Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu hệ thực vật nhiệt đới phong phú với trên 4.700 loài cây cỏ được dùng làm thuốc, chiếm khoảng 37,26% tổng số loài thực vật bậc cao có mạch đã biết trên toàn quốc. Tại tỉnh Thanh Hóa, huyện miền núi vùng cao Quan Hóa có diện tích rừng và đất lâm nghiệp đạt 82.013,8 ha, chiếm 82,83% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện. Nơi đây lưu giữ hệ sinh thái rừng nguyên sinh và thứ sinh đa dạng thuộc hai Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hu (rộng trên 23.000 ha), Pù Luông và Khu bảo tồn các loài hạt trần Nam Động. Địa bàn huyện là nơi cư trú lâu đời của 5 dân tộc anh em, trong đó đồng bào dân tộc Thái chiếm tỷ lệ đa số với 65,60% dân số (khoảng 30.094 người trên tổng số 45.883 nhân khẩu theo thống kê địa phương).

Mặc dù sở hữu kho tàng kinh nghiệm dân gian đồ sộ về sử dụng cây cỏ trị bệnh, các nguồn tri thức bản địa tại Quan Hóa đối mặt với nguy cơ mai một nghiêm trọng do tác động của đô thị hóa, khai thác quá mức và thiếu hụt các công trình ghi chép bài bản. Trước thực trạng các nghiên cứu cây thuốc ở Thanh Hóa còn mang tính đơn lẻ và rời rạc, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Thực vật học của tác giả Nguyễn Văn Hoàn được thực hiện nhằm điều tra toàn diện, lập danh lục khoa học các loài cây thuốc và đúc kết kinh nghiệm trị bệnh truyền thống của người Thái. Nghiên cứu được triển khai thực địa từ tháng 2/2018 đến tháng 11/2018 tại 6 địa bàn trọng điểm gồm các xã Nam Động, Nam Tiến, Phú Sơn, Phú Lệ, Hồi Xuân và thị trấn Quan Hóa. Đề tài cung cấp cơ sở dữ liệu thực vật dân tộc học xác thực, phục vụ công tác quy hoạch bảo tồn nguồn gen dược liệu nguy cấp và định hướng phát triển y dược học cổ truyền bền vững cho vùng Tây Bắc xứ Thanh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết Thực vật dân tộc học (Ethnobotany) của Gary J. Martin kết hợp với quan điểm y học cổ truyền dân tộc Việt Nam “Nam dược trị Nam nhân” của Thiền sư Tuệ Tĩnh và trước tác y học “Hải Thượng Y tông tâm lĩnh” của Hải Thượng Lãn Ông. Khung nghiên cứu tập trung giải mã mối quan hệ tương tác sinh thái và nhân văn giữa cộng đồng người Thái bản địa với thảm thực vật tự nhiên xung quanh.

Bốn khái niệm chuyên ngành cốt lõi được vận dụng xuyên suốt bao gồm: Tri thức bản địa (Indigenous Traditional Knowledge) về nguồn tài nguyên thảo mộc; Cấu trúc phân loại học thực vật (Plant Taxonomy) theo bậc ngành, họ, chi, loài; Dạng sống sinh thái (Life Forms) của thực vật rừng; và Phổ tác dụng dược lý dân gian đối với các chứng bệnh thực thể. Luận văn tiếp cận nguồn gen cây thuốc dưới góc độ khoa học hiện đại, nhìn nhận tri thức dân gian là nguồn dữ liệu mở đường cho công tác tách chiết, sàng lọc hoạt chất sinh học tự nhiên như alkaloid, flavonoid, stilbene và polyphenol.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp điều tra thực vật dân tộc học cộng đồng và phương pháp phân loại hình thái thực vật thực địa:

