CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HIỆN TƯỢNG EPIPHANY VÀ “NGƯỜI DUBLIN” CỦA JAMES JOYCE 1. Epiphany- từ tôn giáo đến nghệ thuật. Epiphany vốn có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp cổ “epiphaneia” được hiểu là biểu hiện hay ấn tượng trước một sự đột hiện, nó còn có nghĩa là một hiện tượng của cảm giác, ý thức, sự đột ngột hiểu, nắm bắt được bản chất, ý nghĩa của một đối tượng. Giống như trong trò chơi ghép hình (Jigsaw puzzle), khi mà người chơi đã gắn mảnh ghép cuối cùng vào, thế là toàn bộ bức tranh hiện ra rõ ràng, đầy đủ hay một thông tin nhỏ không đáng kể lại bỗng làm hiện ra bản chất sâu xa, huyền bí của hiện tượng.
Trong Kitô giáo, epiphany là hiện tượng liên quan đến một thời điểm, thời điểm Chúa Jêsu “tỏ mình”, tức là biểu lộ Thiên tính trước sự chiêm ngưỡng, bái vọng của ba nhà đạo sĩ phương Đông, những người đầu tiên đến với Người. Tự điển thuật ngữ thần học mục epiphany chú giải: _Hiển linh: epiphaneia: sự xuất hiện, tỏ ra a. Những lần tỏ hiện của các thần linh trong Thánh Kinh b. Lễ Hiển Linh, lễ Ba Vua, mừng vào ngày 6 tháng giêng (hoặc chúa nhật tiếp đó) tưởng niệm biến cố Thiên Chúa “tỏ mình” cho dân ngoại qua việc ba nhà đạo sĩ đến thờ lạy Chúa Hài Đồng.
Các giáo hội phương Đông mừng ba biến cố “tỏ hiện” của chúa Giêsu: tỏ hiện cho ba nhà đạo sĩ, tỏ hiện ở sông Giodan khi lãnh phép rửa và tỏ hiện tại tiệc cưới Cana.[52,98] Ngày 6 tháng 1, mười hai ngày sau khi Chúa giáng sinh, ba nhà đạo sĩ phương Đông (các nhà trí thức ở vùng Babilon, phía đông xứ Palestin) đi theo một ngôi sao dẫn đường đến vùng Bethlehem, tỉnh Juda, đất nước Do Thái để dâng quà mừng Chúa hài đồng. Lúc bấy giờ, đất nước Do Thái chịu sự thống trị của đế quốc La Mã, nhân dân sống trong cuộc sống nô lệ tối tăm. Tiên tri Isaia tiên đoán Đấng cứu thế sẽ xuất hiện và thành Giêrusalem của Do Thái sẽ thành trung tâm ánh sáng. Vào ngày con Chúa giáng sinh làm người, ánh sáng sẽ xuất hiện trên bầu trời Giêrusalem.
Sự việc đã xảy ra đúng như lời tiên tri, một ngôi sao sáng xuất hiện trên bầu trời nhưng các thượng tế và luật sĩ, những người lo việc tư tế của thành Jerusalem lại không quan tâm và nhân dân trong thành vẫn không hề hay biết Đấng cứu thế, vị “Vua của dân Do Thái” đã giáng sinh. Các nhà đạo sĩ thông tuệ ở phương Đông đã quan sát được ánh sao sáng tượng trưng cho dấu hiệu chào đời của con Thiên Chúa. Họ đã làm một cuộc hành trình vượt qua nhiều khó khăn để đến bái lạy Chúa. Cuộc hành trình không hề suôn sẻ vì có nhiều lúc ánh sao chỉ đường đột ngột biến mất nhưng nhờ lòng tin và sự kiên trì của họ mà ngôi sao lại hiện ra.
Ánh sao đó về sau trong thần học Kitô giáo gọi là Ánh Sáng Tin Mừng. Tương truyền, việc Đấng cứu thế được sinh ra đã có nhiều tín hiệu như những lời tiên tri trong các quyển Kinh Thánh có từ nhiều thế kỉ trước, ngôi sao mới xuất hiện trên bầu trời và khi Chúa hài đồng ra đời còn có một dàn đồng ca của các thiên thần Những dấu hiệu ấy, các nhà tư tế của Jerusalem đều biết. Nhưng Chúa không được sinh ra ở kinh thành giàu có, sang trọng mà sinh ra tại làng Bethlehem hẻo lánh, nghèo nàn và trong sự thờ ơ, không tìm đến của các nhà tư tế Do Thái. Chỉ có những nhà đạo sĩ ngoại đạo, từ xa xôi tìm đến với lòng thành kính chân thành mới là những người đầu tiên được chiêm bái Chúa.
