Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Lễ hội truyền thống tại Việt Nam là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian gắn liền với đời sống tâm linh, tập quán canh tác nông nghiệp lúa nước và truyền thống "Uống nước nhớ nguồn". Phần lớn các lễ hội diễn ra vào mùa xuân – thời điểm chuyển giao mùa vụ nông nhàn, đáp ứng nhu cầu giải trí, gắn kết cộng đồng và gửi gắm ước nguyện về một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Trên bình diện kinh tế - xã hội, với hơn 500 lễ hội truyền thống lớn nhỏ trên cả nước, hoạt động lễ hội đóng vai trò là tài nguyên du lịch văn hóa quan trọng, thúc đẩy dịch vụ thương mại, tạo việc làm và gia tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương.

Tại tỉnh Hà Nam, lễ hội chùa Bà Đanh (thôn Đanh Xá, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng) là một sinh hoạt văn hóa tiêu biểu gắn với tín ngưỡng sùng bái tự nhiên của cư dân nông nghiệp, thờ nữ thần Pháp Vũ trong hệ thống Tứ Pháp. Nhằm hệ thống hóa các giá trị lịch sử - văn hóa và khai thác tiềm năng phục vụ du lịch của di tích, tác giả Lê Quang Quyền (sinh viên ngành Việt Nam học) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với các nội dung xác định:

  1. Mục đích nghiên cứu:

    • Làm rõ cơ sở lý luận của lễ hội truyền thống và du lịch văn hóa.
    • Nhận thức tiềm năng phát triển du lịch thông qua lễ hội chùa Bà Đanh.
    • Đánh giá thực trạng tổ chức lễ hội chùa Bà Đanh, từ đó đề ra một số giải pháp, định hướng phát triển du lịch văn hóa tại địa phương.
    • Góp phần khai thác hiệu quả các tiềm năng du lịch của lễ hội chùa Bà Đanh nói riêng và huyện Kim Bảng nói chung.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:

    • Tìm hiểu lịch sử, kiến trúc khu di tích lịch sử chùa Bà Đanh – Núi Ngọc và diễn trình lễ hội chùa Bà Đanh.
    • Khảo cứu các nét sinh hoạt văn hóa đặc thù trong phần lễ và phần hội của di tích.
  3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Lễ hội chùa Bà Đanh và tiềm năng phát triển du lịch.
    • Phạm vi không gian: Khu di tích lịch sử chùa Bà Đanh – Núi Ngọc và địa bàn huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
    • Phạm vi nội dung: Các giá trị văn hóa, thực trạng quản lý tổ chức lễ hội và giải pháp phát triển du lịch văn hóa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật, công trình nghiên cứu và định nghĩa học thuật về văn hóa, du lịch:

  • Khung khái niệm và văn bản pháp lý:

    • Khái niệm du lịch và du lịch văn hóa căn cứ theo Pháp lệnh Du lịch và Luật Du lịch Việt Nam (năm 2006) (Điều 4, Chương 1 quy định: du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống).
    • Định nghĩa du lịch của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam.
    • Các định nghĩa về văn hóa của UNESCO (Tuyên bố Mêhicô năm 1982; định nghĩa của Tổng Giám đốc Federico Mayor), định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh (năm 1942), TSKH. Trần Ngọc Thêm (năm 1996) và Đại từ điển tiếng Việt (năm 1998, do Nguyễn Như Ý chủ biên).
    • Khái niệm về lễ hội, cấu trúc "Lễ" và "Hội", giá trị văn hóa lễ hội cổ truyền dựa trên các nghiên cứu của GS. Đinh Gia Khánh và Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam.
  • Phương pháp nghiên cứu:

