TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI BAN QUẢN LÝ VÀ ĐÀO TẠO KỸ SƯ CHẤT LƯỢNG CAO BÀI TIỂU LUẬN MÔN HỌC : THIẾT KẾ ĐÔ THỊ TÌM HIỂU KHU VỰC GA HÀNG ĐẬU – GA NAM LONG BIÊN -TP HÀ NỘI Giáo viên hướng dẫn : TS.KTS Phạm Anh Tuấn 1 Mục lục A. GIỚI THIỆU MÔN HỌC THIẾT KẾ ĐÔ THỊ. KHÁI NIỆM VỀ MÔN HỌC. ĐỐI TƯỢNG THIẾT KẾ.
NGUỒN GỐC CỦA THIẾT KẾ ĐÔ THỊ. MỤC TIÊU THIẾT KẾ. TRÌNH TỰ VÀ NỘI DUNG THIẾT KẾ ĐÔ THỊ. Ý NGHĨA VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA THIẾT KẾ ĐÔ THỊ [7].
CÁC LUỒNG TƯ TƯỞNG CHÍNH CHI PHỐI THIẾT KẾ ĐÔ THỊ [7]. Thiết kế đô thị theo chủ nghĩa thực dụng và kinh tế. Thiết kế đô thị như là nghệ thuật vì cái đẹp. Thiết kế đô thị như là quá trình giải quyết các vấn đề đô thị.
Thiết kế đô thị như là thiết kế của cộng đồng. GIỚI THIỆU DỰ ÁN. GIỚI THIỆU DỰ ÁN TUYẾN ĐSĐT SỐ 1 VÀ 2 CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI [6]. VỊ TRÍ THỰC HIỆN ĐỒ ÁN.
CHỨC NĂNG DỰ ÁN [6]. MỤC TIÊU CỦA ĐỒ ÁN. LIÊN HỆ VÙNG. TẦM NHÌN – ĐỊNH HƯỚNG QUAN TRỌNG.
GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU [3]. QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT. KIẾN TRÚC CẢNH QUAN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU. LÝ THUYẾT VỀ THIẾT KẾ ĐÔ THỊ - PHÂN TÍCH LIÊN HỆ VỚI ĐỒ ÁN.
PHÂN TÍCH CẤU TRÚC KHÔNG GIAN. PHÂN TÍCH VỀ MẶT HÌNH THỨC [4]. PHÂN TÍCH YẾU TỐ TỶ LỆ. PHÂN TÍCH VỀ GIAO THÔNG LIÊN KẾT.
CƠ SỞ LÝ LUẬN – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU [7]. Lý luận về địa điểm (Place). Lý luận hình nền (Figure-Ground). Lý luận liên hệ (Linkage).
PHÂN TÍCH ĐẶC TRƯNG CỦA THIẾT KẾ ĐÔ THỊ[7]. Định hướng không gian. Định hướng thời gian. Con người và môi trường cảnh quan.
Đặc trưng đa thân chủ. Mang tính chất chỉ đạo. PHÂN TÍCH NHÂN TỐ CẤU THÀNH HÌNH ẢNH ĐÔ THỊ [7]. PHÂN TÍCH NHÂN TỐ CỦA THIẾT KẾ ĐÔ THỊ [7].
Hình thức và tầm vóc kiến trúc. Chức năng sử dụng đất. Không gian công cộng. Hoạt động sử dụng.
Giao thông và chỗ để xe. Bảo tồn và tôn tạo. Tiêu chí và kí hiệu. PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CỦA THIẾT KẾ ĐÔ THỊ [7].
Đặc trưng công trình kiến trúc. Trải nghiệp đường phố. Sự biểu đạt của công trình kiến trúc. Tiếp cân công trình kiến trúc.
