Tìm Hiểu Di Tích và Lễ Hội Đình Đẩu Sơn Quận Kiến An Hải Phòng Trong Đời Sống Văn Hóa

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp tìm hiểu di tích và lễ hội đinh đẩu sơn quận kiến an hải phòng trong đời sống văn hóa, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

73
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khám Phá Di Tích Lịch Sử Đình Đẩu Sơn Quận Kiến An

Di tích lịch sử Đình Đẩu Sơn nằm ở quận Kiến An, Hải Phòng, là một trong những điểm đến nổi bật trong hành trình khám phá văn hóa địa phương. Đình Đẩu Sơn không chỉ là nơi thờ cúng mà còn là biểu tượng văn hóa của người dân nơi đây. Với lịch sử lâu đời, di tích này mang trong mình nhiều giá trị văn hóa và tâm linh, phản ánh đời sống tinh thần của cộng đồng. Việc tìm hiểu về Đình Đẩu Sơn giúp hiểu rõ hơn về tín ngưỡng thờ cúng và các lễ hội truyền thống của người dân địa phương.

1.1. Tổng Quan Về Đình Đẩu Sơn và Vai Trò Của Nó

Đình Đẩu Sơn được xây dựng để thờ 5 vị Thành Hoàng, những người có công lớn trong lịch sử chống giặc ngoại xâm. Đình không chỉ là nơi thờ tự mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa của cộng đồng. Các hoạt động diễn ra tại đây thường xuyên thu hút đông đảo người dân tham gia.

1.2. Lịch Sử Hình Thành và Phát Triển Của Đình Đẩu Sơn

Di tích Đình Đẩu Sơn đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ khi được xây dựng cho đến nay. Qua các tài liệu lịch sử, có thể thấy rằng đình đã đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn văn hóa và truyền thống của người dân địa phương.

II. Những Thách Thức Trong Việc Bảo Tồn Di Tích Đình Đẩu Sơn

Mặc dù Đình Đẩu Sơn có giá trị văn hóa lớn, nhưng việc bảo tồn di tích này đang gặp nhiều thách thức. Sự phát triển đô thị hóa, biến đổi khí hậu và thiếu nguồn lực bảo tồn là những vấn đề chính. Những thách thức này không chỉ ảnh hưởng đến cấu trúc vật lý của di tích mà còn đến các giá trị văn hóa phi vật thể liên quan.

2.1. Ảnh Hưởng Của Đô Thị Hóa Đến Di Tích

Sự phát triển đô thị hóa nhanh chóng đã dẫn đến việc giảm không gian xanh và làm thay đổi cảnh quan xung quanh Đình Đẩu Sơn. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến vẻ đẹp tự nhiên mà còn làm giảm giá trị tâm linh của di tích.

2.2. Thiếu Nguồn Lực Bảo Tồn

Việc thiếu nguồn lực tài chính và nhân lực cho công tác bảo tồn di tích là một thách thức lớn. Nhiều hoạt động bảo tồn cần được thực hiện nhưng không có đủ kinh phí và chuyên gia để thực hiện.

III. Phương Pháp Bảo Tồn Di Tích Đình Đẩu Sơn Hiệu Quả

Để bảo tồn di tích Đình Đẩu Sơn, cần áp dụng các phương pháp bảo tồn hiện đại kết hợp với việc phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Các giải pháp này không chỉ giúp bảo vệ di tích mà còn nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị văn hóa của nó.

3.1. Ứng Dụng Công Nghệ Trong Bảo Tồn

Việc ứng dụng công nghệ trong bảo tồn di tích có thể giúp theo dõi tình trạng của di tích và thực hiện các biện pháp bảo vệ kịp thời. Công nghệ cũng có thể hỗ trợ trong việc lưu trữ và truyền tải thông tin về di tích đến cộng đồng.

3.2. Tăng Cường Giáo Dục và Nhận Thức Cộng Đồng

Giáo dục cộng đồng về giá trị văn hóa của Đình Đẩu Sơn là rất quan trọng. Các chương trình giáo dục có thể giúp nâng cao nhận thức và khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động bảo tồn.