    • Phương pháp khảo sát thực địa: Tác giả trực tiếp khảo sát hiện trạng kiến trúc di tích chùa Bà Đanh – Núi Ngọc và tham gia thực tế vào các kỳ lễ hội để ghi nhận quy trình tổ chức, các nghi thức tế lễ và trò chơi dân gian.
    • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân tích, tổng hợp tư liệu từ các công trình nghiên cứu địa chí, ngọc phả, hồ sơ di tích của Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch tỉnh Hà Nam và cuốn sách Truyện Dân Gian Kim Bảng của tác giả Lê Hữu Bách (NXB Văn hóa dân tộc).
    • Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp nhân chứng lịch sử và cán bộ quản lý địa phương, bao gồm sư bà Thích Đàm Đam (trụ trì chùa Bà Đanh), ông Lê Văn Đoàn (Trưởng phòng Văn hóa Thông tin huyện Kim Bảng), các cụ cao niên tại thôn Đanh Xá và du khách thập phương.
    • Phương pháp truy vấn internet: Tra cứu, đối chiếu thông tin và số liệu thứ cấp trên hệ thống mạng thông tin phục vụ đề tài.
  • Nguồn dữ liệu: Nguồn dữ liệu sơ cấp thu được qua khảo sát điền dã, quan sát tham dự và phỏng vấn sâu; nguồn dữ liệu thứ cấp từ văn bản quản lý của chính quyền địa phương, hồ sơ xếp hạng di tích và các tài liệu lịch sử, dân tộc học liên quan.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Du lịch và du lịch văn hóa

Chương 1 tập trung hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về du lịch, du lịch văn hóa và bản chất của lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội:

  • Bản chất của du lịch và du lịch văn hóa: Phân tích từ nguyên thuật ngữ "Du lịch" (chiết tự: "Du" là di chuyển/du ngoạn; "Lịch" là trải nghiệm/lịch duyệt), lịch sử xuất hiện thuật ngữ tourism trong tiếng Anh từ khoảng năm 1800 và sự phát triển của ngành kinh tế du lịch từ thế kỷ XX. Khẳng định du lịch văn hóa lấy tài nguyên di sản, di tích và sinh hoạt văn hóa làm điểm đến để thỏa mãn nhu cầu trải nghiệm tinh thần của du khách.
  • Mối quan hệ giữa "Lễ" và "Hội":
    • "Lễ" bắt nguồn từ văn hóa cổ đại (thời nhà Chu thế kỷ XII), mang tính quy phạm, thiêng liêng, thể hiện lòng tri ân và các nghi thức cúng tế cầu mùa, cầu an của cộng đồng.
    • "Hội" là sinh hoạt văn hóa dân gian, giải tỏa căng thẳng lao động, đóng vai trò "trần tục hóa cuộc lễ", đưa các giá trị tâm linh hòa vào đời sống thực tế thông qua các trò diễn và trò chơi dân gian. Hai yếu tố này tồn tại thống nhất, bổ trợ lẫn nhau trong một cấu trúc chỉnh thể.
  • Hệ thống 5 giá trị cơ bản của lễ hội truyền thống:
    1. Giá trị cộng đồng và cố kết cộng đồng: Cố kết các thành viên làng xã, biểu dương sức mạnh tập thể.
    2. Giá trị giáo dục: Nhắc nhở đạo lý cội nguồn, trách nhiệm với tổ tiên và lịch sử địa phương.
    3. Giá trị phản ánh hiện thực và bảo tàng văn hóa: Lưu giữ trang phục, văn tế, ẩm thực, âm nhạc, nghệ thuật diễn xướng dân gian.
    4. Giá trị văn hóa tâm linh: Giải tỏa tâm lý, đáp ứng nhu cầu giao cảm giữa con người với lực lượng siêu nhiên bảo trợ sản xuất.
    5. Giá trị kinh tế: Tái tạo sức lao động và tạo ra sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù thu hút du khách.

Chương 2: Lễ hội chùa Bà Đanh với tiềm năng phát triển du lịch

Chương 2 trình bày toàn diện về lịch sử, kiến trúc, tín ngưỡng thờ Tứ Pháp, quy trình tổ chức lễ hội và tiềm năng du lịch của di tích chùa Bà Đanh – Núi Ngọc:

  • Khái quát di tích chùa Bà Đanh – Núi Ngọc:
    • Vị trí và địa lý: Nằm ở phía Đông Nam xã Ngọc Sơn, ba mặt bao bọc bởi sông Đáy. Trước năm 1945, khu vực này tách biệt khu dân cư, rậm rạp cây cối, ban đêm phải đốt đuốc gõ chiêng trống xua thú dữ, hình thành câu ngạn ngữ "Vắng như chùa Bà Đanh". Xã Ngọc Sơn thành lập tháng 3/1976 (trước 1945 thuộc tổng Thụy Lôi, gồm các thôn Mã Não, Phương Khê, Đanh Xá, Thụy Xuyên; năm 1956 nhập thêm xóm Quế Lâm).
    • Tuyến giao thông tiếp cận: Từ thành phố Phủ Lý qua cầu Hồng Phú theo đường 22 khoảng 10km, hoặc đi đò ngược sông Đáy khoảng 7km đến bến trước cửa chùa.
    • Kiến trúc tổng thể: Khuôn viên rộng 10ha gồm gần 40 gian công trình xây dựng theo trục đối xứng, nâng dần độ cao từ ngoài vào trong: Tam quan (3 gian 2 tầng, tầng trên làm gác chuông, lợp ngói nam, 2 cột đồng trụ, nóc đắp rồng chầu; 2 cổng phụ 8 mái vòm bán nguyệt); sân vườn trồng mộc, nhài, mẫu đơn, cau và đại già; hai dãy hành lang (3 gian/dãy); Nhà bái đường (5 gian, bờ nóc đắp lưỡng long chầu nguyệt); Nhà trung đường (5 gian, hệ thống cửa bức màn con tiện, vì kèo giả chiên chồng rường con nhị); Nhà thượng điện (3 gian xây cao vượt lên, lòng nhà hẹp); hệ thống nhà cầu bằng gỗ lim nối liền các khu; khu nhà ngang (5 gian: 3 gian thờ tổ, 2 gian buồng ở) và phủ Mẫu ở phía Đông.
Hạng mục vì kèo tại Bái đường Chi tiết chạm khắc mặt trước Chi tiết chạm khắc mặt sau / Mặt áp tường
Vì kèo 1 (áp tường đốc Đông) (Chỉ chạm một mặt) Mặt hổ phù, thông hóa long, trúc hóa long; xà ngang chạm quả đào, mai, trúc, nho, lựu, quạt.
Vì kèo 2 Mặt hổ phù, nghê chầu, mai hóa; xà ngang chạm quả đào, phật thủ, lựu, hoa hồng, cuốn thư, dơi. Ngũ phúc, quả đào, hoa hồng, cuốn thư.
Vì kèo 3 Tứ linh, lưỡng long chầu nguyệt; xà ngang chạm hoa hồng, cây thông, cuốn thư, kim tiền, đàn sáo. Tứ linh; xà ngang chạm trúc, mai, hồng, cuốn thư.
Vì kèo 4 Tứ linh, tùng, mã, mai, điểu; xà ngang chạm đàn tranh, đàn nguyệt, sáo, phách. Tứ linh, bầu rượu, cuốn thư.
Vì kèo 5 Ngũ phúc, hoa mai, hoa hồng, đàn tranh, bút lông, quạt, bầu rượu. Ngũ long tranh châu, hoa hồng, hoa lan, mai đá.
Vì kèo 6 (áp tường đốc Tây) (Chỉ chạm một mặt) Mặt hổ phù, trúc hóa, hoa hồng, quả đào, quả lựu.
  • Thắng cảnh Núi Ngọc: Cách chùa 100m về phía Bắc, là ngọn núi đá vôi nằm độc lập sát mép sông Đáy (thuộc mạch đá vôi kéo từ Hòa Bình qua Tượng Lĩnh - Khả Phong - Liên Sơn). Trên núi có cây si cổ thụ hàng trăm năm tuổi, dưới chân núi có đền thờ ông nghè có công với làng.

  • Lịch sử kháng chiến: Nơi ghi dấu chi bộ Đảng đầu tiên huyện Kim Bảng (thành lập ngày 6/3/1930); sự kiện ông Bùi Văn Siêu treo cờ Đảng trên cây gạo chùa Bà Đanh ngày 7/11/1930; nơi đón đồng chí Lê Quang Tuấn (cán bộ Trung ương) năm 1943; cơ quan Sở Bưu điện Liên khu III đóng quân (1946–1950); địa điểm đặt chiến khu 2 xã Ngọc Sơn (1953) và trạm trung chuyển lương thực vào Chi Nê - Đầm Đa. Cụ trụ trì Thích Tâm Ngọ được trao tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất.