CẢNH QUAN VÀ KHÔNG GIAN ĐÔ THỊ. NỘI DUNG HỒ SƠ ĐỒ ÁN QUY HOẠCH CHI TIẾT. HỆ THỐNG TÀI LIỆU THAM KHẢO.62 4 Mục lục hình ảnh Hình 1: Bản đồ quy hoạch đường sắt đô thị Hà Nội.14 Hình 2: Vị trí ga C8 và V6 thuộc tuyến ĐSĐT số 1 và 2 của Thành phố Hà Nội [8].15 Hình 3: Ga Hàng Đậu (C8) [5].16 Hình 4: Ga Nam Long Biên (V6) [5].17 Hình 5: Vị trí ga C8 và V6 [6].18 Hình 6: Vị trí TP Hà Nội trong khu vực.20 Hình 7: Mối liên hệ vùng của khu vực nghiên cứu.21 Hình 8: Hình minh họa các giai đoạn lịch sử.23 Hình 9: Bản đồ quy hoạch sử dụng đất khu vực nghiên cứu.24 Hình 10: Bản đồ chỉ giới đường đỏ khu vực nghiên cứu.25 Hình 11: Hình ảnh nhà ở khu vực nghiên cứu.25 Hình 12: Hình ảnh một số hộ kinh doanh.26 Hình 13: Hỉnh ảnh bia nước Hàng Đậu.27 Hình 14: Hình ảnh cửa sổ của Bốt Hàng Đậu.28 Hình 15: Cửa sổ bịt kín Bốt Hàng Đậu.30 Hình 16: Bản đồ thể hiện kết nối điểm giữa ga Hàng Đậu và ga Nam Long Biên.31 Hình 17: Hình ảnh mặt cắt đứng công trình kiến trúc.32 Hình 18: Vị trí ga C8 và V6 thuộc tuyến ĐSĐT số 1 và 2 của Thành phố Hà Nội.33 Hình 19: Hình ảnh Bốt Hàng Đậu chiều thu.36 Hình 20: Bản đồ thể hiện các chức năng sử dụng đất.37 Hình 21: Hình ảnh Bốt Hàng Đậu qua các giai đoạn lịch sử.38 Hình 22: Mặt cắt công trình kiến trúc thể hiện chiều cao công trình.38 Hình 23: Bản đồ vệ tinh hình ảnh khu vực ga Hàng Đậu.41 Hình 24:Một số hình ảnh biển quảng cáo tại khu vực nghiên cứu.42 Hình 25: Vị trí các nhà ga trên tuyến đường sắt đô thị.43 Hình 26: Khuôn viên vườn Hoa Vạn Xuân.44 5 Hình 27: Tượng đài ở vườn Hoa Vạn Xuân.44 Hình 28: Bản đồ thể hiện các tuyến giao thông khu vực ga Hàng Đậu.47 Hình 29: Bản đồ thể hiện chức năng của khu vực.47 Hình 30: Bản đồ quy hoạch sử dụng đất.50 Hình 31: Tượng đài ở Vườn hoa Vạn Xuân.53 Hình 33: Hình ảnh Bốt Hàng Đậu về đêm.54 Hình 34: Hình ảnh biển quảng cáo, kí hiệu cho khu vực.55 Hình 35: Hình ảnh đi bộ về đêm.56 Hình 36: Bốt nước Hàng Đậu.57 Hình 37: Bốt nước Hàng Đậu về đêm.57 Hình 38: Hình ảnh phố Phùng Hưng.60 Hình 39: Hình ảnh nút giao 6 phố tại Bốt Hàng Đậu.60 Hình 40: Bốt Hàng Đậu qua các thời kì.62 Hình 41: Bức tranh trên khu phố Phùng Hưng. GIỚI THIỆU MÔN HỌC THIẾT KẾ ĐÔ THỊ.
KHÁI NIỆM VỀ MÔN HỌC. Đô thị là tổng thể không gian gồm các yếu tố tự nhiên và nhân tạo, vật thể và phi vật thể, mang nội dung kinh tế, kỹ thuật (công năng), văn hoá tinh thần ( mỹ quan). Từ khi con người có ý thức xây dựng không gian cư trú của mình ( đô thị, điểm dân cư) thì từ đó xuất hiện thiết kế đô thị. Cho đến nay, nhận thức về TKĐT trên thế giới nói chung vẫn chưa thống nhất, có 3 cách hiểu về TKĐT là: - Thứ nhất: thiết kế đô thị là nghệ thuật tổ chức không gian đô thị, "nghệ thuật tạo lập và bảo tồn môi trường vật thể đô thị"; " nghệ thuật thiết kế mọi thứ vật thể thuộc về đô thị, trừ các công trình kiến trúc, xây dựng" (Jonathan Barnett, M.
- Nhóm quan điểm thứ hai nhìn nhận TKĐT là qui trình, phương pháp thiết kế độc lập tách biệt vừa là cầu nối giữa với QHXD và thiết kế kiến trúc, có đối tượng là tổng thể đô thị hoặc khu đô thị; là thiết kế chi tiết xây dựng các tổng thể kiến trúc đô thị. - Cách hiểu thứ ba coi thiết kế đô thị là mục tiêu vừa là nội dung có tính xuyên suốt, thuộc về phạm trù quy hoạch xây dựng đô thị, gắn với quá trình xây dựng và phát triển đô thị. TKĐT là trình tự, phương pháp vừa là sản phẩm của nghệ thuật tổ chức không gian đô thị. Xuất phát từ quan điểm đô thị là tổng thể thống nhất được hình thành từ các yếu tố tự nhiên và nhân tạo, mang nội hàm công năng, kinh tế, kỹ thuật và văn hoá tinh thần, có thể hiểu thiết kế đô thị là nội dung có tính xuyên suốt của QHXD đô thị, với mục tiêu chủ yếu là tạo lập không gian đô thị vừa bảo đảm công năng có 7 chất lượng thẩm mỹ, nghệ thuật hợp lý, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của đô thị, đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ, văn hoá tinh thần của dân cư đô thị.