IV. Lễ Hội Đình Đẩu Sơn Di Sản Văn Hóa Đặc Sắc

Lễ hội Đình Đẩu Sơn diễn ra hàng năm, thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia. Đây là dịp để tưởng nhớ các vị Thành Hoàng và cầu mong sự bình an cho cộng đồng. Lễ hội không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn là dịp để giao lưu văn hóa giữa các thế hệ.

4.1. Nội Dung và Ý Nghĩa Của Lễ Hội

Lễ hội bao gồm nhiều hoạt động phong phú như rước kiệu, dâng hương và các trò chơi dân gian. Những hoạt động này không chỉ mang tính giải trí mà còn thể hiện lòng biết ơn của người dân đối với các vị thần.

4.2. Sự Tham Gia Của Cộng Đồng Trong Lễ Hội

Sự tham gia của cộng đồng trong lễ hội Đình Đẩu Sơn thể hiện tinh thần đoàn kết và gắn bó giữa các thế hệ. Đây là dịp để mọi người cùng nhau ôn lại truyền thống và tạo ra những kỷ niệm đẹp.

V. Kết Luận Tương Lai Của Di Tích Đình Đẩu Sơn

Di tích Đình Đẩu Sơn không chỉ là một điểm đến du lịch mà còn là một phần quan trọng trong đời sống văn hóa của người dân địa phương. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của di tích này là trách nhiệm của toàn xã hội. Tương lai của Đình Đẩu Sơn phụ thuộc vào sự quan tâm và nỗ lực của cộng đồng trong việc gìn giữ di sản văn hóa này.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Việc Bảo Tồn Di Tích

Bảo tồn di tích Đình Đẩu Sơn không chỉ giúp gìn giữ lịch sử mà còn góp phần phát triển du lịch bền vững cho quận Kiến An. Di tích này có thể trở thành một điểm nhấn trong hành trình khám phá văn hóa Hải Phòng.

5.2. Hướng Đi Tương Lai Cho Đình Đẩu Sơn

Trong tương lai, cần có các chính sách hỗ trợ từ chính quyền và sự tham gia tích cực của cộng đồng để bảo tồn và phát huy giá trị của Đình Đẩu Sơn. Các hoạt động văn hóa, giáo dục và du lịch cần được phát triển đồng bộ để tạo ra một môi trường bền vững cho di tích.

15/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp tìm hiểu di tích và lễ hội đinh đẩu sơn quận kiến an hải phòng trong đời sống văn hóa của người dân địa phương

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1:Khái quát về tín ngưỡng thờ 5 vị Thành Hoàng làng của Đình Đẩu Sơn trong đời sống của người dân.Khái quát về tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng của người dân Việt Nam. Ở các làng xã nông thôn Việt Nam, Thành hoàng là một niềm tin thiêng liêng, một chỗ dựa tinh thần cho cộng đồng từ bao đời nay. Thờ cúng Thành hoàng cũng giống như thờ cúng tổ tiên, nó mang đậm dấu ấn tâm linh và thể hiện quan niệm “uống nước nhớ nguồn” của người dân Việt Nam Thuật ngữ Thành hoàng là một từ Hán Việt: “Thành hoàng có nghĩa là thành hào, hào có nước gọi là trì, không có nước gọi là hoàng. Đắp đất làm “thành”, đào hào làm “hoàng”.

Thành hoàng xuất hiện ở Trung Quốc thời cổ đại và đã được thờ như là vị thần bảo hộ cho một thành trì, một phủ, một châu hay một huyện. Xã hội cổ đại Trung Quốc được phân chia thành hai cấp: Vương và Hầu; vua nhà Chu là Vương cai quản chư Hầu, mỗi chư Hầu như là một vương quốc nhỏ có một tòa thành và một số ấp nông thôn vây quanh. Do vậy, để bảo vệ thành có Thành hoàng, bảo vệ ấp có Thổ địa. Việc thờ Thành hoàng phổ biến khắp đất nước Trung Quốc thời cổ đại; ở đâu xây thành, đào hào là ở đó có Thành hoàng.

