Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN SÁCH Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954-1975 1. Một số thuật ngữ liên quan Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả nhận thấy cần phải làm rõ nội hàm của một số thuật ngữ sau đây liên quan đến hoạt động xuất bản sách nói chung và hoạt động xuất bản sách ở miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975. Ấn hành: In ra và phát hành. Ấn loát: In ấn sách báo nói chung.
Ấn phẩm: Sách, báo, tài liệu in ra. Ấn tống: In sách kinh để tặng hoặc bán. Bản chính: Bản xuất hiện đầu tiên, có sớm nhất, không phải do sao chụp lại, chép lại mà có (còn gọi là bản gốc). Bản kẽm: Khuôn in ti-pô dùng để in phục chế những hình minh họa, chế tạo bằng phương pháp thủ công, quang cơ hoặc điện cơ.
Bản nháp: Bản viết sơ, chưa hoàn chỉnh, còn phải tiếp tục sửa chữa hoặc chuyển sang để thành bản chính thức. Bản quyền: Quyền của tác giả hay nhà xuất bản (về một tác phẩm). Bản thảo: Bản đánh máy hoặc viết tay của một tác phẩm để đưa in. Biên dịch: Biên soạn và dịch sách nói chung.
Biên niên: Ghi chép sự việc, sự kiện theo thứ tự từng năm một. Biên soạn: Viết thành công trình, thành sách dựa trên các tài liệu đã thu thập, đã có. Biên tập: Tổ chức biên soạn, sửa sang nội dung và hình thức diễn đạt; tổ chức trình bày hình thức để hoàn thành bản thảo đưa in. Biên tập viên: Người làm công tác biên tập.
Bố cục: Tổ chức, sắp xếp một cách hợp lý giữa các phần để tạo thành một tác 9 phẩm hoàn chỉnh. Bông: Bản in thử để sửa cho đúng với bản thảo (sửa bông, sửa bông hai). Chỉnh lý: Sửa chữa, sắp xếp lại cho hợp lý, chính xác hơn (chỉnh lý tài liệu, chỉnh lý bản thảo). Chủ biên: Người đứng đầu nhóm tác giả biên soạn một công trình.
Giấy: Vật liệu làm thành tờ để viết, in ấn hoặc gói bọc. Giấy ảnh: Giấy dùng để in ảnh chụp hoặc in ảnh minh họa trong các cuốn sách. Hành văn: Cách đặt câu, dùng từ trong viết văn. Hồi kí: Thể văn ghi lại những điều đã trải qua hoặc chứng kiến.
In: Tạo ra nhiều bản chữ, tranh ảnh. In ấn: Vừa vặn, khớp đến mức không có chênh lệch, không có một khe hở nào. In li-tô: In bằng cách dập vào khuôn in là một phiến đá nhẵn mặt, trên đó viết, vẽ nội dung in bằng mực đặc. In ốp-xét: In do máy in quay, được thực hiện bởi một trục lăn bằng cao su chạy qua những chữ trên mặt tấm kẽm hoặc nhôm rồi in mực lên giấy (kỹ thuật in ốp-xét).
In-rô-nê-ô: In bằng cách rập vào khuôn in là một trục tẩm mực có giấy ráp đánh máy hoặc vết thủng. Kí: Thể văn tự sự viết về người thật, việc thật, trung thành với hiện thực, thường có tính thời sự. Lưu chiểu: Cơ quan nhà nước lưu giữ theo quy định một số bản của các ấn phẩm đã được phát hành. Nhà in: Nơi chuyên in ấn sách báo, tài liệu.
Nhà thơ: Người chuyên sáng tác thơ, có tài năng và có tác phẩm giá trị được thừa nhận. Nhà văn: Người chuyên sáng tác văn xuôi, có tài năng và có tác phẩm giá trị được thừa nhận. Nhà xuất bản: Cơ quan biên tập, xuất bản sách, báo, tranh ảnh. Phát hành: Đem bán hoặc phân phối tài liệu, sách báo.
Sách: Tập hợp gồm những tờ giấy có chữ in với nội dung nào đó, đóng góp lại thành quyển. Sách công cụ: Sách chuyên dùng để tra cứu. Sách giáo khoa: Sách soạn theo chương trình để dạy và học trong nhà trường phổ thông. Sách đỏ: Sách do nhà nước công bố để khuyến cáo, ngăn cấm sự xâm phạm đến đối tượng, phạm vi nào 10 đó, có bìa đỏ.
Sách đen: Sách do chính phủ hay bộ ngoại giao công bố trước dư luận quốc tế những tội ác, những xâm phạm của nước khác đối với đất nước, nhân dân của mình, thường có bìa đen (Ngoài ra, sách đen còn mang nghĩa khác là sách có nội dung độc hại). Sách trắng: Sách do chính phủ hay bộ ngoại giao công bố trước dư luận quốc tế về những tội ác, những xâm phạm của nước khác đối với đất nước, nhân dân của mình, thường có bìa màu trắng. Tác gia: Người viết ra những tác phẩm văn nghệ hay công trình khoa học có tiếng. Tác giả: Người viết ra một tác phẩm văn nghệ hay công trình khoa học nào đó.
Tác phẩm: Công trình do nghệ sĩ, các nhà văn hóa, khoa học tạo nên. Tái bản: In lại cuốn sách. Thơ: Hình thức nghệ thuật dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh, có nhịp điệu, vần điệu để thể hiện ý tưởng và cảm xúc của tác giả một cách hàm súc. Thơ ca: Các sáng tác văn học bằng văn vần.
