Tổng quan nghiên cứu

Làng Phấn Vũ thuộc xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình là một không gian văn hóa làng biển đặc trưng của vùng châu thổ Bắc Bộ, nơi tiến trình bồi đắp phù sa tiến ra biển khoảng 3 km trong vòng một thế kỷ qua. Với diện tích tự nhiên được ghi nhận từ năm 1930 là 0,28 km2, đến nay làng đã phát triển quy mô 298 hộ gia đình với 1.054 nhân khẩu thuộc 11 dòng họ cùng chung sống hòa thuận. Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu tập trung vào sự biến đổi và bảo tồn không gian văn hóa làng biển dưới tác động của hiện đại hóa, đồng thời giải mã mối quan hệ tương hỗ giữa cụm di tích tôn giáo tín ngưỡng với đời sống tinh thần của cư dân địa phương.

Mục tiêu cụ thể của luận văn bao gồm: hệ thống hóa toàn diện các nguồn tư liệu lịch sử về làng Phấn Vũ; khảo cứu chi tiết kiến trúc, điêu khắc, đối tượng thờ tự của 3 công trình trọng điểm gồm chùa Phấn Vũ, đền Mẫu và đền Quan Lớn Thống; phân tích sự gắn kết giữa không gian văn hóa làng với cụm di tích; từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong thời kỳ mới. Phạm vi thời gian nghiên cứu tập trung sâu vào giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2014, đồng thời khảo sát ngược dòng lịch sử từ thời nhà Lý, nhà Trần đến triều Nguyễn.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện rõ qua việc cung cấp luận cứ bảo tồn cụm di tích đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh vào ngày 10/10/2012. Kết quả nghiên cứu trực tiếp đóng góp vào mục tiêu duy trì tỷ lệ trên 82% gia đình văn hóa tại địa phương, thúc đẩy phát triển kinh tế biển với tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt từ 11% đến 16%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết khu vực học kết hợp với lý thuyết không gian văn hóa của ngành Văn hóa học và lý thuyết sinh thái nhân văn của Nhân học văn hóa. Cách tiếp cận này cho phép đặt cụm di tích đền, chùa trong sự tương tác biện chứng với môi trường tự nhiên ven biển và quá trình biến đổi kinh tế xã hội vùng duyên hải Bắc Bộ.

Bốn khái niệm then chốt được xây dựng và chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm:

  • Không gian văn hóa làng biển: Môi trường sinh tồn, sinh hoạt kinh tế và thực hành văn hóa của cộng đồng cư dân gắn với môi trường nước mặn.
  • Cụm di tích phức hợp: Quần thể kiến trúc tâm linh tích hợp đồng thời nhiều hình thái tín ngưỡng tôn giáo trên một địa bàn cư trú.
  • Cấu trúc tín ngưỡng Tiền Phật Hậu Mẫu: Sự dung hợp hài hòa giữa Phật giáo Bắc Tông và tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ, tứ phủ thuần Việt.
  • Hải tính: Hệ thống tri thức dân gian, bản lĩnh ứng xử và tâm thức kiêng kỵ của ngư dân trước sóng gió biển khơi.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ 7 tấm bia đá cổ tại chùa Đồng Bát có niên đại từ thời Lý, các sắc phong thần tích từ triều Lê đến triều Nguyễn, cùng hệ thống tài liệu địa chí và báo cáo kinh tế xã hội xã Thụy Xuân giai đoạn 2011 - 2015. Về dữ liệu thực địa, tác giả thực hiện 24 cuộc phỏng vấn sâu với các bô lão, trưởng ban quản lý di tích và ngư dân dày dạn kinh nghiệm.

Cỡ mẫu khảo sát xã hội học gồm 120 đại diện hộ gia đình trên tổng số 298 hộ của thôn Phấn Vũ, kết hợp chọn mẫu phân tầng có chủ đích đối với 15 cán bộ quản lý văn hóa và thành viên ban khánh tiết. Phương pháp chọn mẫu này đảm bảo bao quát 85% dân số làm nghề khai thác, nuôi trồng thủy hải sản và 15% làm nghề thủ công, buôn bán tại chợ Bàng.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích liên ngành Lịch sử - Dân tộc học - Thống kê là nhằm đối chiếu giữa tư liệu thành văn cổ và thực hành tín ngưỡng sống động ngoài thực địa. Dòng thời gian nghiên cứu điền dã được triển khai liên tục từ năm 2012 đến năm 2014, hoàn thiện tổng hợp và bảo vệ thành công năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu làm sáng tỏ quy hoạch mặt bằng và sự thích ứng kiến trúc độc đáo của cụm di tích với tổng diện tích đất 1.168,3 m2. Trong đó, khuôn viên chùa Phấn Vũ và đền Mẫu chiếm 832 m2 (diện tích xây dựng chùa là 216 m2, đền Mẫu là 76,6 m2), còn đền Quan Lớn Thống có khuôn viên 336,3 m2 với diện tích xây dựng 57,2 m2. Chùa Phấn Vũ và đền Mẫu từng phải di dời vào sâu trong đê 3 km so với vị trí ven biển ban đầu do hiện tượng xói lở bờ biển, thể hiện tính linh hoạt trong quá trình định cư của cư dân duyên hải.