Thành hoàng thường được vua ban biển miếu hoặc phong tước. Chính quyền phong kiến Trung Quốc đã lấy việc thờ phụng Thành hoàng làm việc giáo hóa dân chúng. Tuy tín ngưỡng thờ thành hoàng có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng vì quy mô và cơ cấu làng cổ Trung Quốc có nhiều điểm khác với làng cổ của Việt Nam, nên tín ngưỡng thờ Thành hoàng của các làng Việt cổ cũng không giống tín ngưỡng thờ Thành hoàng của làng cổ Trung Quốc. Thành hoàng của các làng Việt cổ không chỉ và không phải lúc nào cũng thờ vị thần bảo vệ thành hào của làng, mà chủ yếu thờ những người có công với dân với nước, người có công lập ra làng, người có công truyền dạy một nghề nào đó cho dân làng, hoặc là một ông quan tốt (và một số vị tà thần – nhưng số này không nhiều).

4 Việc thờ Thành hoàng của nhiều làng xã Việt Nam đôi khi là thờ một sức mạnh tự nhiên nào đó (như thần sông, thần núi, thần sấm, thần sét, thần mây, thần mưa). Trong số các vị thần này, nơi nào thờ loại thần gì là tùy thuộc vào đặc điểm cư trú của làng đó. Chẳng hạn, những làng ở hai bên bờ các con sông thường là thờ các vị thủy thần; những làng ở trên sườn núi thường thờ thần núi (sơn thần). Một số làng thờ những nhân vật lịch sử làm Thành hoàng làng mình là những vị anh hùng dân tộc, có công đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại nền độc lập cho dân tộc, như các vị: Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Nhội , Trần Phương, Tô Phong , Nguyễn Chính , Trần Văn Bích, Lê Hoàn, Dương Đình Nghệ, Lê Văn Thịnh, Tô Hiến Thành, Lý Thường Kiệt, Trần Nhật Duật,.

Nói chung, hầu hết các làng đều thờ hai loại Thành hoàng, trong đó một vị là biểu tượng của sức mạnh tự nhiên, một vị là nhân vật lịch sử hoặc người có công với làng. Điểm đặc biệt của tín ngưỡng thờ Thành hoàng của các làng Việt cổ là ở chỗ, dù thời cuộc có biến đổi như thế nào, dù làng có chuyển nơi cư trú bao nhiêu lần, dù chính sách tôn giáo của Nhà nước có chặt chẽ hay cởi mở, dù dân làng giàu sang hay nghèo túng,. thì nhân vật được dân làng thờ làm Thành hoàng vẫn không thay đổi, mà tồn tại mãi mãi, suốt từ đời này đến đời khác. Sách Việt Nam phong tục có ghi “ xét về tục thờ thần thành hoàng này từ trước đời đời tam quốc ( Trung Quốc ) trở về trước vẫn đã có, nhưng ngày xưa thì nhân nhà vua có việc gì cầu đảo mới thiết đàn cúng tế mà thôi.

Đến đời nhà Đường, Lý Đức Dụ làm tướng, mới bắt đầu lập miếu Thần hoàng ở Thành Đô, đến nhà Tống, nhà Minh thiên hạ đâu cũng lập miếu thờ. Nước ta thuở bấy giờ đang lúc nội thuộc, tục Tàu truyền sang đến bên này kế đến Đinh, Lê thì việc thờ quỷ thần đã thịnh hành rồi Nhưng cứ xét cái chủ ý lúc trước, thì mỗi phương có danh sơn, song lớn, triều đình lập miếu thờ sơn thần, hà bá ấy để chủ tế cho việc ấm tí một phương 5 thôi. Kế sau, triều đình tinh biểu những bậc trung thần nghĩa sĩ và những người có công lao với đất nước, thì cũng lập đền cho dân xã ở đó thờ. Từ đó dân gian bắt chước nhau, chỗ nào cũng thờ một vị để làm chủ tế trong làng mình … dân ta tin rằng đất có thổ công song có hà bá, lãnh thổ nào phải có thần hoàng ấy, vậy phải thờ phụng để thần ủng hộ cho nhân dân,vì thế việc thờ thần mỗi ngày một thịnh”.

