Chương 1 HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA LAN KHAI 1. Quá trình sáng tạo nghệ thuật của Lan Khai Lan Khai tên thực Nguyễn Đình Khải, sinh ngày 24/6/1906, mất ngày 29/11/1945 tại Bản Luộc, xã Vĩnh Lộc, châu Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Ngoài bút danh Lan Khai, ông còn có các bút danh khác như: Nguyễn Văn Huyên, Huệ Khai, Thục Oanh, Lâm Tuyền Khách, Lan, ĐKG. Thân phụ của ông là Nguyễn Đình Chức (1870 – 1945), có nguyên quán ở Thừa Thiên Huế, làm nghề dạy học và chữa bệnh cho nhân dân, là một lương y nổi tiếng và sống cuộc đời thanh bạch.
Nhà Nho ấy là người từng trải, có vốn văn hóa uyên thâm và một tâm hồn phóng khoáng. Thân mẫu Lan Khai là người phụ nữ nhân hậu, chịu thương, chịu khó, giàu đức hy sinh, ngày ngày đi hái thuốc trong rừng sâu, cùng chồng làm nghề cứu nhân độ thế. Bà thuộc nhiều ca dao và truyện cổ dân gian, thích hát Then, hát Lượn. Trong các trang tự truyện, Lan Khai nhiều lần nhớ về người mẹ: “có một dung nhan vô cùng êm ái.với đôi mắt bình tĩnh và thăm thẳm, với cái nụ cười nó làm cho những vật xung quanh như tươi sáng hẳn lên” [51, tr.
Thời thơ ấu của Lan Khai gắn liền với vùng rừng núi Chiêm Hóa. Vùng đất với địa hình rừng núi hoang vu ảnh hưởng rất nhiều đến con người Lan Khai cũng như sự nghiệp sáng tác của ông. Năm 17 tuổi, Nguyễn Đình Khải theo học trường Bưởi. Đây là bước ngoặt trong cuộc đời của người nghệ sĩ tương lai.
Từ một miền rừng núi thâm u phía Bắc, phút chốc người thanh niên Nguyễn Đình Khải hòa nhập với môi trường văn minh đô thị. Đó là cơ hội để Lan Khai tiếp thu kiến thức, phát triển tài năng, mở rộng tầm nhìn về cuộc sống, văn 11 hóa và các mối quan hệ xã hội mới. Năm 1927, ông trở về quê hương và xây dựng gia đình cùng bà Hà Thị Minh Kim, con một gia đình truyền thống lâu đời ở tỉnh lỵ Tuyên Quang. Bà nổi tiếng về nhan sắc, học hành, thông minh và có biệt tài về trí nhớ, giỏi thêu thùa đan lát, nhân hậu thủy chung, được nhiều người trong vùng nể trọng và là người phụ nữ có ảnh hưởng rất lớn đến hành trình văn nghiệp của Lan Khai.
Bà vừa lo tổ chức đời sống gia đình vừa là người “trợ bút” đắc lực cho Lan Khai trong nhiều trang viết: “Mỗi khi trái gió trở trời, bệnh hen suyễn lại hành hạ Lan Khai, song ý nghĩ hiện ra trong đầu anh không đừng được, anh phải vừa nằm vừa nghĩ vừa đọc cho vợ viết” [54, tr. Trong thời gian sống ở Hà Thành, đôi khi bà cùng với chồng tham gia vào vở diễn khi nhà hát cần người. Vì thế, chân dung người vợ thảo hiền này xuất hiện trong nhiều trang sách tự truyện của Lan Khai. Tại quê nhà Tuyên Quang, Nguyễn Đình Khải vừa dạy học, vừa viết văn, say mê vẽ và bồi đắp kiến thức về y nghiệp, rồi liên tục hành trình trong thế giới sơn lâm.
Với khả năng đọc được cả Hán văn và Pháp văn, Lan Khai rất thuận lợi khi tìm hiểu văn hóa phương Đông và phương Tây qua sách báo, hiểu rõ hơn về cách viết và tư tưởng của nghệ sĩ nước ngoài, điều này cũng được thể hiện rất rõ trong những sáng tác mang đậm tính cổ điển và hiện đại, phương Đông và phương Tây của nhà văn. Lan Khai bắt đầu sự nghiệp sáng tác năm 1928 với tác phẩm đầu tay là tiểu thuyết tâm lý xã hội Nước Hồ Gươm. Trong năm này, tiểu thuyết Cô Dung cũng được thai nghén nhưng đến năm 1938 mới hoàn thành. Tiểu thuyết Cô Dung là cái nhìn đầy trân trọng và cảm thông của tác giả đối với bao thế hệ phụ nữ Việt Nam “Tác phẩm nêu lên một vấn đề 12 mang tính thời sự lúc bấy giờ: vấn đề con người cá nhân và sự giải phóng phụ nữ.