Thứ hai, công trình xác định giá trị kiến trúc chữ Đinh truyền thống với hệ thống vì kèo gỗ lim theo thức thượng giá chiêng, hạ chồng rường được bảo tồn nguyên vẹn từ đợt trùng tu năm Bảo Đại thứ 4 (năm 1929). Nghệ thuật điêu khắc tại cụm di tích mang tính biểu tượng dân gian sâu sắc khi tập trung khắc họa chủ đề Tứ linh (Long, Ly, Quy, Phượng) và Tứ quý (Tùng, Cúc, Trúc, Mai, Sen), hoàn toàn vắng bóng hình tượng con người, tạo nên nét tôn nghiêm thanh tịnh.

Thứ ba, cơ cấu kinh tế làng chuyển biến rõ rệt khi 25 hộ nuôi trồng thủy sản trên diện tích 48 ha đầm bãi đạt doanh thu trên 400 triệu đồng/ha, đóng góp tới 35% tổng thu nhập của thôn, trong khi nghề làm muối truyền thống thu hẹp chỉ còn 2,14 ha. Nguồn lực kinh tế biển này là nền tảng để 100% kinh phí tôn tạo các hạng mục đền Mẫu và đền Quan Lớn Thống từ năm 1990 đều được huy động từ nguồn xã hội hóa của cộng đồng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân tạo nên bản sắc độc đáo của cụm di tích Phấn Vũ xuất phát từ môi trường tự nhiên khắc nghiệt nơi đầu sóng ngọn gió, nơi từng hứng chịu những trận bão lịch sử ngày 24/6/1929 và tháng 7/1955. Nỗi bất an trước thiên tai đã thôi thúc cư dân tìm kiếm sự che chở tâm linh ở Đức Nam Hải Thánh Mẫu - vị thần cai quản 12 cửa biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, cùng Quan Lớn Thống để cầu mong tàu thuyền đi khơi về lộng bình an.

So sánh với các công trình khảo cứu 118 ngôi chùa tiêu biểu của các học giả đi trước, chùa Phấn Vũ không nguy nga đồ sộ nhưng sở hữu tính phức hợp tín ngưỡng đặc biệt khi phối thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Tống Thái Hậu và hệ thống tượng Thập điện Diêm Vương bằng gỗ tạc tỉ mỉ. Toàn bộ dữ liệu khảo sát có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cơ cấu lao động (61,5% lao động trong độ tuổi, 85% gắn liền kinh tế biển) và bảng thống kê các mốc lịch sử trùng tu (năm 1729, năm 1896, năm 1929, năm 1990 và năm 2012). Cụm di tích thực sự đóng vai trò là hạt nhân gắn kết 11 dòng họ, cố kết cộng đồng làng xã trong tiến trình xây dựng nông thôn mới.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Quy hoạch tổng thể và phục hồi cấu kiện di tích: Ban Quản lý di tích phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình lập dự án tu bổ định kỳ giai đoạn 2026 - 2028, thay thế từng bước các chi tiết bê tông cốt thép giả gỗ bằng vật liệu gỗ lim tự nhiên tại 2 tòa Tiền đường và Hậu cung, nâng tỷ lệ nguyên gốc của kiến trúc lên trên 90%.
  2. Chuẩn hóa công tác tổ chức lễ hội và thực hành tín ngưỡng: Ủy ban nhân dân xã Thụy Xuân ban hành quy chế quản lý nghi lễ hầu đồng và diễn xướng hát văn tại đền Mẫu từ quý 1/2026, giảm thiểu 50% khối lượng vàng mã đốt tại di tích, đồng thời ngăn chặn 100% các biểu hiện trục lợi và mê tín dị đoan.
  3. Liên kết tuyến điểm phát triển du lịch văn hóa sinh thái: Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Thái Thụy chủ trì xây dựng tour du lịch kết nối cụm di tích Phấn Vũ với khu du lịch biển Diêm Điền và rừng ngập mặn Thụy Xuân trong bán kính 1 km đến 7 km, phấn đấu đón 15.000 đến 20.000 lượt khách tham quan mỗi năm giai đoạn 2027 - 2030, tăng doanh thu thương mại dịch vụ địa phương lên 25%.
  4. Trao truyền tri thức bản địa cho thế hệ kế cận: Chi bộ Đảng và Ban công tác Mặt trận thôn Phấn Vũ phối hợp với các trường học tổ chức 2 chương trình giáo dục di sản hàng năm cho 100% học sinh địa phương từ niên khóa 2026 - 2027, bồi dưỡng ý thức bảo vệ 3 di tích lịch sử và gìn giữ văn hóa ứng xử biển cả.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các ngành Việt Nam học, Văn hóa học, Lịch sử, Nhân học: Luận văn cung cấp khung phân tích liên ngành mẫu mực về làng xã ven biển và nguồn dữ liệu điền dã phong phú với 24 phỏng vấn sâu cùng 7 văn bia thời Lý.
  • Cán bộ quản lý văn hóa và lãnh đạo chính quyền cấp cơ sở: Tài liệu là cẩm nang thực tiễn giúp xây dựng đề án quản lý di tích cấp tỉnh, hỗ trợ thực hiện hiệu quả tiêu chí văn hóa trong chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới với tỷ lệ gia đình văn hóa đạt trên 82%.
  • Các doanh nghiệp lữ hành và nhà phát triển du lịch: Cung cấp đầy đủ thông tin về tài nguyên du lịch tâm linh, kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn (năm 1929) và bản đồ ẩm thực đặc sản biển như nộm sứa, cá khoai, gỏi nhệch để xây dựng tour liên vùng cự ly 7 km đến 40 km.
  • Cộng đồng cư dân và con em quê hương Phấn Vũ xa quê: Là nguồn tư liệu quý báu giúp các thế hệ tìm hiểu cội nguồn 11 dòng họ khai hoang lấn biển, hiểu sâu sắc ý nghĩa tâm linh của Đức Nam Hải Thánh Mẫu và tự hào về truyền thống bất khuất của quê hương.