- Thiết kế đô thị vừa là mục tiêu của QHXD; - Là nội dung của QHXD; - Là Qui trình thiết kế của QHXD; - Thiết kế đô thị là cầu nối giữa QHXD và KT; - Cơ sở cho thiết kế kiến trúc về các mặt: tính chất, vị trí, hình thái, không gian màu sắc, phong cách, v.của công trình kiến trúc phù hợp với KTCQ khu vực. ĐỐI TƯỢNG THIẾT KẾ. - Đối tượng của thiết kế đô thị là toàn bộ không gian ngoài công trình theo 3 cấp độ: Quy mô vùng lãnh thổ: tổ chức không gian cảnh quan, xác định các vùng chức năng và đặc thù cảnh quan vùng gồm các khu đô thị, dân cư nông thôn, khu công nghiệp, các khu du lịch nghỉ mát, khu di tích văn hoá, lịch sử, danh lam thắng cảnh, các khu sản xuất nông nghiệp, trồng rừng, hệ thống các đầu mối cơ sở hạ tầng, hành lang kỹ thuật, khu độc hại, các khu vực đặc biệt khác; các yếu tố cảnh quan thiên nhiên, nhân tạo chủ yếu tạo lập cảnh quan vùng. - Quy mô tổng thể đô thị, bố cục hệ thống không gian các khu chức năng đô thị, các yếu tố chủ yếu tạo lập không gian KT cảnh quan đô thị: các khu chức năng khu công nghiệp, kho tàng, bến bãi, khu dân cư, các trung tâm hành chính, thương mại, dịch vụ, trung tâm chuyên ngành, cơ quan, các khu cây xanh, di tích, danh thắng, các khu có công trình đầu mối hạ tầng, khu quân sự và khu đặc biệt khác; bố cục hình thái, không gian kiến trúc chủ đạo của đô thị như quảng trường, đường phố chính, trục bố cục KG, cảnh quan, nhóm công trình KT chủ đạo vv.
- Quy mô khu vực: được áp dụng cho một khu chức năng, một trục đường, quảng trường, không gian trống công cộng của đô thị nhằm cụ thể hoá các quy định 8 của quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết về mặt bố cục không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị. NGUỒN GỐC CỦA THIẾT KẾ ĐÔ THỊ. Thiết kế đô thị xuất hiện trong bối cảnh trào lưu đô thị hóa rầm rộ khắp Âu Mỹ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Có thể nói phần cốt lõi trong lịch sử của nó là từ khoảng 1920 đến 1970, và chia làm 3 giai đoạn theo 3 nhóm tác nhân, nhóm “Founders”, ”Pioneers” và “Developers”.
Ban đầu, vấn đề đặt ra là thiết kế một đô thị hoàn toàn mới. Có 2 trường phái chính, gốc từ châu Âu, một là kiểu cao ốc trong công viên, với mật độ tập trung cao, với liên hệ vùng rộng của CIAM và thứ hai là kiểu phân tán thành các đô thị vườn mật độ thấp và tương đối tự cung tự cấp của Anh. Sang đến Mỹ thời kỳ Hậu chiến, hai ý tưởng gốc này biến thái thành hai giải pháp cơ bản: Khu trung tâm đô thị đi bộ, mật độ cao và các “neighbourhood unit”. Cả hai giải pháp này đều đã có thời kỳ giữa bị coi là kém hiệu quả, nhưng gần đây lại hồi sinh thông qua New Urbanism.
Những mô hình duy ý chí kiểu quy chuẩn hiện đại ban đầu được áp dụng khắp nơi, sau này bị lên án, khi nhiều người bắt đầu nghiên cứu kỹ hơn các đặc trưng lịch sử, tự nhiên, kinh tế văn hóa cũng như tâm lý sống của cư dân từng khu đô thị. Người ta nhận thấy là đô thị là một thực thể nhiều chiều và phức tạp hơn nhiều so với những gì mô hình không gian hiện đại kia đề xuất. Từ việc quy hoạch mới cả đại đô thị, người ta chú trọng thiết kế từng góc nhỏ trong đô thị, cài đặt chúng một cách hữu cơ vào cấu trúc hiện hữu. Vấn đề quy trình thiết kế và vai trò của người thiết kế cũng được đặt lại.