chương 1, Luật du lịch của Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (7/2006) ghi rõ: Du lịch văn hoá là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá của dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống. Như vậy, khi thực hiện chuyến du lịch văn hóa, du khách đến một di tích hay tham gia một sinh hoạt văn hóa, nhằm thỏa mãn sự hiểu biết, tính tò mò và sự ham thích của mình, được hưởng thụ, trải nghiệm và đắm mình trong các sinh hoạt văn hóa nơi họ đến. Từ đó, họ sẽ có những hiểu biết sâu sắc về di tích hay sinh hoạt văn hóa đó, đồng thời có được sự thỏa mãn về tâm linh, tinh thần và cả vật chất nữa. Giá trị của di tích hay một sinh hoạt văn hóa được phát huy khi nó đóng một vai trò nhất định, tác động đến tâm lí, tình cảm và tri thức của người đi du lịch.
Khái niệm lễ hội Các hình thức lễ hội là những hoạt động văn hóa tinh thần của loài người từ bao đời nay. Từ xa xưa khi con người lao động kiếm sống, họ đã có Lê Quang Quyền 15 nhu cầu diễn tả niềm vui trước những thành quả đạt được của mình. Sau khi săn bắt, hái lượm trở về, họ lại quay quần bên đống lửa-trung tâm của thị tộc-vừa ăn uống vừa nhảy múa, để biểu thị sức mạnh, niềm vui và mong muốn thần linh phù hộ cho mình đạt được thành quả trong công việc. Đó là những hình thức lễ hội sớm nhất của loài nguời, lôi cuốn lòng người một cách say mê.
Trên thế giới, dân tộc nào cũng có lễ hội. Nó như là một loại hình sinh hoạt văn hóa tinh thần đặc biệt mang tính tập thể nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh, củng cố ý thức cộng đồng. Lễ hội chứa đựng và phản ánh nhiều mặt của đời sống kinh tế-văn hóa-xã hội-tâm lí, tính cách và tín ngưỡng, tôn giáo của các tộc người trên khắp hành tinh của chúng ta. Tuy nhiên, lễ hội phát huy giá trị và phát triển mạnh mẽ nhất ở những vùng cư dân quần tụ trong tinh thần cộng đồng làng xã, như cư dân nông nghiệp ruộng nước, nông nghiệp nương rẫy và cả cư dân ở những vùng ven biển, đầm phá… Đối với cư dân nương rẫy, do sống trong môi trường khắc nghiệt của vùng rừng núi, họ phải cố kết với nhau để chống lại sự hiểm trở, hùng vĩ của tự nhiên; đối với cư dân nông nghiệp ruộng nước, do nhu cầu thời vụ và trị thủy họ phải sống quần tụ thành những làng xã ổn định; đối với cư dân vùng đầm phá ven biển, do nhu cầu nghề nghiệp họ cũng phải cố kết với nhau trong quan hệ cộng đồng bền chặt… Và chính tinh thần cộng đồng đó là cái nôi nuôi dưỡng các hình thức lễ hội; nơi đó dân cư của làng có dịp vui chơi, giao lưu tình cảm xóm làng, quê hương và gửi gắm cho nhau những ước vọng về một cuộc sống ấm no hạnh phúc… Lễ hội (hay hội lễ) là một sinh hoạt văn hóa dân gian nguyên hợp mang tính cộng đồng cao của nông dân hay thị dân, diễn ra trong một chu kì không gian và thời gian nhất định để làm những nghi thức về nhân vật được sùng bái, để tỏ rõ những ước vọng, để vui chơi trong tinh thần cộng mệnh và cộng cảm.