Chúa được sinh ra giữa đêm đông giá rét và nằm trong máng cỏ, nơi các mục đồng trú tạm để canh giữ bầy gia súc. Các nhà đạo sĩ quì bái lạy một hài nhi bé nhỏ trong một bối cảnh đơn sơ như thế là vì họ đã có cái nhìn epiphany, cái nhìn mang tính thiên khải. Ba món quà mà họ mang theo cũng bày tỏ tấm lòng tôn sùng của họ trước Chúa.Đó là vàng, nhũ hương và mộc dược. Vàng tượng trưng cho uy quyền của vua chúa.
Khi dâng vàng cho Chúa Jesu, ba nhà đạo sĩ đã tôn xưng Ngài là Vua của thế gian, vua trên các vị vua. Nhũ hương tượng trưng cho thiên tính của Chúa hài đồng. Dâng nhũ hương, các nhà đạo sĩ đã xác tín Chúa hài đồng là Chúa Con, là Đấng Cứu Thế, đại diện cho Thiên Chúa (Chúa Trời- Chúa Cha). Mộc dược lại tượng trưng cho nhân tính của Chúa hài đồng.
Chúa tuy là con của Thiên Chúa nhưng cũng có nhân tính như con người, cũng sẽ phải trải qua cái chết để cứu chuộc cho tội lỗi của con người. Ngày 6 tháng 1 hàng năm trở thành ngày Lễ ba Vua để kỉ niệm sự kiện các nhà đạo sĩ đến bái lạy Chúa như trên đã trình bày.Vốn họ là ba nhà chiêm tinh, những nhà đạo sĩ thông thái nhưng họ đã trở thành biểu tượng cho tinh thần cao quí, một tinh thần khát khao chân lí, hướng đến cái thiện, điều lành bằng một lương tâm trong sáng nên đã được tôn xưng là Vua. Lễ ba Vua tượng trưng cho thiện chí tìm kiếm đức tin vì ba nhà đạo sĩ Babilon ấy là dân ngoại đạo, không biết những lời hứa của Thiên Chúa trong Kinh Thánh, không được các lời tiên tri dẫn đường, chỉ có ngôi sao của niềm tin đưa họ đến với Đấng cứu thế. Họ tìm đến với Chúa vì lòng tôn kính Chúa chứ không phải vì lợi ích của bản thân họ.
Sự cao quí đó khiến họ xứng đáng được tôn xưng. Về sau, lễ Ba Vua dần được gọi là Lễ Epiphany nhằm nhấn mạnh Hồng Ân Thiên Chúa. Thiện chí của các nhà đạo sĩ là một khởi đầu và Hồng Ân của Chúa là kết quả của cuộc hành trình. Những điều ấy sẽ còn mở ra nhiều epiphany khác cho toàn thể con người không phân biệt sắc tộc trên thế giới.
Epiphany theo tự điển thuật ngữ thần học có nghĩa là Hiển Linh[…] chỉ việc Chúa biểu lộ Thiên tính, Hồng Ân của mình cho con người và những người có đức tin, lòng kính Chúa sẽ được cứu chuộc. Ba nhà đạo sĩ phương Đông là những người ngoại đạo, từ nơi xa xôi đến, không phải là dân nước Chúa (Thánh Kinh gọi là dân ngoại). Vì vậy Lễ Hiển Linh được gọi là Lễ Giáng sinh của dân ngoại, là dịp Chúa biểu lộ Thiên tính của mình cho dân ngoại. Từ đó, Hồng Ân của Chúa không chỉ dành cho các tín đồ Kitô giáo mà là cho tất cả mọi người không phân biệt màu da, giai cấp, dân tộc.
Epiphany là thời điểm Chúa hiển linh trước sự mặc khải của mọi người. Từ đó trở thành một lễ quan trọng của Kitô giáo. Từ ngày 24 tháng 12 đến ngày 6 tháng 1 là mười hai ngày của một mùa Giáng Sinh. Lễ Epiphany còn là dịp để các tín đồ Kitô giáo bày tỏ sự sám hối cho các tội lỗi trong quá khứ khi quá thờ ơ, không mang ánh sáng Tin Mừng đến cho muôn dân, không quan tâm tìm Chúa mặc dù nhận được các điềm báo chỉ dẫn (dấu chỉ) sự ra đời của Chúa.