Tiểu thuyết: Truyện dài bằng văn xuôi có dung lượng khá lớn, phản ánh những phạm vi lịch sử, xã hội rộng lớn. Trang: Từng mặt của tờ giấy trong sách, báo, vở. Truyện: Tác phẩm văn học kể chuyện bằng hình tượng, bằng hư cấu nghệ thuật. Truyện dài: Truyện bằng văn xuôi có dung lượng lớn, miêu tả nhiều nhân vật với hàng loạt sự kiện khác nhau trong một phạm vi không gian và thời gian tương đối lớn.
Truyện kí: Truyện ghi lại đời sống và sự nghiệp của một người nổi tiếng trong lịch sử, trong xã hội. Truyện ngắn: Truyện bằng văn xuôi, có dung lượng nhỏ, miêu tả những khía cạnh nhất định trong cuộc đời của nhân vật. Tùy bút: Thể kí ghi lại một cách tương đối tự do cảm nghĩ của người viết trong sự kết hợp nhuần nhuyễn với việc phản ảnh thực tế khách quan. Xuất bản: Chuẩn bị bản thảo rồi in ra thành sách, báo, tranh ảnh và phát hành.
Xuất bản phẩm: Ấn phẩm xuất bản nói chung [15, tr. Những nhân tố tác động 1. Hoạt động xuất bản sách ở miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1945-1954 Trong lịch sử xã hội loài người, kể từ khi chữ viết được sử dụng để giao tiếp, lưu 11 giữ, lan truyền các mối quan hệ xã hội, kinh nghiệm cuộc sống, duy trì đạo lý gia phong…thì hoạt động xuất bản sách cũng manh nha xuất hiện. Đến xã hội hiện đại, khi sách chính thức trở thành phương tiện, công cụ truyền bá các giá trị văn hóa, phổ biến kiến thức, nâng cao dân trí, duy trì sự ổn định xã hội.
thì hoạt động xuất bản đã hiện hữu đầy đủ các công đoạn xuất bản, in và phát hành. Ở Việt Nam, trong nửa đầu thế kỷ XX, hoạt động xuất bản sách đã có những bước tiến cơ bản. “Năm 1922, trong số 199 đầu sách có 147 cuốn tiếng Việt và 52 cuốn tiếng Pháp. Năm 1923 con số đó đã là 245 (147 tiếng Việt, 98 tiếng Pháp).
Năm 1924 tăng vọt lên 355 cuốn với 198 cuốn tiếng Việt, 157 cuốn tiếng Pháp”[36, tr. Tuy nhiên, dưới sự cai trị của thực dân Pháp, chính quyền sử dụng chính sách “ngu dân” để quản lý xã hội nên hoạt động xuất bản sách bị kìm kẹp, kiểm duyệt chặt chẽ. Nội dung sách tập trung ca ngợi “nước mẹ Đại Pháp”, công cuộc khai hóa thuộc địa, tuyên truyền chính sách của nhà nước phong kiến nửa thực dân. Trên phạm vi thế giới, đầu năm 1945, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai có nhiều thay đổi về cục diện với lợi thế nghiêng về phe Đồng minh.
Ngày 9 tháng 5 năm 1945, Hồng quân Liên Xô và các nước Đồng minh đã đánh đến sào huyệt của phát xít Đức, buộc quân Đức đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh kết thúc ở châu Âu. Ngày 8 tháng 8 năm 1945, Hồng quân Liên Xô tiến công quân đội phát xít Nhật, đến ngày 14 tháng 8 năm 1945 quân Nhật đầu hàng vô điều kiện. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Phong trào đấu tranh dân tộc trở thành một trong ba “dòng thác cách mạng” trên thế giới.
Nhiều nước thuộc địa sau nhiều năm bị đế quốc, thực dân xâm lược đã vùng lên đấu tranh giành quyền độc lập cho dân tộc mình như Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung-ga-ri… Tình hình trong nước, những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến, tư sản đều bị thực dân Pháp lần lượt đàn áp,“nhấn chìm trong biển máu”. Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, Đảng lấy học thuyết Chủ nghĩa Mác Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động, đây là một học thuyết tiên tiến phù hợp với xu thế của thời đại và nguyện vọng của toàn dân tộc Việt Nam. Vì vậy, chỉ sau 15 năm được thành lập với khoảng 5 nghìn đảng viên, Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 10 năm 1930 đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương) đã lãnh đạo toàn dân Việt Nam đứng lên giành độc lập độc lập dân 12 tộc, thống nhất Tổ quốc. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công.
Theo thoả thuận của Hội nghị Potsdam được tổ chức từ ngày 17 tháng 7 năm 1945 đến ngày 2 tháng 8 năm 1945 tại ngoại ô Beclin (Đức) về việc phân chia lại trật tự thế giới sau thế chiến lần thứ hai, quân đội Anh và Tưởng sẽ vào Việt Nam để giải giáp khí giới của quân đội Nhật. Tranh thủ thời cơ khi quân Đồng minh chưa tới, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và toàn thể thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á. Ngay sau khi ra đời, ngày 3 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chỉnh phủ lâm thời ban bố những việc cần làm ngay của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó có nội dung diệt giặc dốt. “Vấn đề thứ hai, nạn dốt-Là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta.
Hơn chín mươi phần trăm đồng bào chúng ta mù chữ. Nhưng chỉ cần ba tháng là đủ để học đọc, học viết tiếng nước ta theo vần quốc ngữ. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ” [39, tr.
Chấp hành chủ trương của Chính phủ, hoạt động xuất bản sách đã kịp thời hỗ trợ chiến dịch “bình dân học vụ”. Trước hết, Hội truyền bá quốc ngữ đã biên soạn lại cuốn “Vần quốc ngữ”, do Nha bình dân học vụ trực tiếp xuất bản vào cuối năm 1945.