CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN I.Tổng quan tình hình nghiên cứu Công nhân là một trong những tầng lớp giữ vai trò quan trọng không những đối với lịch sử dân tộc mà đây còn là lực lượng lao động chủ yếu có nhiều đóng góp to lớn cho kinh tế - chính trị - xã hội. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, công nhân đang là nguồn nhân lực chính phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH đất nước. Bởi vậy, công nhân trở thành khách thể nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa học như chủ nghĩa Xã hội Khoa học, Triết học và Xã hội học. Những vấn đề liên quan đến đời sống của công nhân đã được triển khai nghiên cứu từ lâu.
Tuy nhiên, cho đến hiện nay đời sống của công nhân vẫn là vấn đề nghiên cứu mới, mang tính chất thời đại bởi nó có liên quan mật thiết đến kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước. Sau đây là một số tổng quan về các đề tài, các bài viết nghiên cứu đời sống công nhân mà nhóm đã thu thập trong quá trình nghiên cứu của mình. Đề tài “Công nhân tỉnh Bình Dương với sự nghiệp công nghiệp hóa”, 2008 của Phạm Thị Thu Hương nhấn mạnh đến vai trò của công nhân trong quá trình CNH –HĐH đất nước và xây dựng CNXH. Đi sâu vào việc phân tích sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đối với ĐCSVN và sự thành công Cách mạng.
Tác giả khẳng định đẩy mạnh CNH – HĐH và giữ vững định hướng XHCN là nội dung cơ bản, là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay. Dù mức sống có cao hơn trước và công nhân có được tham gia quản lý thông qua đại biểu và hội đồng xí nghiệp theo “chế độ tham dự và chế độ ủy nhiệm” họ vẫn là người làm thuê, bán sức lao động, vẫn luôn là lực lượng sản xuất cơ bản, trực tiếp. Tác giả tiếp cận công nhân trên phương diện CNXH Khoa học – tính lịch sử và tính giai cấp được đánh giá cao, đề tài tập trung nói đến vai trò, sứ mệnh lịch sử của công nhân, nên đời sống vật chất của công nhân chưa được phân tích sâu. Tuy nhiên, đề tài cũng có thể là một trong những tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về công nhân.
Đề tài “Những nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề kết hôn của nữ công nhân nhập cư” (Nghiên cứu trường hợp nữ công nhân làm việc tại KCX Linh Trung, Quận Thủ Đức, TPHCM), năm 2009 của Nguyễn Thị Hồng Thủy. Đề tài này chỉ tiếp cận công 9 nhân ở khía cạnh của đời sống tinh thần đó là các quan hệ xã hội. Các quan hệ xã hội này chủ yếu là các đối tượng nam giới ảnh hưởng đến vấn đề kết hôn của nữ công nhân. Đây là một mảng nhỏ nằm trong mạng lưới xã hội rộng lớn ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của công nhân.
Các mối quan hệ thông qua trung gian – người thân, bạn bè, người quen biết cần có sự phân tích sâu hơn, bởi nó đóng một vai trò quan trọng trong con đường tiến tới hôn nhân của nữ công nhân nhập cư. Đa số các mối quan hệ dẫn đến hôn nhân của nữ công nhân đều do bạn bè giới thiệu chứ họ không quen trực tiếp. Tác giả Nguyễn Thị Hồng Thắm với đề tài “Mạng lưới xã hội của công nhân nhập cư ở KCN Việt Nam – Singapo”, năm 2009. Tác giả chủ yếu nói đến các đặc trưng của mạng lưới xã hội và cách sử dụng mạng lưới xã hội của công nhân nhập cư KCN Việt Nam – Singapo.
Đây là mảng nghiên cứu còn khá mới trong khoa học nhưng đã được tác giả phân tích khá cụ thể. Đề tài đã khái quát được toàn bộ các mối liên hệ, các mắt xích trong mạng lưới xã hội của công nhân nhập cư, bằng việc đề cập đến cả mạng lưới xã hội trước và sau khi di cư của công nhân. Với những luận cứ cụ thể, thuyết phục tác giả khẳng định mạng lưới xã hội chủ đạo của công nhân nhập cư chính là mối quan hệ với người thân ruột thịt, bà con họ hàng. Mục đích phân tích chủ yếu hướng vào các câu hỏi: Ai là người giúp đỡ công nhân trong cuộc sống hàng ngày? Hiện nay khi gặp khó khăn trong đời sống công nhân thường tìm đến ai? Sự khác biệt trong cách sử dụng mạng lưới xã hội giữa nam công nhân và nữ công nhân, giữa những người đã kết hôn và chưa kết hôn vẫn chưa được làm rõ.
Lê Thị Hồng Diệp trong nghiên cứu “Thực trạng đời sống văn hóa tinh thần ở các KCX – KCN hiện nay”, 2006 cho biết: Nhu cầu hưởng thụ văn hóa của công nhân ở đây khá thiếu thốn và đơn giản, phần đông công nhân sau giờ lao động chỉ biết đến ngủ và làm việc nhà. Chỉ một số ít là đến các khu vui chơi, công viên vào ngày nghỉ hoặc ngày cuối tuần. Ngoài việc đi thăm bạn bè, người thân, việc giải trí của công nhân chủ yếu là xem ti vi, đọc truyện hoặc đi mua sắm những vật dụng cần thiết. Tác giả cho biết: “nữ công nhân rất muốn tham gia các hoạt động vui chơi giải trí như: xem kịch, ca nhạc, đến vui chơi tại các khu du lịch (Suối Tiên, Đầm Sen.) nhưng với đồng lương ít ỏi của họ thì những mong muốn kia xem như 10 quá xa vời và hoang phí.