Dung, nhân vật chính của tác phẩm, là một con người cam phận, nhẫn nại hi sinh vì cha, vì chồng, vì những tín niệm truyền đời bất di dịch. Năm 1929, tiểu thuyết Lầm than ra đời (xuất bản năm 1938), đánh dấu bước chuyển mình trong sáng tác của Lan Khai. Ngay từ khi lên tám tuổi, cậu bé Nguyễn Đình Khải đã sống giữa môi trường của những người phu mỏ. Hằng ngày, cậu tận mắt chứng kiến những cảnh đời lem luốc ở “địa ngục trần gian” và cả những tai nạn bất ngờ đổ ập xuống đầu những người thợ mỏ như sập lò, ngạt khí ghi-du, cảnh cai thầu chủ mỏ hành hạ, cưỡng bức những người nghèo khổ lương thiện.
Khi trưởng thành hơn, Khải càng hiểu sâu sắc cội nguồn của sự đói nghèo, bất hạnh và nô lệ cùng những nguyên nhân xô đẩy con người đến cảnh lầm than tăm tối. Khi cầm bút quyết định “phải làm một nhà tiểu thuyết” cho đến khi Lầm than ra đời, Lan Khai đã có gần hai mươi năm gần gũi với cuộc sống của những người phu mỏ. Chính nỗi đau của người dân nô lệ, nỗi tủi nhục của người trí thức khao khát tự do đã thúc đẩy Lan Khai hình thành chân dung “cuộc sống lầm than” trong Lầm than. Năm 1929 cũng là năm Lan Khai cho ra đời cuốn truyện ngắn tâm lý xã hội đầu tiên: Cánh hoa mua.
Từ năm 1930, ông cũng tích cực trong sáng tác truyện ngắn tâm lý xã hội như: Khổ tình (1930), Nơi ước hẹn (1934), Thằng gầy (1934), Anh Xẩm (1934), Cô Bụt (1934), Khóc thông reo (1934), Kiếp con tằm (1935), Chung tình (1935)… Từ sau 1935 là khoảng thời gian sáng tác sung sức nhất của Lan Khai, ông cho ra đời hàng loạt tác phẩm ở nhiều địa hạt văn học khác nhau, trong đó nhiều nhất là tiểu thuyết. Ông tiếp tục mảng tiểu thuyết tâm lý xã hội với các tác phẩm: Liếp Ly (1938), Sóng lúa reo (1938), 13 Nàng (1940), Mực mài nước mắt (1941), Tội nhân hay nạn nhân (1941), Tội và thương (1942), Mưa xuân (1942-1943). Những tác phẩm đó thể hiện sự quan sát tinh tế, vốn hiểu biết trong cuộc sống và sự cảm thông của tác giả trước những số phận bất hạnh. Riêng Mực mài nước mắt, Lan Khai đã viết về chính cuộc đời mình “Con người Khải – nhân vật chính của truyện, hiện lên với tất cả những dằn vặt, day dứt của một nhà văn yêu nghề, tự trọng, khi phải đối mặt với những vấn đề khắc nghiệt của cuộc sống.
Giọng văn của Mực mài nước mắt là giọng văn ngậm ngùi, nhiều chiêm nghiệm thấm thía về nghề văn, về nhà văn, về những người xung quanh. Ngoài ra, Lan Khai cũng là người có sự am hiểu sâu sắc lịch sử dân tộc. Sự am hiểu đó kết hợp với tài năng văn chương giúp Lan Khai có được chỗ đứng ở mảng tiểu thuyết lịch sử. Theo Ngọc Giao, cùng với Nguyễn Triệu Luật, Phan Trần Chúc, Lan Khai là một trong ba cây bút viết tiểu thuyết lịch sử nổi danh văn đàn Bắc Hà, được đông đảo bạn đọc ngưỡng mộ.