Hiều được nhu cầu tâm linh của người dân, cộng thêm ý muốn tạo lập thiết chế văn hóa – tín ngưỡng chính thống của vương triều, nhằm xóa bỏ tầm ảnh hưởng của các triều đại trước, nên thời các vua nhà Nguyễn, cứ ba năm xét ban sắc phong thần một lần. Chỉ riêng 1852, vua Tự Đức đã cấp sắc phong đồng loạt 13069 cho cả nước. ( trích sách cơ sở văn hóa Việt Nam phần tín ngưỡng ) Từ trên ta có thể hiểu phần nào tín ngưỡng thờ thần hoàng làng, thờ các anh hùng ở Việt Nam. Trước khi đi vào tìm hiểu tục thờ 5 danh tướng Trần Nhội, Trần Phương , Nguyễn Chính , Tô Phong , Trần Văn Bich chúng ta đi nghiên cứu vài nét về kiến trúc xây dựng đình đền của người Việt.

Đặc điểm chung về kiến trúc thờ Thành Hoàng làng của người dân Việt Nam. Hình ảnh Cây đa – Bến nước – Sân Đình đã ăn sâu vào tâm thức của người Việt ở vùng châu thổ Bắc Bộ từ hàng ngàn năm , một không gian binh dị gắn liền với đời sống sinh hoạt của cư dân miền nông nghiệp lúa nước. Không gian và kiến trúc Đình làng là minh chứng cho tài nghệ xây dựng của ông cha ta , từ việc chọn địa điểm , quy hoạch hòa lẫn với thiên nhiên , dưới bóng mát rặng cây , soi bóng nước bên hồ , tận dụng hết tự nhiên cho đến hình thức kiến trúc , tỉ lệ , vật liệu , màu sắc phù hợp tới thẩm mỹ , điều kiện xây dựng địa phương. Đình làng Việt Nam là nơi thờ tự thành hoàng làng và là trung tâm sinh hoạt chính trị, xã hội văn hoá của cộng đồng dân cư.

Trong các làng, đình là một di tích kiến kiến trúc nghệ thuật có quy mô to nhất và theo ý nghĩ của người xưa có tầm quan trọng, ảnh hưởng tới sự thịnh vượng và sức khỏe của tất cả dân làng. Dựng đình là việc chung của cả làng. Một việc tối quan trọng của ngôi đình là hướng đình. Ca dao cũ có câu: “Toét mắt là tại hưởng đình, cả làng cùng toét 6 riêng mình em đâu” đã nói lên ý nghĩa quyết định của việc chọn hướng đinh.

Hướng của đình làng thậm chí đã trở thành hướng quy hoạch cho các ngôi nhà trong làng, hoặc làm song song theo hướng đình hoặc làm vuông góc. Chọn hướng và thế đất xây đình người xưa tin vào thuyết phong thuỷ, đình phải được xây trên lưng hay trên trán của các con vật thiêng tiềm ẩn trong đất như long, li, quy, phượng. Đình thường được chọn xây trên một gò cao, một doi đất, trước mặt có dòng nước chảy hay hồ ao, nếu không kể sông ngòi thì người dân đào giếng, hồ để tạo nên cảnh nước non. Đình làng ban đầu cở lẽ chỉ là một kiến trúc nhỏ gồm 3 gian và 2 chái, sau đó sô” gian tăng lên đến 5, 7 hay 9 gian (số lẻ) cộng thêm kiến trúc phía sau gọi là hậu cưng, thêm phía trưốc gọi là tiền tế, thêm hai bên gọi là tả vu và hữu vu, Ban đầu xung quanh chưa bịt kín nhưng sau dần để tôn nghiêm thần thánh, người dân xây bao kín quanh kiến trúc chỉ để mở cửa phía trước, đặc biệt ở hậu cung thì xây bịt kín tối như bưng (là nơi thần thành ngự trị).