Còn đối với nam công nhân, do không có sân chơi lành mạnh để phục hồi sức khỏe sau những giờ làm việc nên họ thường chỉ “ngồi đồng nhậu nhẹt” để giảm Stress”. Đề tài tập trung phân tích đời sống tinh thần và những khó khăn khiến công nhân không có điều kiện tham gia các hoạt động vui chơi, chưa đề cập đến vấn đề nhà ở, nguồn thu nhập.v…của công nhân. Tạp chí Xã hội học số 2 (106), năm 2009 có bài “Công nhân nhập cư và việc tìm kiếm bạn đời” của tác giả Bùi Thị Thanh Hà. Tác giả đã phân tích sâu về những thuận lợi và khó khăn của công nhân trong việc tìm kiếm bạn đời, giúp người đọc hình dung rõ hơn về đời sống và việc làm hiện nay của công nhân tại Thủ đô Hà Nội.
Khi đề cập đến những khó khăn của công nhân nhập cư, tác giả phân tích sâu về áp lực kiếm tiền, quá trình làm “ca kíp”, thêm giờ,.v…khiến đa số công nhân không còn thời gian để giải trí, nâng cao văn hóa tinh thần cho bản thân. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra: có tới 80% công nhân không nghe đài, nghe nhạc, đọc báo; 81,5% công nhân không hoạt động thể dục thể thao. Tác giả cho rằng: thiếu tiền, thiếu sức khỏe, thiếu thời gian có ảnh hưởng nhiều nhất đến việc tìm kiếm bạn đời của công nhân nhập cư. Theo tác giả, việc tìm kiếm bạn đời của công nhân cũng tác động đến tâm trạng của họ và tạo ra những biến động về số lượng, chất lượng đội ngũ công nhân tại Thủ đô.
Bài viết tập trung đi sâu vào việc tìm kiếm bạn đời dựa trên những thuận lợi, khó khăn mà công nhân gặp phải trong cuộc sống. Mặc dù, đã nói lên được những khó khăn thiếu thốn trong đời sống tinh thần, nhưng do hướng nghiên cứu là vấn đề tìm kiếm bạn đời nên những khó khăn thiếu thốn này không có cách giải quyết. Hơn nữa, tên đề tài đề cập đến công nhân nhập cư nói chung, nhưng nội dung đề tài lại chủ yếu đề cập đến nữ công nhân mà nam công nhân thì ít quan tâm đến. Bài viết “Về đời sống văn hóa tinh thần của người lao động trong các KCX, KCN ở Thành phố HCM” của tác giả Trần Quang Thái, đăng trên tạp chí Đảng cộng sản, năm 2006.
Chỉ với bài viết ngắn tác giả đã khái quát được rất nhiều mặt về đời sống của công nhân: Các hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí và vấn đề nhà ở của công nhân. Viết về văn hóa nhưng tác giả không trực tiếp nói ngay đến đời sống văn hóa tinh thần của công nhân, mà lí giải từ đời sống vật chất của công nhân để rút ra kết luận về đời sống tinh thần của công nhân. “Sự tiến bộ của đời 11 sống vật chất tại các KCX, KCN không kéo theo sự phong phú đa dạng của đời sống văn hóa tinh thần”. Qua phân tích, tác giả nói lên rằng giữa vật chất và tinh thần có mâu thuẫn với nhau: “Người lao động có thu nhập ngày càng tương đối và ổn định, thì chất lượng cuộc sống ngày càng nghèo nàn”.
Trong bài viết này tác giả còn sử dụng một số đề tài để nói lên vấn đề xây dựng nhà ở cho công nhân như đề tài “Các giải pháp cải tiến môi trường đầu tư tại các KCX và KCN Thành phố HCM” do HEPZA xây dựng. Tác giả còn lý giải được tại sao vấn đề nhà văn hóa, trung tâm giải trí ít được các nhà đầu tư chú trọng: “Các nhà đầu tư thường không quan tâm đầu tư vào lĩnh vực văn hóa, xây dựng các thiết chế văn hóa tinh thần như: nhà lưu trú, rạp hát, công viên,.v…do lợi ích kinh tế thấp”. Tóm lại, chỉ mang tính chất một bài viết nhưng tác giả đã sử dụng rất nhiều nguồn tài liệu giúp người đọc hiểu hơn về đời sống công nhân. Tuy nhiên, đời sống văn hóa tinh thần là một trong những khái niệm khá trừu tượng nhưng khi viết tác giả lại không cho biết tiếp cận đời sống văn hóa tinh thần theo hướng nào? Nguyễn Văn Trịnh có bài viết “Nhà ở cho công nhân các Khu Công Nghiệp – thực trạng và một số giải pháp” in trên Tạp chí Cộng sản ngày 07/06/2007.
Bài viết nhấn mạnh “nhà ở và vấn đề đời sống của công nhân tại các KCN đang là một vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội. Nó là lĩnh vực đòi hỏi sớm có những quốc sách mang tầm chiến lược”. Trong bài viết tác giả đã chỉ ra được vị trí và thực trạng vấn đề nhà ở của công nhân tại các KCN: khi lực lượng lao động gia tăng tại các KCN thì vấn đề nhà ở đối với người lao động, đặc biệt là vấn đề nhà ở cho người lao động có mức thu nhập thấp, những người lao động nhập cư. Bài viết cũng tập trung phân tích những bất cập và bất hợp lý về vấn đề nhà ở tại các KCN: Đó là việc quy hoạch phát triển KCN chưa đồng bộ với quy hoạch nhà ở cho công nhân, chính quyền địa phương và các chủ đầu tư hạ tầng KCN, các doanh nghiệp chưa chú trọng tới việc đầu tư nhà ở cho công nhân thuê với giá thấp.