Các tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai phản ánh những biến cố trong tiến trình lịch sử dân tộc, vừa tái hiện nhân vật lịch sử vừa thể hiện quan niệm nghệ thuật và quan niệm nhân sinh mới qua các hình tượng nghệ thuật như vấn đề thế sự, cái thiện và cái ác, tình yêu và hạnh phúc, vẻ đẹp trí tuệ và khát vọng của con người. Có nhiều tác phẩm tái hiện rõ nét những sự kiện lịch sử với địa danh, con người và tập quán địa phương chân thực sinh động như: Chiếc ngai vàng (1935), Chàng đi theo nước (1936), Ai lên phố Cát (1937), Cái hột mận (1938), Chế Bồng Nga (1938), Chàng áo xanh (1938), Bóng cờ trắng trong sương mù (1938), Cưỡi đầu voi dữ (1940), Gửi cái xuân tàn (1941), Sầu lên ngọn ải (1941), Người thù mặt trời (1941), Trăng nước hồ Tây (1941), Treo bức chiến bào (1942), Trong cơn binh lửa 14 (1942), Thành bại với anh hùng (1942). Song song với đó, từ năm 1928 – 1933, Lan Khai có nhiều cuộc hành trình khắp Việt Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên để khám phá phong tục tập quán và danh lam thắng cảnh mọi miền đất nước. Bởi thế, ông quen cả tiếng Ba Na, Gia Rai, Tày, Mông, Dao, Cao Lan., ghi chép đủ điều xa lạ và sáng tác các truyện đường rừng.
Lần lượt các truyện ngắn đặc sắc ra đời như: Pàng Nhả (1933), Lô HNồ (1933), Dưới miệng hùm (1934), Sóng nước Lô Giang (1935). Tiểu thuyết đường rừng có: Tiếng gọi của rừng thẳm (1939), Dấu ngựa trên sương (1939- 1940), Hồng Thầu (1940), Suối Đàn (1941), Chiếc nỏ cánh dâu (1941)…Trong những năm 1940 Lan Khai sáng tác truyện kinh dị đường rừng và tập hợp trong tập Truyện đường rừng: Người lạ, Ma thuồng luồng, Con thuồng luồng nhà họ Ma, Con bò dưới Thủy tề, Gò thần, Đôi vịt con, Người hoá hổ, Tiền mất lực, Mũi tên dẹp loạn. Các sáng tác ở mảng đường rừng được cho là nổi tiếng nhất trong di sản văn học của Lan Khai. Chính vì lẽ đó, các nhà văn cùng thời đã phong tặng cho văn sĩ xứ sở áo chàm này cái tên thân mật “Nhà văn đường rừng”.
Riêng Tản Đà, xúc cảm trước những bức tranh về cảnh trí sơn lâm kèm những vần thơ đề tặng mình, ông đã gọi người bạn vong niên của mình bằng cái tên thân mật “Anh bạn Lâm Tuyền”. Trên văn đàn, nhà phê bình Trương Tửu gọi Lan Khai là “nghệ sĩ của rừng rú”, là “đàn anh trong thế giới sơn lâm”, là “cây đa giữa cánh đồng bát ngát”. Song song với sáng tác thì Lan Khai cũng viết nhiều bài phê bình nổi tiếng như: Tính cách người Việt Nam trong văn chương; Thiên chức của văn sĩ Việt Nam; Cái nguy mất gốc; Bàn qua về nghệ thuật; Một quan niệm về văn chương… Đây là các bài viết ngắn, thể hiện rất rõ quan điểm của Lan Khai về thiên chức đặc biệt của nhà văn, sự bộc lộ tư tưởng và tâm hồn nghệ sĩ, sự giữ gìn bản sắc dân tộc trong văn học. Ông phê phán 15 sự mất gốc, phê phán sự mô phỏng sáo rỗng, khẳng định các văn sĩ Việt Nam chưa làm tròn nhiệm vụ của mình.
Ông cũng đưa ra một quan niệm hết sức mới mẻ: bản thân con người không thay đổi, chỉ có quan niệm về con người là thay đổi. Ngoài các bài viết trên báo, Lan Khai còn có các tập phê bình in thành sách: Lê Văn Trương (1940); Vũ Trọng Phụng (1941). góp phần làm cho người đọc có cái nhìn toàn diện hơn về những tác giả này. Hoạt động dịch thuật của Lan Khai cũng đạt được những kết quả đáng kể với các công trình Bức thư của người không quen (1940) của Stéfan Zweig; Tuổi thơ (1944) của Lev Tolstoi.