Đình làng vốn là một kiến trúc mở không có tường bao quanh, vì kiến trúc gỗ cổ truyền dựa trên khung các cột gỗ chịu lực, các vì kèo và hoành phân đều lực cho các cột cái và cột quân kê trên các đá tảng. Các cửa bức bàn và các hàng chấn song con tiện phía trước là để thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ, các tường bao quanh là nhằm linh thiêng hoá thần linh được làm bể sung vế sau. Một điều đặc biệt là các đình đều có cấu kết mái đình với góc mái cong và người ta gọi là đao mái. Góc mái cong có thể là một sáng tạo đầy tính nghệ thuật của đình làng Việt Nam và thành một đặc trưng độc đáo khiến kiến trúc gỗ truyền thông Việt Nam khác với các kiến trúc gỗ các nước khác trong khu vực.

Những ngôi đình cổ thường có bộ mái lớn chiếm đến 2/3 công trình. Theo một nhà nghiên cứu thì “tỉ lệ này có lẽ bắt nguồn từ ngôi nhà cổ truyền của người Việt mà sứ nhà Nguyên là Trần Phú đã lấy làm ngạc nhiên: “Làm nhà không có kiểu gấp mái hoặc chống kèo mà từ đòn đông đến mái hiên cứ thẳng tuột một mạch như đổ hẳn xuống (vì vậy) tuy nóc nhà (tuy hết sức) cao nhưng mái hiên chỉ cách mặt đất chừng bốn năm xích”. 7 Mỗi đình làng còn là một công trình điêu khắc và chạm trổ, sơn vẽ với chất liệu cổ truyền là sơn ta với 3 mầu đen, đỏ và vàng. Người nghệ nhân thường chạm trổ ở các câu đầu, các cột giá chiêng, các đầu bảy, các ván trong lòng giá chiêng… những hình đầu rồng, đuôi rồng, nghê, vân mây và hoa lá, các sinh hoạt văn nghệ đời sống hàng ngày… rất sinh động.

Những cột cái ở trung đình thường được sơn vẽ rồng mây làm cho ngôi đình rực rỡ trang trọng, gợi lên ý nghĩ đây là nơi cung điện của thần thánh uy nghiêm. Các đình thường ghi ngày tháng năm khởi công xây dựng và hoàn thành ở xà nóc hoặc hai câu đầu trung đình. Ở trung đình đều có lắp một cửa võng sơn son thếp vàng làm cho không gian đình sáng lên lộng lẫy. Cửa võng là một bức rèm bằng gỗ chạm trổ rất công phu gắn vào 2 cột và hoành ở trung đình, nơi đặt bàn thờ thành hoàng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khám Phá Di Tích và Lễ Hội Đình Đẩu Sơn Quận Kiến An Hải Phòng" mang đến cái nhìn sâu sắc về di tích lịch sử và văn hóa đặc sắc của Đình Đẩu Sơn, cùng với những lễ hội truyền thống phong phú tại khu vực này. Bài viết không chỉ giới thiệu về giá trị văn hóa, lịch sử của di tích mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy các giá trị này trong bối cảnh phát triển du lịch hiện đại. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức tổ chức lễ hội, các hoạt động văn hóa đặc sắc, cũng như những lợi ích mà di tích mang lại cho cộng đồng địa phương.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý di sản văn hóa và các di tích lịch sử khác, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa vật thể đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trên địa bàn thành phố huế tỉnh thừa thiên huế, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về quản lý di sản văn hóa tại Huế. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ văn hóa học di sản khảo cổ học trong bối cảnh đương đại qua nghiên cứu trường hợp khu trung tâm hoàng thành thăng long hà nội sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về giá trị của di sản văn hóa tại Hà Nội. Cuối cùng, Luận văn quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh bình dương cũng là một tài liệu hữu ích để tìm hiểu về quản lý di tích lịch sử tại Bình Dương. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tại Việt Nam.