Vào dịp lễ Epiphany, các tín hữu Kitô giáo cũng bày tỏ tình thân ái và tình bằng hữu, bỏ đi sự cố chấp và các thành kiến, các mối bất hòa để trở nên thông cảm, gần gũi với nhau hơn. Trong thần học Kitô giáo, Epiphany ban đầu chỉ thời điểm Chúa Jesu hiển lộ thiên tính của mình trước các đạo sĩ phương Đông vào ngày 6 tháng 1. Sau này, Epiphany còn chỉ chung các hiện tượng Chúa hoặc các thánh biểu lộ sự linh thánh của mình cho con người nhận biết. Chẳng hạn, sự kiện Chúa nhận phép rửa tội ở sông Jordan.
Lúc bấy giờ, Chúa Jesu rời ngôi làng mà mình cư trú, bắt đầu lên đường thực hiện sứ mạng cứu thế. Chưa có ai nhận ra Người là Đức Chúa, chưa có ai thờ phụng Người. Khi Người đến sông Jordan thì Thánh Joan đang tiến hành phép rửa tội cho các tín đồ. Chúa cũng bước xuống dòng sông nhận phép rửa dù Người chưa bao giờ phạm một tội lỗi nào.
Thánh Joan bằng cái nhìn thông tuệ đã nhận ra Người nhưng Người bảo cứ để như thế vì đó là một trong những việc Chúa cần phải trải qua cùng với con người. Khi Chúa nhận xong phép rửa thì Chúa thánh thần trong biểu tượng chim bồ câu đã hiện ra trên đầu Người đồng thời Thiên Chúa từ trên trời cao phán truyền xác nhận Chúa Jesu chính là Con của Thiên Chúa, là Đấng cứu thế. Đó là một Epiphany cho tất cả tín đồ Thiên chúa có mặt tại sông Jordan lúc ấy. Một câu chuyện Chúa hiển linh khác cũng thường được nhắc đến trong các bài giảng vào dịp lễ Epiphany .Đó là câu chuyện Chúa hóa nước lã thành rượu tại tiệc cưới ở Cana.
Đây là lần đầu tiên Chúa biểu lộ quyền năng của mình trước các môn đệ và rất đông người dự tiệc cưới. Theo Kinh Thánh Tân Ước kể lại, Chúa cùng các môn đồ đi dự một tiệc cưới ở vùng Cana, tiệc cưới của một người họ hàng nên cả Mẹ Maria cũng tới dự. Do sự sơ sót của chủ nhà nên giữa lúc bữa tiệc đang tưng bừng thì hết rượu. Đối với gia chủ và đôi tân hôn thì đó là một sự xấu hổ, lúng túng.
Đức Mẹ Maria đã nhờ Chúa Jesu giúp đỡ gia đình ấy. Dù lúc này chưa tới giờ khắc Chúa biểu lộ sự linh thánh của mình nhưng vì vâng lời Mẹ, Chúa đã biến sáu chum nước lã thành sáu chum rượu ngon trước sự bất ngờ của mọi người. Đây được xem là lần biểu lộ quyền năng công khai đầu tiên của Chúa, một Epiphany khiến các môn đệ mới theo Người càng thêm tin tưởng, kính phục. Câu chuyện hiển linh tại tiệc cưới này mang một ý nghĩa giáo lí sâu sắc mà các linh mục thường giảng trong các dịp lễ Epiphany hoặc trong các buổi học giáo lí liên quan đến ý nghĩa thiêng liêng, bền chặt của hôn nhân, gia đình.
Sự kiện Chúa hiển linh tại tiệc cưới chứng minh mối quan tâm của Người tới một trong những vấn đề trọng đại nhất của con người- vấn đề hôn nhân. Kinh thánh Tân Ước cũng ghi lại rất nhiều trường hợp Chúa biểu lộ quyền năng để cứu giúp cpn người. Mỗi lần như vậy được xem là một Epiphany, tức một lần Chúa hiển linh. Cho đến ngày nay, các câu chuyện hiển linh của Chúa theo đức tin của các tín đồ Kitô giáo vẫn thường xuyên xảy ra ở khắp nơi trên thế giới.