  • Tín ngưỡng thờ Tứ Pháp và hệ thống chùa Tứ Pháp:

    • Nguồn gốc từ truyền thuyết Phật Mẫu Man Nương và nhà sư Khâu Đà La (thế kỷ II tại vùng Dâu - Thuận Thành, Bắc Ninh), sinh ra khối đá hóa thân thành Tứ Pháp: Pháp Vân (Thần Mây), Pháp Vũ (Thần Mưa), Pháp Lôi (Thần Sấm), Pháp Điện (Thần Chớp).
    • Tại chùa Bà Đanh: Thờ tượng Đức Thánh Bà Pháp Vũ ngự trên ngai gỗ đen bóng (thay vì tòa sen), khuôn mặt phúc hậu mang nét nữ tính. Sự tích chùa gắn với thời Lê Hy Tông, niên hiệu Vĩnh Trị (1676–1680) khi mở rộng dựng chùa, tạc tượng từ cây mít đổ và vớt được ngai gỗ trôi dạt trên sông Đáy khớp với pho tượng.
Nhóm địa phương Tên chùa và vị thần Tứ Pháp được thờ tự
Bắc Ninh Chùa Dâu (thờ Pháp Vân), chùa Đậu (thờ Pháp Vũ), chùa Tướng (thờ Pháp Lôi), chùa Dàn (thờ Pháp Điện), chùa Tổ Phúc Nghiêm (thờ Man Nương).
Hà Nội Chùa Keo, chùa Nành (thờ Pháp Vân); chùa Sét (thờ cả Tứ Pháp); chùa Pháp Vân, chùa Pháp Vũ (Thanh Trì).
Hưng Yên Xã Lạc Hồng: chùa Thái Lạc (Pháp Vân), chùa Hồng Cầu (Pháp Vũ), chùa Nhạc Miếu (Pháp Lôi), chùa Hồng Thái (Pháp Điện).
Xã Lạc Đạo: chùa Lạc Đạo (Pháp Vân), chùa Hoằng (Pháp Vũ), chùa Hướng Đạo (Pháp Lôi), chùa Tân Nhuế (Pháp Điện).
Hà Tây (cũ) Chùa Pháp Vân (Văn Bình, Thường Tín), chùa Đậu (Nguyễn Trãi, Thường Tín - thờ Pháp Vũ).
Hà Nam Thờ Pháp Vân: Chùa Quế Lâm (Văn Xá), Do Lễ (Liên Sơn), Thôn Bốn (Phù Vân), Chùa Tiên (Thanh Lưu).
Thờ Pháp Vũ: Chùa Bà Đanh (Ngọc Sơn), Chùa Trinh Sơn (Thanh Hải).
Thờ Pháp Lôi: Chùa Đặng Xá (Văn Xá), Chùa Nứa (Bạch Thượng).
Thờ Pháp Điện: Chùa Bà Bầu (thành phố Phủ Lý).
Các chùa phối tự: Quyển Sơn, Thanh Nộn, Phú Viên, đình và chùa Lạt Sơn, Chanh Thôn.
  • Diễn trình Lễ hội Chùa Bà Đanh:
    • Lễ hội từng bị gián đoạn suốt 68 năm do chiến tranh; sau khi chùa được trùng tu từ năm 2009–2011, lễ hội chính thức được khôi phục từ năm 2010.
    • Thời gian tổ chức: Diễn ra trong 3 ngày vào tháng 2 âm lịch hàng năm (tùy năm chọn các khung ngày: mồng 9–11, 15–17 hoặc 20–22 tháng 2 âm lịch).
    • Phần Lễ (ngày 16–17 tháng 2 âm lịch):
      • Ngày 16/2: Đoàn rước kiệu xuất phát lúc 7 giờ sáng từ chùa Bà Đanh, đi men theo đường đê xã Ngọc Sơn trên lộ trình dài hơn 3km đến chân cầu Quế rồi quay về đình Đanh Xá Hạ, sau đó rước về đình Đanh Xá Thượng lưu kiệu qua đêm.