  • Phương pháp điều tra cộng đồng: Ứng dụng kỹ thuật Đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và Đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA). Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 3 đến 4 người cung cấp thông tin chủ chốt tại mỗi xã (bao gồm các ông lang, bà mế, người cao tuổi am hiểu cây thuốc), tổng hợp mẫu điều tra chuyên sâu từ 20 đến 25 người am hiểu sâu sắc về cây cỏ. Các hình thức phỏng vấn linh hoạt gồm phỏng vấn mở, phỏng vấn bán cấu trúc, phỏng vấn có cấu trúc, phỏng vấn tái diễn quy trình bào chế và phỏng vấn chéo độc lập. Các buổi thảo luận nhóm tập trung được tổ chức tại thôn bản để đối chứng, chuẩn hóa tên gọi tiếng Thái và công năng trị liệu.
  • Phương pháp nghiên cứu thực vật học: Thu thập mẫu tiêu bản theo quy chuẩn của Nguyễn Tiến Bân và Nguyễn Nghĩa Thìn. Mỗi loài thu từ 3 đến 5 mẫu tiêu bản đạt kích thước chuẩn 41 x 29 cm, bảo quản trong dung dịch cồn 40°-45° trước khi phơi sấy khô. Việc định danh khoa học sử dụng phương pháp hình thái so sánh kết hợp tra cứu các bộ chuyên khảo kinh điển như Cây cỏ Việt Nam, Thực vật chí Việt Nam và Danh lục các loài thực vật Việt Nam. Mức độ đe dọa và giá trị bảo tồn được đối chiếu trực tiếp với Sách đỏ Việt Nam năm 2007, Danh lục Đỏ IUCN, Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Nghị định 160/2013/NĐ-CP của Chính phủ. Quá trình nội nghiệp và phân tích mẫu vật được hoàn thiện tại Khoa Sinh học thuộc Trường Đại học Khoa học Tự nhiên và Phòng Thực vật Dân tộc học thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã thống kê và lập danh lục chi tiết 269 loài cây thuốc thuộc 205 chi, 93 họ nằm trong 5 ngành thực vật bậc cao có mạch được đồng bào Thái tại huyện Quan Hóa sử dụng:

  • Đa dạng taxon bậc ngành: Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế tuyệt đối với 254 loài (chiếm 94,42% tổng số loài), 194 chi (chiếm 94,63%) và 83 họ (chiếm 89,25%). Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) đứng thứ hai với 9 loài (chiếm 3,35%), ngành Thông (Pinophyta) có 4 loài (chiếm 1,49%), ngành Thông đất (Lycopodiophyta) và ngành Khuyết lá thông (Psilotophyta) mỗi ngành ghi nhận 1 loài (chiếm 0,37%). Trong ngành Ngọc lan, lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) chiếm ưu thế áp đảo với 224 loài (88,19%), lớp Hành (Liliopsida) có 30 loài (11,81%).
  • Cấu trúc các họ và chi giàu loài: Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) dẫn đầu với 22 loài thuộc 15 chi; tiếp theo là họ Cúc (Asteraceae) với 15 loài thuộc 14 chi; họ Dâu tằm (Moraceae) và họ Cà phê (Rubiaceae) cùng có 12 loài; họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) có 10 loài; họ Đậu (Fabaceae) và họ Ráy (Araceae) mỗi họ có 9 loài. Về cấp độ chi, chi Ficus phong phú nhất với 9 loài, kế tiếp là Clerodendrum (5 loài), Glochidion (4 loài) và Tetrastigma (4 loài).
  • Đa dạng dạng thân và môi trường sống: Cây thân thảo chiếm tỷ lệ lớn nhất với 92 loài (34,20%), cây thân gỗ gồm 75 loài (27,88%), cây bụi có 53 loài (19,70%) và cây dây leo gồm 49 loài (18,22%). Môi trường sống trong rừng tự nhiên cung cấp nguồn dược liệu cao nhất với 126 loài (chiếm 46,84%), sinh cảnh đồi núi đá và trảng cây bụi có 103 loài (38,29%), nương rẫy và vườn nhà có 86 loài (31,97%), ven khe suối và ruộng trũng có 14 loài (5,20%).
  • Hiện trạng bảo tồn: Luận văn xác định 8 loài cây thuốc quý hiếm thuộc diện cần ưu tiên bảo tồn nghiêm ngặt, bao gồm: Lan kim tuyến (Anoectochilus calcareus - cấp EN theo Sách đỏ Việt Nam, Nhóm IA theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP), Thông đỏ đá vôi (Taxus chinensis - cấp EN, Nhóm IIA), Thạch hộc (Dendrobium nobile - cấp EN, Nhóm IIA), Bình vôi (Stephania rotunda - Nhóm IIA), Tắc kè đá (Drynaria bonii - cấp VU), Ba gạc (Rauvolfia verticillata - cấp VU), Hồi nước (Limnophila rugosa - cấp VU) và Nắm cơm (Kadsura heteroclita - cấp VU).

