Tìm Hiểu Hệ Thống Lưỡng Viện Trên Thế Giới

Tài liệu nghiên cứu Tìm hiểu hệ thống lưỡng viện trên thế giới, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp

2013

78
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔ HÌNH LƯỠNG VIỆN

1.1. Cơ sở lý luận chung về Nghị viện

1.1.1. Lịch sử hình thành Nghị viện

1.1.2. Khái niệm và đặc điểm Nghị viện

1.1.3. Các giai đoạn phát triển của Nghị viện

1.2. Lưỡng viện và cơ cấu tổ chức

1.2.1. Thượng viện

1.3. Thẩm quyền Nghị viện (lưỡng viện)

1.3.1. Thẩm quyền trong lĩnh vực lập pháp

1.3.2. Thẩm quyền trong lĩnh vực ngân sách và tài chính

1.3.3. Thẩm quyền trong lĩnh vực đối ngoại và phòng thủ quốc gia

1.3.4. Thẩm quyền trong lĩnh vực tư pháp

1.3.5. Thẩm quyền trong lĩnh vực giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước

1.4. Thủ tục hoạt động của lưỡng viện

1.4.1. Thủ tục tiến hành kỳ họp của Nghị viện (Session)

1.4.2. Thủ tục lập pháp

1.4.3. Thủ tục giám sát (Supervision)

2. CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG LƯỠNG VIỆN CỦA MỘT SỐ NHÀ NƯỚC ĐIỂN HÌNH

2.1. Nhà nước quân chủ đại nghị Anh

2.1.1. Quá trình hình thành lưỡng viện

2.1.2. Cơ cấu tổ chức của lưỡng viện

2.1.3. Quy trình lập pháp của lưỡng viện

2.1.4. Mối quan hệ giữa lưỡng viện với nhánh hành pháp, tư pháp

2.2. Nhà nước tư sản Hoa Kỳ

2.2.1. Lịch sử hình thành lưỡng viện

2.2.2. Cơ cấu tổ chức của lưỡng viện

2.2.3. Quy trình lập pháp của lưỡng viện

2.2.4. Mối quan hệ giữa lưỡng viện với nhánh hành pháp, tư pháp

2.3. Nhà nước Cộng hòa Pháp

2.3.1. Lịch sử hình thành lưỡng viện

2.3.2. Cơ cấu tổ chức của lưỡng viện

2.3.3. Quá trình lập pháp của lưỡng viện

2.3.4. Mối quan hệ giữa lưỡng viện với nhánh hành pháp, tư pháp

2.4. Một số nhận xét về mô hình lưỡng viện

2.4.1. Nhược điểm

KẾT LUẬN

DANH MỤC THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám Phá Hệ Thống Lưỡng Viện Tổng Quan và Ý Nghĩa

Hệ thống lưỡng viện là một trong những mô hình tổ chức Nghị viện phổ biến trên thế giới. Mô hình này không chỉ phản ánh sự phân chia quyền lực mà còn thể hiện sự đại diện của các tầng lớp xã hội trong quá trình lập pháp. Hệ thống lưỡng viện thường bao gồm hai viện: viện thấp và viện cao, mỗi viện có chức năng và quyền hạn riêng biệt. Điều này giúp đảm bảo sự cân bằng và kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực trong nhà nước.

1.1. Khái Niệm và Đặc Điểm Của Hệ Thống Lưỡng Viện

Hệ thống lưỡng viện được định nghĩa là mô hình Nghị viện có hai viện hoạt động song song. Viện thấp thường đại diện cho nhân dân, trong khi viện cao thường đại diện cho các tầng lớp xã hội khác. Sự phân chia này giúp tăng cường tính đại diện và giảm thiểu khả năng lạm dụng quyền lực.

1.2. Lịch Sử Hình Thành Hệ Thống Lưỡng Viện Trên Thế Giới

Hệ thống lưỡng viện đã xuất hiện từ rất sớm, với những tiền thân như Hội đồng 400 người ở Aten và Viện nguyên lão ở La Mã. Sự phát triển của mô hình này gắn liền với sự ra đời của nhà nước tư sản và các cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu.