Lê Quang Quyền 16 Theo Giáo sư Đinh Gia Khánh: “lễ hội cổ truyền như là thời điểm mạnh của cuộc sống; là cái cột mốc của một chu trình kết thúc và tái sinh; là cuộc đời thứ hai bên cạnh cuộc đời thực; là trạng thái thăng hoa từ đời sống thực tế; là hình thức tổng hòa văn hóa nghệ thuật; là một hiện tượng văn hóa mang tính trội”… [14;217]. Khái niệm lễ Theo Từ điển Việt Nam thì “Lễ” là hình thức được tiến hành nhằm đánh dấu hay kỉ niệm một sự việc có ý nghĩa lịch sử. Trong thực tế “Lễ” có nhiều ý nghĩa và một lịch sử hình thành khá phức tạp. Theo “Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam” thì “Lễ” là khái niệm đạo đức Khổng học có ý nghĩa là hình thức cúng tế, cầu thần ban phát, nghĩa rộng là những qui tắc của cuộc sống chung trong cộng đồng xã hội.
Lễ ở Việt Nam chú ý tập trung trong các liên quan đến cầu mùa, người an vật thịnh. Có thể nói “Lễ” là phần đạo, phần tâm linh của cộng đồng nhằm đáp ứng cho nhu cầu tín ngưỡng và đảm bảo nền nếp xã hội được hoàn thiện hơn [9;13]. Chữ “Lễ” được hình thành từ thời nhà Chu (thế kỉ XII). Lúc đầu “Lễ” được hiểu là lễ vật của các gia đình quý tộc nhà Chu cúng tế thần, tổ tông gọi là lễ.
Dần dần chữ “Lễ” được mở rộng nghĩa là hình thức, phép tắc để phân biệt trên, dưới, sang, hèn hay thứ bậc lớn nhỏ, thân sơ trong xã hộ phân hóa thành đẳng cấp. Cuối cùng khi xã hội phát triển thì ý nghĩa “Lễ”càng được mở rộng như lễ Gia tiên, lễ Thành Hoàng làng… Phần lễ có ý nghĩa quan trọng và thiêng liêng, chứa đựng những giá trị văn hóa truyền thống, giá trị thẩm mĩ và triết học sâu sắc của cộng đồng. Không những thế, nó mang trọn ý nghĩa hấp dẫn, thú vị đối với du khách. Đây được xem là phần hạt nhân của lễ hội.
Khái niệm hội “Hội” là phần sinh hoạt văn hóa dân gian của cộng đồng làng xã hay lớn hơn là liên làng, liên xã và cộng đồng của toàn vùng hay cả nước. Lê Quang Quyền 17 Hội được cấu thành bởi: những hình thức sinh hoạt vui chơi, không gian-thời gian, cảnh quan môi trường, tâm lí hội và hành động hội (người tổ chức và người tham dự), di tích lịch sử, văn hóa, danh thắng… Tóm lại lễ và hội là hai yếu tố chính tạo nên lễ hội làng. Sự đậm nhạt giữa chúng là tùy thuộc vào từng đặc điểm ở từng nơi và tính chất của từng loại lễ hội. Lễ và hội là một thể thống nhất, tồn tại song song với nhau trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của con người.
Nếu nói phẫn lễ là phần đạo thì hội chính là phần đời, đạo đức là tâm linh mà đời chính là cuộc sống hiện thực. Mối quan hệ giữa lễ và hội Xét về cấu trúc, lễ hội là một hiện tượng xã hội tổng thể. Nếu như phần lễ được coi là gốc rễ, chủ đạo thì phần hội với vô số các trò chơi, là “phái sinh”, tích hợp để hoàn chỉnh phần lễ, làm cho những giá trị của cuộc lễ đi vào tâm thức và đời sống của người dân. Đối với các lễ hội cổ truyền, những trò chơi dân gian có vai trò rất quan trọng.
Chúng là một thành tố cấu thành lễ hội cổ truyền. Nói khác đi, chúng là hiện tượng sinh hoạt văn hóa “phái sinh” từ tín ngưỡng đã được lấy làm cốt lõi, làm nghi lễ chủ đạo ở phần lễ, để tạo nên một tổng thể lễ hội. Nhờ có chúng mà những giá trị của cuộc lễ mới có thể đi vào tâm thức để trở thành định hướng ứng xử cho các thành viên của cộng đồng nơi lễ hội. Sự thật là trong thực hành tổ chức lễ hội thì sự tách rời hai yếu tố lễ và hội là điều không thể.