Thảo luận kết quả

Kinh nghiệm sử dụng các bộ phận thực vật cho thấy đồng bào Thái tập trung khai thác lá cây nhiều nhất với 123 loài (chiếm 45,72%), thân cành với 98 loài (chiếm 36,43%), rễ và củ với 64 loài (chiếm 23,79%), toàn cây với 60 loài (chiếm 22,30%), các bộ phận hoa, quả, hạt và nhựa chiếm 35 loài (chiếm 13,01%). Về số lượng bộ phận sử dụng trên một cây, có 111 loài chỉ dùng 1 bộ phận (41,26%), 88 loài dùng 2 bộ phận (32,71%) và 59 loài có thể dùng toàn cây (21,93%). Việc người Thái ưu tiên sử dụng bộ phận lá mang giá trị sinh thái bền vững to lớn, bởi hoạt động hái lá không làm tổn hại đến sự sinh trưởng sống còn của cá thể thực vật so với việc đào rễ hoặc bóc vỏ cây.

Về phương thức chế biến, 100% các loài (269 loài) đều được sử dụng ở trạng thái tươi, trong khi 103 loài (38,29%) có thể dùng ở cả dạng khô phơi sấy. Hình thức sắc nước uống hoặc đun nước tắm chiếm ưu thế vượt trội với 223 loài (82,90%), dùng trực tiếp (nhai, giã nắp tươi) đạt 73 loài (27,14%), ngâm rượu chỉ chiếm 16 loài (5,95%). Thuốc dùng qua đường uống bên trong cơ thể chiếm 80,67% (217 loài), đường dùng ngoài da chiếm 31,60% (85 loài).

Dữ liệu phân bố nhóm bệnh phản ánh sâu sắc đặc trưng sinh hoạt và lao động lâm nghiệp của đồng bào miền núi. Trị liệu bệnh cơ xương khớp chiếm tỷ lệ cao nhất với 80 loài (29,74%), tiếp đến là bệnh tiêu hóa với 61 loài (22,68%), bệnh ngoài da, cầm máu và rắn cắn với 60 loài (22,30%), bệnh đường hô hấp cảm sốt có 52 loài (19,33%), nhóm thuốc bổ mát thanh nhiệt giải độc gan có 41 loài (15,24%), bệnh phụ nữ có 29 loài (10,78%), bệnh thận bài tiết có 24 loài (8,92%) và bệnh thần kinh, đau đầu có 10 loài (3,72%). Nghiên cứu ghi nhận 9 bài thuốc phối ngũ độc đáo như bài thuốc hỗ trợ vô sinh từ cây Dền lá to kết hợp Bạch đồng nữ, bài thuốc trị sỏi thận từ Mía dò hoa ngọn kết hợp Cứt lợn tía, hay bài thuốc trị đau dạ dày từ vỏ thân Núc nác kết hợp rễ Nhọc lá nhỏ. Các tương quan này có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua các biểu đồ hình cột so sánh cơ cấu nhóm bệnh và sơ đồ phân bố taxon họ thực vật.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng khoa học thực địa, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm quản lý và phát triển bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc tại địa phương:

  • Thiết lập phân khu bảo tồn nguyên vị (In-situ): Ban Quản lý Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hu, Pù Luông phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa và UBND huyện Quan Hóa triển khai cắm mốc ranh giới bảo vệ sinh cảnh sống nghiêm ngặt cho 8 loài cây thuốc nguy cấp (đặc biệt là Lan kim tuyến, Thông đỏ đá vôi và Thạch hộc). Mục tiêu giảm thiểu 100% các vụ việc thu hái tận diệt trái phép trên diện tích 82.013,8 ha đất lâm nghiệp trước năm 2026.
  • Xây dựng mô hình nhân giống và bảo tồn chuyển vị (Ex-situ): Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa liên kết với Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật thiết lập vườn ươm thực nghiệm rộng 2 đến 3 ha tại các xã Nam Động hoặc Hồi Xuân. Đơn vị thực hiện tiến hành thuần hóa, nhân giống vô tính và hữu tính cho 15 đến 20 loài cây thuốc thân thảo và thân gỗ có nhu cầu thương mại cao, hoàn thành quy trình nhân giống chuẩn vào giai đoạn 2025-2027.
  • Tập huấn quy trình thu hái bền vững theo tiêu chuẩn GACP-WHO: Trung tâm Y tế huyện Quan Hóa cùng Hội Đông y địa phương tổ chức đào tạo kỹ thuật định kỳ cho hơn 200 hộ dân làm nghề thuốc và đồng bào dân tộc Thái. Hướng dẫn kỹ thuật ưu tiên thu hái lá (chiếm tỷ lệ 45,72%), hạn chế tối đa việc khai thác rễ củ và vỏ thân cây gỗ quý trong tự nhiên, hoàn thành phổ biến kiến thức vào quý IV/2025.
  • Nghiên cứu chuẩn hóa dược liệu và bảo hộ tri thức y học dân gian: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thanh Hóa phối hợp với các trường đại học y dược tiến hành định lượng hoạt chất sinh học, kiểm nghiệm độc tính bán trường diễn và đánh giá dược lý lâm sàng cho 9 bài thuốc cổ truyền đặc hữu (đặc biệt là các bài thuốc trị sỏi thận, trĩ và vô sinh). Đồng thời hoàn thiện hồ sơ đăng ký chỉ dẫn địa lý và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tri thức bản địa của cộng đồng người Thái trong giai đoạn 2025-2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung công trình mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Các nhà khoa học, chuyên gia Thực vật học và Dân tộc Dược học: Sử dụng cơ sở dữ liệu định danh của 269 loài thực vật thuộc 205 chi và 93 họ làm tài liệu đối chiếu phân loại, nghiên cứu địa lý thực vật học và xây dựng ngân hàng dữ liệu thực vật dân tộc học khu vực Bắc Trung Bộ.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Sinh học, Dược học, Lâm sinh: Tham khảo mô hình nghiên cứu chuẩn mực về phương pháp điều tra thực vật dân tộc học kết hợp PRA/RRA, quy trình thu thập và xử lý tiêu bản thực vật thực địa theo kích thước 41 x 29 cm, cũng như kỹ thuật phân tích cấu trúc taxon đa dạng sinh học.
  • Cán bộ quản lý lâm nghiệp, kiểm lâm và ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên: Ứng dụng các dẫn liệu về môi trường sống, dạng thân và danh sách 8 loài cây thuốc quý hiếm để hoạch định chính sách bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu BTTN Pù Hu, Pù Luông và Khu bảo tồn Nam Động.
  • Doanh nghiệp sản xuất dược liệu, hợp tác xã thuốc nam và nhà thuốc y học cổ truyền: Tiếp cận nguồn tri thức bản địa về 9 bài thuốc phối ngũ dân gian và các loài thảo mộc giàu tiềm năng dược liệu (như các loài thuộc họ Euphorbiaceae, Moraceae, Zingiberaceae) để phát triển vùng trồng dược liệu sạch đạt chuẩn, tạo sinh kế bền vững cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn đã ghi nhận bao nhiêu loài cây thuốc và họ thực vật nào chiếm ưu thế lớn nhất? Nghiên cứu đã ghi nhận chính xác 269 loài cây thuốc thuộc 205 chi, 93 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch. Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) dẫn đầu với 22 loài thuộc 15 chi, chiếm số lượng phong phú nhất, tiếp theo là họ Cúc (Asteraceae) với 15 loài thuộc 14 chi, họ Dâu tằm (Moraceae) và họ Cà phê (Rubiaceae) mỗi họ có 12 loài.

