Tổng quan nghiên cứu

Thực vật học dân tộc đóng vai trò then chốt trong hệ thống chăm sóc sức khỏe toàn cầu khi ước tính khoảng 75% các loại thuốc tân dược hiện đại được phát triển dựa trên hoạt chất tự nhiên từ thảo mộc. Tại Việt Nam, với kho tàng hơn 11.000 loài thực vật bậc cao có mạch, giới khoa học đã ghi nhận trên 3.200 loài sở hữu công dụng trị bệnh. Tuy nhiên, áp lực đô thị hóa cùng biến động kinh tế - xã hội đang đe dọa trực tiếp đến tính bền vững của nguồn dược liệu tự nhiên và các tri thức bản địa tích lũy qua nhiều thế hệ.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề cấp thiết về bảo tồn và tư liệu hóa vốn tri thức y học cổ truyền của đồng bào dân tộc Mường tại xã Ba Trại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội). Khu vực nghiên cứu nằm trọn trong vùng đệm của Vườn Quốc gia Ba Vì, nơi sinh sống của 1.761 hộ dân với 8.262 nhân khẩu, trong đó người Mường chiếm tới 58% tổng dân số. Mục tiêu cụ thể của luận văn là tiến hành điều tra, phân loại toàn diện thành phần loài cây thuốc, đánh giá kinh nghiệm thu hái, chế biến, bảo quản gia truyền, đồng thời phân tích mối liên hệ sinh thái - nhân văn giữa cộng đồng bản địa với hệ thống rừng tự nhiên.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc xác lập cơ sở dữ liệu cho 377 loài cây thuốc, cung cấp luận cứ cho công tác quản lý tài nguyên tại Vườn Quốc gia Ba Vì và đề xuất giải pháp phát triển kinh tế sinh kế cho người dân địa phương vốn có mức thu nhập bình quân khoảng 401.000 đồng một người mỗi tháng vào năm 2008.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng đồng bộ hai lý thuyết nền tảng trong khoa học lâm nghiệp và nhân học sinh thái: Lý thuyết Dân tộc thực vật học (Ethnobotany) và Lý thuyết Sinh thái học bảo tồn (Conservation Ecology). Bên cạnh đó, nghiên cứu kết hợp hài hòa nguyên lý Y học cổ truyền phương Đông, tiêu biểu là quan điểm âm dương - ngũ hành và phương châm "Nam dược trị Nam nhân" của đại danh y Tuệ Tĩnh.

Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tương tác đa chiều giữa ba yếu tố cốt lõi: Đa dạng sinh học thực vật rừng, Tri thức sử dụng thuốc dân gian của các ông lang bà mế, và Tác động kinh tế xã hội từ cộng đồng cư dân vùng đệm.

Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm khoa học chủ đạo:

  • Tri thức bản địa về dược liệu: Hệ thống hiểu biết, kinh nghiệm thực hành lưu truyền qua nhiều thế hệ về đặc tính, công dụng và cách phối ngũ các loài cây cỏ để trị bệnh.
  • Đơn vị phân loại thực vật học (Taxon): Cấp bậc định danh khoa học từ ngành, lớp, bộ, họ, chi đến loài của các cá thể thực vật có mạch.
  • Ngưỡng khai thác bền vững: Giới hạn khối lượng thu hái tự nhiên không làm suy giảm khả năng tái sinh và cân bằng sinh thái của quần thể thực vật.
  • Vùng đệm vườn quốc gia: Khu vực địa lý tiếp giáp ranh giới bảo tồn nghiêm ngặt, có chức năng giảm thiểu xung đột nhân sinh và bảo vệ sinh cảnh tự nhiên.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập thông qua quá trình điều tra thực địa kết hợp điều tra xã hội học nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) và đánh giá nhanh nông thôn (RRA). Quy mô khảo sát bao quát 1.761 hộ gia đình tại xã Ba Trại, với sự tham gia trực tiếp của các thầy lang tiêu biểu như bà Bạch Thị Nàn, ông Bạch Công Hoài, bà Hà Thị Xa cùng các nhóm thợ rừng chuyên thu hái dược liệu.