      • Cơ cấu đoàn rước: Đội múa lân (6 người: 4 người múa, 1 nam cầm chùy múa nhử, 1 nữ mặc yếm đào mang cần câu treo cá chép); đội chuông trống (5 người: 3 chuông, 2 trống); đội cờ (60 người); đội nhà sư; đội sà mâu bát bửu (8 người); đội sênh tiền và nhạc; kiệu Giá Cỗ (4 người khiêng, 4 hộ kiệu, 2 tàn lọng, bày mâm oản 5 tầng); đội tế nữ (16 người); đội cờ nữ áo tân thời (40 người); đội sà mâu trai tráng (10 người); đội sênh tiền nhạc (12 người); kiệu Mẫu Pháp Vũ (16 nữ hầu mặc áo vàng bịt khăn đỏ che miệng); đội tế nữ (14 người); đội cờ (10 người), đội sà mâu, chuông trống; kiệu Bát Cống (18 người khiêng và hộ tống rước bát nhang).
      • Dọc đường rước, các gia đình bày mâm cỗ bái vọng với hoa quả, đặc biệt bắt buộc có 1 đĩa gạo và 1 đĩa muối (hoặc oản xôi) biểu trưng cho nền nông nghiệp lúa nước.
      • Ngày 17/2: Rước kiệu từ đình Đanh Xá Thượng về lại chùa Bà Đanh, tổ chức lễ khai mạc, đọc diễn văn ôn lại lịch sử, dâng hương, phát lộc và thụ lộc cỗ chay tập thể (các món dân dã: rau sắng, rau bí, su su, đậu tương, xôi nếp).
    • Phần Hội: Tổ chức các trò chơi dân gian và môn thể thao truyền thống/hiện đại:
      • Cờ người: Thi đấu trên sân đất có kẻ ô cờ, điều khiển bởi trọng tài chính và trọng tài bàn, dùng trống thúc và điểm nhịp cho từng nước đi.
      • Chọi gà: Thi đấu theo hạng cân trên sới quây bạt tròn cao 40cm, đường kính 2m.
      • Kéo co: Thi đấu giao hữu giữa hai thôn Đanh Xá Thượng và Đanh Xá Hạ theo thể thức 3 keo thắng 2.
      • Bịt mắt đập niêu: Dùng gậy tre dài 60–80cm đập vỡ niêu đất treo trên sào có chứa quà thưởng (kẹo, bột).
      • Đua thuyền trải trên sông Đáy: 2 thuyền đầu rồng, mỗi thuyền 12 người (10 tay chèo, 1 tay lái, 1 người giữ nhịp) của hai thôn Đanh Xá Thượng và Đanh Xá Hạ; đường đua dài 500m từ chân cầu Cấm Sơn ngược dòng sông Đáy quay về điểm xuất phát trước cửa chùa.
      • Cầu lông nam và bóng chuyền: Thi đấu vòng tròn giữa các đội tuyển thuộc xã Ngọc Sơn và đội Quyết Thành (thị trấn Quế).
  • Tiềm năng du lịch văn hóa: Huyện Kim Bảng có 209 di tích (trong đó 9 di tích cấp quốc gia như Chùa Bà Đanh – Núi Ngọc, Đền Trúc – Ngũ Động Thi Sơn, Chùa Quế Lâm...). Vị trí tiếp giáp Hà Nội, Hòa Bình, Ninh Bình tạo điều kiện kết nối tuyến du lịch tâm linh: Chùa Hương $\rightarrow$ Chùa Ông $\rightarrow$ Chùa Bà Đanh $\rightarrow$ Đền Trúc – Ngũ Động Thi Sơn $\rightarrow$ Quần thể danh thắng Ninh Bình.