II. Những Vấn Đề Thách Thức Trong Hệ Thống Lưỡng Viện

Mặc dù hệ thống lưỡng viện mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng không thiếu những thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự chồng chéo quyền lực giữa hai viện, có thể dẫn đến xung đột và trì trệ trong quá trình lập pháp. Ngoài ra, sự phân chia này cũng có thể gây khó khăn trong việc đạt được sự đồng thuận giữa các bên.

2.1. Xung Đột Giữa Hai Viện Nguyên Nhân và Hệ Quả

Xung đột giữa hai viện có thể xảy ra do sự khác biệt trong quan điểm chính trị và lợi ích của các nhóm xã hội. Điều này có thể dẫn đến tình trạng trì trệ trong việc thông qua các đạo luật quan trọng.

2.2. Tác Động Của Hệ Thống Lưỡng Viện Đến Quy Trình Lập Pháp

Hệ thống lưỡng viện có thể làm phức tạp quy trình lập pháp, khi mà các dự luật cần phải được thông qua bởi cả hai viện. Điều này có thể làm chậm tiến độ và gây khó khăn trong việc đáp ứng nhanh chóng các vấn đề xã hội.

III. Phương Pháp Tối Ưu Hóa Hoạt Động Của Hệ Thống Lưỡng Viện

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống lưỡng viện, cần áp dụng một số phương pháp như cải cách quy trình lập pháp, tăng cường sự phối hợp giữa hai viện và nâng cao tính minh bạch trong hoạt động của Nghị viện. Những cải cách này sẽ giúp giảm thiểu xung đột và tăng cường sự đồng thuận.

3.1. Cải Cách Quy Trình Lập Pháp Hướng Đi Mới

Cải cách quy trình lập pháp có thể bao gồm việc đơn giản hóa các bước cần thiết để thông qua một dự luật, từ đó rút ngắn thời gian và tăng cường tính hiệu quả.

3.2. Tăng Cường Sự Phối Hợp Giữa Hai Viện

Việc thiết lập các cơ chế phối hợp giữa hai viện sẽ giúp giảm thiểu xung đột và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thông qua các đạo luật quan trọng.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Hệ Thống Lưỡng Viện Trong Các Quốc Gia

Hệ thống lưỡng viện đã được áp dụng thành công ở nhiều quốc gia như Mỹ, Anh và Pháp. Mỗi quốc gia có những đặc điểm riêng trong cách thức hoạt động của hệ thống này, nhưng đều hướng tới mục tiêu đảm bảo sự đại diện và kiểm soát quyền lực.

4.1. Hệ Thống Lưỡng Viện Tại Mỹ Đặc Điểm và Thực Trạng

Hệ thống lưỡng viện tại Mỹ bao gồm Thượng viện và Hạ viện, mỗi viện có vai trò và quyền hạn riêng. Sự phân chia này giúp đảm bảo tính đại diện cho các bang và tầng lớp xã hội khác nhau.

4.2. Hệ Thống Lưỡng Viện Tại Anh Lịch Sử và Hiện Tại

Hệ thống lưỡng viện tại Anh bao gồm Hạ viện và Thượng viện, với vai trò quan trọng trong việc lập pháp và giám sát hoạt động của chính phủ. Sự phát triển của hệ thống này gắn liền với lịch sử chính trị của nước Anh.

V. Kết Luận Tương Lai Của Hệ Thống Lưỡng Viện Trên Thế Giới

Hệ thống lưỡng viện vẫn tiếp tục là một phần quan trọng trong tổ chức bộ máy nhà nước ở nhiều quốc gia. Tương lai của mô hình này phụ thuộc vào khả năng thích ứng với những thay đổi trong xã hội và chính trị. Việc cải cách và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống lưỡng viện sẽ là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững của nền dân chủ.

5.1. Xu Hướng Phát Triển Hệ Thống Lưỡng Viện Trong Tương Lai

Xu hướng phát triển hệ thống lưỡng viện sẽ tập trung vào việc cải cách quy trình lập pháp và tăng cường sự tham gia của người dân trong các quyết định chính trị.