Câu hỏi thường gặp

Cụm di tích làng Phấn Vũ gồm những công trình nào và được xếp hạng di tích cấp nào? Cụm di tích bao gồm 3 công trình: chùa Phấn Vũ (Minh Đồng tự), đền Mẫu và đền Quan Lớn Thống trên tổng diện tích đất 1.168,3 m2. Ngày 10/10/2012, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình đã ban hành quyết định công nhận toàn bộ quần thể là Di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh.

Ý nghĩa của việc thờ phụng Đức Nam Hải Thánh Mẫu tại đền Mẫu làng Phấn Vũ là gì? Đền Mẫu phụng thờ Đức Nam Hải Thánh Mẫu cai quản 12 cửa biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ cùng phối thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Nghi lễ thờ Mẫu tại đây phản ánh khát vọng bình an, mưa thuận gió hòa và che chở tính mạng cho ngư dân trong những chuyến vươn khơi bám biển dài ngày.

Văn hóa ứng xử với môi trường biển của cư dân Phấn Vũ thể hiện như thế nào? Văn hóa biển thể hiện qua phong cách ăn sóng nói gió, triết lý tương trợ cộng đồng và các kiêng kỵ nghiêm ngặt như không lật mình cá khi ăn, vẽ mắt thuyền chống thủy quái. 100% chủ tàu cá đều thực hiện lễ cúng biển trước ngày mở cửa biển để cầu may mắn.

Kiến trúc chùa Phấn Vũ có những đặc điểm kỹ thuật nào đáng chú ý? Chùa Phấn Vũ có bố cục chữ Đinh gồm Tiền đường 5 gian và Phật điện 3 gian, được trùng tu hoàn chỉnh năm 1929. Khung chịu lực gồm 6 bộ vì kèo gỗ lim kết cấu thượng giá chiêng, hạ chồng rường với 2 cột cái cao 3,86 m và 2 cột quân cao 2,83 m vững chắc.

Kinh tế biển đóng góp vai trò gì đối với công tác bảo tồn cụm di tích? Kinh tế nuôi trồng thủy sản trên 48 ha cho doanh thu trên 400 triệu đồng/ha, chiếm 35% thu nhập toàn thôn. Sự khởi sắc kinh tế với mức tăng trưởng 11% đến 16%/năm đã tạo nguồn lực tài chính dồi dào để cộng đồng tự nguyện đóng góp 100% chi phí tôn tạo di tích từ năm 1990 đến nay.

Kết luận

  • Hệ thống hóa tiến trình hình thành làng Phấn Vũ gắn với lịch sử khai hoang lấn biển của 11 dòng họ qua hàng trăm năm phát triển tại huyện Thái Thụy.
  • Giải mã thành công giá trị lịch sử, kiến trúc chữ Đinh và điêu khắc truyền thống của cụm 3 di tích đền, chùa được xếp hạng cấp tỉnh năm 2012.
  • Làm rõ tính thống nhất và đa dạng của tín ngưỡng Tiền Phật Hậu Mẫu, nơi niềm tin tâm linh gắn bó hữu cơ với hoạt động kinh tế biển chiếm 35% thu nhập địa phương.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm giải quyết hài hòa bài toán giữa bảo tồn di sản cổ và ngăn ngừa mê tín dị đoan.
  • Mở ra định hướng tích hợp di sản vào chuỗi du lịch sinh thái biển Thái Bình giai đoạn 2026 - 2030 nhằm thúc đẩy kinh tế bền vững.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học của tác giả Lê Thị Mỹ Huyền là công trình khoa học toàn diện, đặt nền móng lý luận và thực tiễn vững chắc cho công tác bảo tồn di sản làng biển. Để hiện thực hóa mục tiêu gìn giữ bản sắc văn hóa đến năm 2030, các cấp quản lý và cộng đồng cần chung tay hành động ngay hôm nay, bảo vệ từng nếp mái đao, từng pho tượng cổ như giữ gìn chính linh hồn của miền quê đất biển.