Chương 3: Giải pháp bảo tồn và phát triển lễ hội chùa Bà Đanh

Chương 3 phân tích thực trạng tổ chức và đề xuất các nhóm giải pháp bảo tồn, khai thác du lịch:

  • Đánh giá thực trạng:
    • Mặt tích cực: Lễ hội được phục hồi bài bản từ năm 2010 theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII; công tác an ninh trật tự, bãi giữ xe miễn phí và an toàn thực phẩm được bảo đảm; khôi phục đầy đủ các nghi lễ và trò chơi dân gian.
    • Hạn chế tồn tại: Công tác tuyên truyền, quảng bá trên cổng thông tin của huyện và tỉnh còn sơ sài; phạm vi du khách chủ yếu cục bộ trong xã Ngọc Sơn và các xã lân cận; chưa cố định ngày tổ chức hàng năm; còn xuất hiện biểu hiện cờ bạc trá hình trong khu vực trò chơi; khuôn viên thiếu hệ thống thùng rác gây ảnh hưởng vệ sinh môi trường.
  • Các giải pháp đề xuất:
    1. Giải pháp về cơ sở hạ tầng: Xây dựng bãi đỗ xe quy chuẩn, mở rộng các quầy hàng lưu niệm bán đặc sản địa phương trong khuôn viên; đầu tư xây dựng các cơ sở lưu trú, nhà hàng dịch vụ phụ trợ kết nối đồng bộ với khu du lịch sinh thái Tam Chúc, Hang Luồn – Ao Dong và Đền Trúc.
    2. Giải pháp về tổ chức và phát triển nguồn nhân lực: Tổ chức các lớp bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ tổ chức lễ hội cho cán bộ văn hóa; tuyển dụng và đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên du lịch tại điểm có trình độ ngoại ngữ.
    3. Giải pháp về sản phẩm và quảng bá du lịch: Quy hoạch khôi phục các làng nghề thủ công truyền thống; tích hợp các nội dung thuyết minh lịch sử, văn hóa vào chương trình lễ hội; đẩy mạnh liên kết tour tuyến liên vùng.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính:
    • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở dữ liệu về lịch sử hình thành, nghệ thuật chạm khắc gỗ cổ truyền (khảo tả chi tiết 6 bộ vì kèo nhà bái đường) và cấu trúc kiến trúc gần 40 gian trên khuôn viên 10ha của chùa Bà Đanh.
    • Phục dựng và ghi chép chi tiết diễn trình lễ hội chùa Bà Đanh sau 68 năm thất truyền, bao gồm cấu trúc đoàn rước kiệu ngày 16–17 tháng 2 âm lịch (đoàn rước dài hơn 3km qua các di tích đình làng) và các trò chơi dân gian đặc trưng (đua thuyền trải 500m trên sông Đáy, cờ người, đập niêu đất).
    • Lập bảng phân loại hệ thống các di tích thờ Tứ Pháp tại 5 khu vực đồng bằng Bắc Bộ (Bắc Ninh, Hà Nội, Hưng Yên, Hà Tây cũ, Hà Nam), làm rõ vị trí thờ thần Pháp Vũ tại chùa Bà Đanh.
    • Xác định các tuyến liên kết du lịch liên tỉnh kết nối chùa Bà Đanh với Chùa Hương (Hà Nội), Tam Chúc, Đền Trúc – Ngũ Động Thi Sơn (Hà Nam) và các danh thắng tỉnh Ninh Bình.
  • Giải pháp đề xuất: Nhóm giải pháp hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật (bãi xe, thùng rác, cơ sở lưu trú), đào tạo nhân sự hướng dẫn viên du lịch, kiểm soát trò chơi tiêu cực và quy hoạch không gian làng nghề thủ công phục vụ du khách.
  • Đóng góp của tác giả: Khóa luận là công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu đầu tiên kết hợp giữa khảo cứu văn hóa dân gian lễ hội chùa Bà Đanh với việc xây dựng định hướng phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn huyện Kim Bảng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào không gian di tích chùa Bà Đanh và địa bàn xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng; dữ liệu khảo sát gắn với thời điểm lễ hội mới được khôi phục (giai đoạn 2010–2011) nên số liệu thống kê du khách theo chuỗi thời gian dài chưa được thể hiện đầy đủ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của du lịch lễ hội trên phạm vi toàn tỉnh Hà Nam; xây dựng các mô hình liên kết chuỗi giá trị du lịch tâm linh liên tỉnh (Hà Nội – Hà Nam – Ninh Bình); nghiên cứu quy hoạch chi tiết các không gian làng nghề truyền thống gắn với các điểm di tích Tứ Pháp.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên các ngành Việt Nam học, Văn hóa học, Lịch sử, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành.
    • Cán bộ quản lý văn hóa - du lịch tại địa phương, các công ty lữ hành xây dựng tour tuyến du lịch văn hóa đồng bằng sông Hồng.
  • Nội dung giá trị nhất:
    • Tài liệu khảo tả kiến trúc mỹ thuật 6 vì kèo nhà bái đường chùa Bà Đanh.
    • Bản phân loại chi tiết hệ thống chùa Tứ Pháp tại miền Bắc và quy trình tổ chức lễ rước kiệu, mâm cỗ bái vọng nông nghiệp trong lễ hội truyền thống.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn gốc câu thành ngữ "Vắng như chùa Bà Đanh" được giải thích như thế nào trong khóa luận?