5.2. Những Thách Thức Cần Đối Mặt Để Đảm Bảo Tính Hiệu Quả

Để đảm bảo tính hiệu quả của hệ thống lưỡng viện, cần phải đối mặt với những thách thức như xung đột quyền lực và sự thiếu đồng thuận giữa các bên.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/07/2025
Tìm hiểu hệ thống lưỡng viện trên thế giới

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu thời kỳ lịch sử cận đại thế giới, thời kỳ phát sinh, phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa"8. Sang thế kỷ XVIII, cách mạng tư sản liên tiếp nổ ra ở nhiều nước, nhưng tới hai cuộc cách mạng Pháp và Mỹ thì nền dân chủ tư sản mới được phát triển đến đỉnh cao nhất của nó9. Không khí cách mạng lan sang các nước Nhật, Tây Ban Nha, Đức làm cho các tầng lớp bị áp bức bóc lột trong xã hội nổi dậy đòi quyền lợivì thế giai cấp thống trị không thể kiểm soát xã hội được nữa. Tuy nhiên ở những nước này cách mạng tư sản không trực tiếp nổ ra mà thông qua các biện pháp thỏa hiệp giữa tầng lớp quý tộc phong kiến với giai cấp tư sản mới ra đời nhằm “ mở đường cho các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển, xây dựng nền quân chủ lập hiến, hoặc nền cộng hòa dân chủ tư sản nhờ đó giai cấp tư sản dần dần thâu tóm quyền lực nhà nước vào tay mình và nhà nước tư sản ra đời”10.

Các cuộc cách mạng tư sản diễn ra trực tiếp hay gián tiếp thì đều nhằm mục đích lật đổ chế độ phong kiến lạc hậu, lỗi thời, đưa giai cấp tư sản lên nằm chính quyền, xây dựng nên thượng tầng chính trị - pháp lý tư sản. Một kiểu nhà nước và pháp luật mới ra đời là nhà nước và pháp luật tư sản. “Nhà nước tư sản ra đời là hệ quả tất yếu của quátrình phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, là thành quả trực tiếp của cách mạng tư sản”11. 8 Giáo trình Lịch sử các học thuyết chính trị, Khoa Luật, ĐH Tổng hợp, Đại học Quốc gia Hà Nội, 1995, trang 154.

9 Phan Trọng Hòa – Lê Quốc Hùng, Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, NXB Hồng Đức, 2008, trang 187. 10 Thái Vĩnh Thắng, Nhà nước và pháp luật tư sản đương đại, NXB Tư pháp, 2010, trang 10. 11 Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 1997, trang 200. 4 Khi giành được chính quyền về tay mình, giai cấp tư sản ra sức củng cố quyền lực bằng cách xây dựng bộ máy nhà nước thật vững chắc thông qua việc hình thành nên các cơ quan thay mặt mình quản lý công việc của quốc gia, nhiệm vụ và quyền hạn của từng cơ quan được quy định rõ ràng trong Hiến pháp.

Cụ thể Hiến pháp trao quyền lập pháp cho Nghị viện, quyền hành pháp cho Chính phủ và quyền tư pháp cho Tòa án.Nhưng trong ba cơ quan trên thì Nghị viện có quyền hạn và ưu thế hơn hẳn, “Nghị viện có quyền làm được tất cả, chỉ trừ việc biến đàn ông thành đàn bà”12, Nghị viện là nơi thể chế hóa các quyết định chính trị quan trọng, biến ý chí của giai cấp tư sản thành pháp luậtnên vai trò của nó rất quan trọng.2 Khái niệm và đặc điểmNghị viện 1.1 Khái niệm Nghị viện theo tiếng Pháp là “parlement”, có gốc là “parle” có nghĩa là “nói, bình luận, cãi vã” hay theo nguồn gốc tiếng Latin là “parlare” có nghĩa là “nói”, “bàn luận”13. Mặc dù có lịch sử tồn tại lâu đời tuy nhiên cho đến nay Nghị viện vẫn là một khái niệm mở và có nhiều biến thể, do sự khác biệt về lịch sử xã hội, chính trị và kinh tế giữa các nước có Nghị viện nằm trong bộ máy nhà nước. Vì vậy, trên thực tế không có một định nghĩa cụ thể nào bao hàm được toàn bộ khái niệm Nghị viện. Để tìm hiểu về khái niệm này, phải đi từnguyên tắc phân chia quyền lực được xây dựng trên cơ sở học thuyết phân chia quyền lực (còn gọi là thuyết Tam quyền phân lập).

