt Nam khỏi các nước láng giềng phương Nam mà cả với Trung Quốc.