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chùa nằm tách biệt xa khu dân cư, cây cối rậm rạp, ban đêm người dân muốn lên chùa phải đốt đuốc và gõ chiêng trống xua đuổi thú dữ. Ngoài ra, từ thời vua Lê Hy Tông (1676–1680), khu vực quanh chùa đã có lệnh cấm dân làm nhà ở để giữ vẻ tôn nghiêm, thanh tịnh. Sự vắng vẻ tự nhiên này đã hình thành nên câu ngạn ngữ dân gian lưu truyền.

2. Chùa Bà Đanh thờ vị thần nào trong hệ thống tín ngưỡng Tứ Pháp và có pho tượng thờ mang đặc điểm gì?

Chùa thờ Đức Thánh Bà Pháp Vũ (nữ thần Mưa) – một vị thần nông nghiệp trong hệ thống Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện). Pho tượng Bà Đanh tại thượng điện được tạc trong tư thế tọa thiền trên một chiếc ngai bằng gỗ đen bóng (thay vì tòa sen), gương mặt mang vẻ đẹp hiền từ, phúc hậu, nữ tính và gần gũi với đời sống dân gian.

3. Quy mô và hành trình của lễ rước kiệu trong lễ hội Chùa Bà Đanh diễn ra như thế nào?

Đoàn rước xuất phát lúc 7 giờ sáng ngày 16 tháng 2 âm lịch từ chùa Bà Đanh, đi men theo đường đê xã Ngọc Sơn với chặng đường hơn 3km đến chân cầu Quế, quay lại đình làng Đanh Xá Hạ bái tạ, rồi tiếp tục rước về đình Đanh Xá Thượng lưu kiệu qua đêm. Đến sáng 17 tháng 2 âm lịch, đoàn rước thực hiện nghi thức rước kiệu trở lại chùa để khai mạc đại lễ.

4. Lễ hội chùa Bà Đanh tổ chức những trò chơi dân gian và môn thi đấu thể thao nào?

Phần hội tổ chức 7 hoạt động thi đấu và trò diễn chính: thi đấu cờ người (có trống điểm nước đi), chọi gà dân gian (sới quây bạt 2m theo hạng cân), kéo co giữa hai thôn Đanh Xá Thượng và Đanh Xá Hạ (thể thức 3 keo thắng 2), bịt mắt đập niêu đất, hội bơi đua thuyền trải trên sông Đáy (đoạn đua 500m với 2 thuyền rồng 10 tay chèo), thi đấu cầu lông nam và bóng chuyền giữa các đội trong xã Ngọc Sơn và thị trấn Quế.

5. Dọc đường rước kiệu, mâm cỗ bái vọng của các gia đình người dân có nét văn hóa đặc thù nào?

Dọc hành trình đoàn rước kiệu đi qua, các gia đình đều đặt mâm cỗ hoa quả bái vọng trước cửa nhà. Nét đặc thù bắt buộc trên mỗi mâm cỗ là luôn có một đĩa gạo và một đĩa muối (hoặc các phẩm oản xôi nếp) – những sản vật nông nghiệp mộc mạc dâng lên tạ ơn thần Pháp Vũ đã phù trợ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Quang Quyền đã làm rõ các giá trị lịch sử, nghệ thuật kiến trúc điêu khắc và tín ngưỡng Tứ Pháp bản địa tại di tích chùa Bà Đanh – Núi Ngọc. Nghiên cứu phục dựng sinh động diễn trình lễ hội truyền thống chùa Bà Đanh sau giai đoạn dài gián đoạn, phản ánh chân thực đời sống văn hóa tâm linh của cư dân nông nghiệp lúa nước vùng chiêm trũng sông Đáy. Đồng thời, công trình đưa ra các đánh giá thực trạng và đề xuất hệ thống giải pháp thực tiễn nhằm bảo tồn di sản, kết nối tour tuyến du lịch văn hóa trên địa bàn huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.