Người đề xướng học thuyết này là John Locke (1632- 1704) và người hoàn thiện nó là Charles Luis Montesquieu (1689- 1775). Học thuyết phân chia quyền lực được Montesquieu trình bày trong tác phẩm nổi tiếng “Tinh thần pháp luật” (De L’Esprit des lois) xuất bản năm 1748. Theo ông “quyền lực nhà nước gồm ba thứ quyền lực chủ yếu là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Nếu cả ba thứ quyền lực này tập trung trong tay một người hoặc một cơ quan sẽ tạo nên sự lạm dụng quyền lực, là nguyên 12 Nguyễn Đăng Dung – Bùi Xuân Đức, Luật Hiến pháp của các nước tư bản, NXB Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội,1993, trang 138.

13 Giáo trình Luật Hiến pháp nước ngoài, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 1999, trang 87. 5 nhân dẫn đến sự xâm phạm các quyền công dân và quyền con người”14. Thực tế này đặt ra yêu cầu phải tổ chức bộ máy nhà nước sao cho quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp được phân chia cho ba hệ thống cơ quan nhà nước khác nhau, độc lập với nhau, nhưng có thể kiềm chế, đối trọng và tương trợ lẫn nhau. Nghị viện là một trong ba cơ quan ấy, nắm quyền lập pháp, quyền hành pháp thuộc về Chính phủ và quyền tư pháp thuộc về các cơ quan Tòa án.

Nghị viện là cơ quan đại diện cao nhất của các tầng lớp dân cư trong xã hội tư sản được hình thành do bầu cử. Nghị viện không đơn giản là viện, mà nó đồng nghĩa với "nghị trường", nghĩa là cánh cửa mở vào chính trường. Ở đó người ta bàn đến những công việc hành pháp rồi thông qua những điều của luật pháp, liên quan trực tiếp đến đời sống của quốc gia. Ở một số nước, cơ quan lập pháp có tên gọi là Quốc hội.

Vậy Quốc hội và Nghị viện có phải là một?Cụm từ “Quốc hội” (Congress)thường được sử dụng trong hệ thống dân chủ Tổng thống, điển hình ở Mỹ và các nước Mỹ Latin. Còn khái niệm Nghị viện(Parliament) được sử dụng trong hệ thống dân chủ Nghị viện như ở Anh và các quốc gia đã từng là thuộc địa của Anh. Sự khác nhau lớn nhất giữa quốc hội và Nghị viện chính là mối quan hệ giữa chúng với nhánh hành pháp (executive). Nếu như trong Nghị viện (Nghị viện Anh), người dân bầu các đại biểu vào Nghị viện nhưng thực chất là bầu đảng nào sẽ chiếm được số ghế nhiều hơn vì “hệ thống đảng phái ở đây vô cùng sôi động và các đảng phái chính trị có vai trò vô cùng to lớn trong cơ chế thực thi quyền lực”15.

Thủ tướng là thành viên của Nghị viện, được bầu lên bởi đảng chiếm đa số ghế trong Nghị viện. Thủ tướng phải được sự ủng hộ của Nghị viện, nếu không sẽ bị lật đổ. Như vậy, Nghị việnchính là cơ quan tối cao chính thức và chỉ định cơ quan hành pháp, nên giữa hai cơ quan này có mối liên hệ với nhau và không có sự phân chia dứt khoát về thẩm quyền.Nghị viện là cơ quan lập pháp nhưng Chính phủ vẫn có sáng quyền lập pháp, 14 Montesquieu, Tinh thần pháp luật (Hoàng Thanh Đạm dịch), NXB Đà Nẵng, 2010, trang 103. 15 Tô Huy Rứa, Mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị một số nước trên thế giới, NXB Chính trị quốc gia, 2008, trang 86.