Những loài cây thuốc quý hiếm nào tại Quan Hóa đang thuộc diện cần bảo tồn nghiêm ngặt? Có 8 loài cây thuốc nằm trong diện quản lý bảo tồn cấp quốc gia và quốc tế gồm: Lan kim tuyến (Anoectochilus calcareus - Nhóm IA, cấp EN), Thông đỏ đá vôi (Taxus chinensis - Nhóm IIA, cấp EN), Thạch hộc (Dendrobium nobile - Nhóm IIA, cấp EN), Bình vôi (Stephania rotunda - Nhóm IIA), Tắc kè đá (Drynaria bonii - cấp VU), Ba gạc (Rauvolfia verticillata - cấp VU), Hồi nước (Limnophila rugosa - cấp VU) và Nắm cơm (Kadsura heteroclita - cấp VU).

Bộ phận nào của cây thuốc được đồng bào dân tộc Thái thu hái nhiều nhất và ý nghĩa sinh thái của việc này là gì? Lá cây là bộ phận được sử dụng phổ biến nhất với 123 loài, chiếm 45,72%, tiếp đến là thân cành với 98 loài (36,43%) và rễ củ với 64 loài (23,79%). Việc ưu tiên khai thác lá và thân cành giúp cây thuốc duy trì khả năng sinh trưởng và tái sinh tự nhiên, giảm thiểu nguy cơ tuyệt diệt quần thể thực vật so với tập quán đào rễ tận diệt.

Nhóm bệnh nào được điều trị bằng cây thuốc phổ biến nhất tại huyện Quan Hóa? Người Thái tại Quan Hóa sử dụng cây thuốc điều trị 8 nhóm bệnh chính. Nhóm bệnh cơ xương khớp có số lượng cây thuốc chữa trị nhiều nhất với 80 loài (chiếm 29,74%), tiếp theo là nhóm bệnh đường tiêu hóa với 61 loài (chiếm 22,68%), bệnh ngoài da, cầm máu và rắn cắn với 60 loài (chiếm 22,30%), và bệnh đường hô hấp cảm sốt với 52 loài (chiếm 19,33%).

Người Thái tại khu vực nghiên cứu có phương thức chế biến và đường sử dụng thuốc như thế nào? 100% các loài cây thuốc (269 loài) đều được sử dụng ở trạng thái tươi, trong khi 38,29% có thể dùng khô. Phương thức sắc hoặc đun với nước chiếm tỷ lệ 82,90%, dùng trực tiếp chiếm 27,14% và ngâm rượu chiếm 5,95%. Đường dùng uống trong cơ thể chiếm tỷ lệ chủ đạo 80,67%, trong khi đường bôi đắp bên ngoài chiếm 31,60%.

Kết luận

  • Luận văn xây dựng hệ thống danh lục 269 loài cây thuốc thuộc 205 chi, 93 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch tại huyện Quan Hóa.
  • Ngành Ngọc lan chiếm ưu thế tuyệt đối với 254 loài (94,42%), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) dẫn đầu về độ phong phú loài (22 loài), cùng 8 loài dược liệu nguy cấp được xếp hạng bảo tồn cấp thiết.
  • Dạng sống thân thảo (34,20%) và sinh cảnh rừng tự nhiên (46,84%) đóng vai trò là nguồn cung cấp dược liệu cốt lõi cho đồng bào địa phương.
  • Tri thức bản địa của người Thái ưu tiên sử dụng lá cây (45,72%), đun sắc lấy nước uống (82,90%) để tập trung chữa trị hiệu quả các nhóm bệnh cơ xương khớp (29,74%) và tiêu hóa (22,68%).
  • Đã ghi nhận và lập hồ sơ cấu trúc thành phần cho 9 bài thuốc phối ngũ dân gian đặc hữu trị các chứng bệnh nội khoa và ngoại khoa phức tạp.

Công trình là bước đột phá khoa học cung cấp hệ thống dẫn liệu thực vật dân tộc học toàn diện đầu tiên tại huyện vùng cao Quan Hóa, tạo cầu nối giữa y học cổ truyền và dược học hiện đại. Lộ trình giai đoạn 2025-2030 cần tiếp tục mở rộng phân tích hóa thực vật, thử nghiệm hoạt tính sinh học và xây dựng vùng trồng chuyên canh dược liệu sạch. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm có thể khai thác toàn văn tài liệu để phục vụ công tác nghiên cứu học thuật và phát triển nguồn dược liệu quý của Việt Nam.