Bởi lẽ, sẽ chẳng thành lễ nếu không có hội và ngược lại. Ở các lễ hội cổ truyền lễ và hội bao giờ cũng hòa quyện với nhau, bổ xung cho nhau, để cùng nhau biểu thị một giá trị nào đó của cộng đồng. Trong lễ luôn có hội và trong hội luôn có lễ. Sự thật nếu chỉ có những nghi thức lễ thuần túy, thì sự biểu thị giá trị của cuộc lễ đối với các thành viên tham dự sẽ chỉ dừng ở ý tưởng, không hiện thực.
Cái linh thiêng, hạt nhân trong lễ hội cổ Lê Quang Quyền 18 truyền sẽ mãi chỉ là những ý niệm, nếu không có sự dâng cúng những lễ vật vật chất đời thường. Ngược lại hội cũng sẽ chỉ là một cuộc chơi tẻ nhạt nếu chúng đơn thuần chỉ có mục đích giải trí mà không hướng về mục đích nhất định, gắn với sự kiện kỉ niệm một vị thần, một vị anh hùng, một nhân vật (có thật hoặc huyền thoại), có công tích về một phương diện kinh tế, văn hóa, chính trị đối với cộng đồng đó. Nói cách khác đi, nếu các trò chơi ở hội không mang ý nghĩa là “bước trần tục hóa cuộc lễ”, không làm rõ những giá trị mà cộng đồng muốn phô trương ở cuộc lễ, thì chắc chắn người ta chẳng cớ gì để tìm đến chúng. Giá trị của lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại Lễ hội cổ truyền, bản thân nó, đã là một giá trị văn hóa lớn trong đời sống truyền thống và hiện đại.
Tuy nhiên, phân tích sâu chút nữa người ta đã tìm ra những giá trị văn hóa tiêu biểu của lễ hội, một hiện tượng văn hóa mang tính trội. Giá trị văn hóa tiêu biểu nhất của lễ hội là tính cộng đồng và sự cố kết cộng đồng. Mọi lễ hội, dù được phân chia ra sao, dù mang nội dung tôn giáo, nghề nghiệp, vòng đời hay gì nữa thì bao giờ cũng là sinh hoạt của một cộng đồng người để biểu dương những vốn liếng văn hóa và sức mạnh, tạo nên sự cộng mệnh, cộng cảm và tính cố kết cộng đồng (cộng đồng làng, cộng đồng nghề nghiệp, cộng đồng gia tộc, cộng đồng địa phương hay quốc gia, cộng đồng tôn giáo…). Trong xã hội hiện đại giá trị này càng có vị thế quan trọng.
Giá trị cộng đồng Lễ hội trước hết là hoạt động tín ngưỡng tôn giáo, sau đó là những hoạt động vui chơi, hội hè, giải trí mang tính tập thể cao bởi lễ hội có sức hấp dẫn với mọi người và sự tham gia của mọi thành viên trong làng. Trên bình diện cả làng, lễ hội được duy trì trên nền của tín ngưỡng, tôn giáo của làng. Do đó, về nhu cầu tâm linh, lễ hội đã tập hợp tất cả mọi thành viên trong làng tham Lê Quang Quyền 19 gia. Trong quá trình thực hiện lễ hội, các dòng họ, các gia đình có trách nhiệm đóng góp lễ vật để dâng cho thần linh, tham gia chuẩn bị cơ sở vật chất và cùng nhau tiến hành các trò diễn xướng trong quá trình lễ hội.
Và cuối cùng được hưởng thụ những lễ vật thơm ngon, tinh khiết (lấy may). Lễ hội làng còn biểu hiện sức mạnh cộng đồng, mối quan hệ ứng xử, giao tiếp tốt đẹp giữa các thành viên với nhau, giữa cá nhân với cộng đồng… Tất cả điều đó đã tạo nên giá trị cộng đồng của lễ hội làng.