6 đặc biệt “ở những nước mà đảng chiếm đa số ghế đứng ra thành lập Chính phủ thì vai trò của Chính phủ trong hoạt động lập pháp ngày càng rõ ràng hơn”16. Còn đối với những nước theo chính thể cộng hòa Tổng thống, bầu cử Quốc hội và bầu cử Tổng thống là hai cuộc bầu cử riêng biệt. Bầu cử vào chức danh Tổng thống được xem là một cuộc chay đua giữa các ứng cử viên để giành từng lá phiếu của cử tri. Cử tri sẽ dựa vào tính cách, nghề nghiệp cũng như những kế hoạch tương lai của ứng cử viên đối với cử tri như thế nào để chọn ra người thích hợp nhất, không bị ảnh hưởng nhiều của các đảng phái chính trị.

Cơ quan hành pháp được xem là phân nhánh quyền lực tương đương và tồn tại riêng rẽ, độc lập với cơ quan lập pháp, giữa các cơ quan này có sự kiểm soát lẫn nhau trong việc thực hiện quyền lực của mình. Các nước theo mô hình cộng hòa Tổng thống phân chia quyền lực nhà nước một cách tuyệt đối nên “lập pháp không được quyền đứng ra thành lập hành pháp và hành pháp không cần chịu trách nhiệm trước lập pháp”17. Quốc hội hay Nghị việncũng đều là cơ quan lập pháp của các nước. Tùy vào hình thức chính thể của từng nước mà cơ quan lập pháp có tên gọi khác nhau nhưng tựu chung lại đều có nhiệm vụ là làm, thông qua và sửa đổi luật cho các quốc gia.

Theo thống kê, gần 200 nước trên thế giới thì có hơn 150 nước có Nghị viện cớ chức năng gần như tương tự với chức năng truyền thống của Nghị viện Anh quốc khi chúng mới ra đời là lập pháp18. Đề tài thống nhất gọi chung các cơ quan lập pháp ở các nước là Nghị viện. Dựa vào những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm sau: Nghị viện là cơ quan cao nhất trong bộ máy nhà nước có quyền lập pháp, có nhiệm vụ thông qua các đạo luật, giám sát hoạt động của các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước cùng một số quyền hạn khác. Nghị viện được bầu cử bằng nhiều hình thức, song điểm chung lớn nhất là sự đại diện cho ý chí, nguyên vọng của nhân dân thông qua kết quả bầu cử này.

16 Một số vấn đề cơ bản của Hiến pháp các nước trên thế giới, NXB Chính trị quốc gia, 2013, trang 162. 17 Đào Thị Thanh Thủy, Sự hình thành của lý thuyết phân chia quyền lực nhà nước, Tạp chí nhà nước số 9,2012, trang 48. 18 Nguyễn Đăng Dung, Một số vấn đề về Hiến pháp và bộ máy nhà nước, NXB Giao thông vận tải, 2001, trang 365.2 Đặc điểm Một là, Nghị viện là cơ quan đại diện cho quyền dân chủ của công dân và là thiết chế được hình thành bằng con đường bầu cử. Trong xã hội dân chủ thì bầu cử là quyền chính trị cơ bản của công dân19.

Bầu cử là việc cử tri bỏ phiếu lựa chọn người đại diện cho mình vào cơ quan quyền lực nhà nước, thể hiện quyền cơ bản của công dân khi tham gia xây dựng chính quyền nhân dân20. Bầu cử trực tiếp hoặc gián tiếp là cơ sở xác định thẩm quyền của cơ quan nhà nước. Về nguyên tắc, cơ quan nhà nước được nhân dân trực tiếp bầu ra bao giờ cũng có nhiều quyền hơn cơ quan được hình thành bằng phương pháp bầu cử gián tiếp. Hạ Nghị viện do nhân dân trực tiếp bầu ra theo quy định của nhiều nước bao giờ cũng có nhiều quyền hơn Thượng viện21.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