Quy trình thu thập và xử lý mẫu thực vật được thực hiện nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn hình thái so sánh quốc tế:

  • Mẫu tiêu bản khô được thu thập từ 3 đến 5 mẫu trên cùng một cây gỗ lớn hoặc 3 đến 5 cá thể sống gần nhau đối với dạng thân thảo và dương xỉ, cố định trên kích thước chuẩn 41 x 29 cm và bảo quản ban đầu bằng dung dịch cồn 40 đến 45 độ.
  • Mẫu thực vật dân tộc học được lập phiếu ghi chép chi tiết tên bản địa, dạng sống, bộ phận sử dụng, sinh cảnh, mùi vị dịch nhựa và công dụng trị liệu.
  • Định danh khoa học dựa trên phương pháp hình thái so sánh đối chiếu với bộ tài liệu Danh lục các loài thực vật Việt Nam và tham vấn ý kiến chuyên gia phân loại thực vật từ Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật.

Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ tính phức tạp của tri thức dân gian truyền khẩu, đòi hỏi sự kiểm chứng trực quan giữa mẫu vật thực địa và kinh nghiệm bản địa để loại bỏ các nhầm lẫn danh pháp. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu thực địa được triển khai liên tục qua các mùa từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2008.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực địa đã ghi nhận và định danh được 377 loài cây thuốc thuộc 289 chi, 121 họ, nằm trong 5 ngành thực vật bậc cao có mạch tại xã Ba Trại:

  • Ngành Hạt kín (Angiospermae) chiếm ưu thế tuyệt đối với 356 loài (94,4% tổng số loài), trong đó lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) chiếm 282 loài (74,8%) và lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) chiếm 74 loài (19,6%).
  • Các ngành còn lại chiếm tỷ lệ khiêm tốn: Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 10 loài (2,7%), ngành Hạt trần (Gymnospermae) có 8 loài (2,1%), ngành Thông đất (Lycopodiophyta) có 2 loài (0,5%) và ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) có 1 loài (0,3%).
  • Phổ dạng sống cho thấy cây thân thảo chiếm tỷ trọng lớn nhất với 151 loài (40,0%), tiếp theo là cây gỗ với 86 loài (23,0%), cây bụi 68 loài (18,0%), dây leo 62 loài (16,0%), cây ký sinh 7 loài (2,0%) và cây phụ sinh 3 loài (1,0%).
  • Môi trường sống của cây thuốc phân bố tập trung nhiều nhất ở khu vực núi tự nhiên với 169 loài (44,0%), khu vực quanh vườn nhà có 123 loài (33,0%), đất đồi gò có 70 loài (19,0%) và vùng khe bãi ẩm ướt có 15 loài (4,0%).

Thảo luận kết quả

Khi so sánh với toàn bộ hệ thực vật Vườn Quốc gia Ba Vì (gồm 1.136 loài, 570 chi, 128 họ), nguồn cây thuốc do người Mường xã Ba Trại sử dụng chiếm tỷ lệ đáng kinh ngạc: chiếm 33,2% tổng số loài, 50,7% tổng số chi và đại diện cho 94,53% tổng số họ thực vật của toàn vườn quốc gia. Số lượng 377 loài cây thuốc này cũng vượt trội đáng kể khi đặt cạnh kết quả nghiên cứu cây thuốc của đồng bào Dao ở vùng lân cận Ba Vì (chỉ ghi nhận 274 loài thuộc 83 họ).

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh sự vượt trội của một số họ thực vật giàu hoạt chất sinh học, điển hình như họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với 22 loài (chiếm 5,8%), họ Cúc (Asteraceae) với 18 loài (chiếm 4,8%), họ Dâu tằm (Moraceae) với 16 loài (chiếm 4,2%), họ Đậu (Fabaceae) và họ Gừng (Zingiberaceae) đều có 13 loài (chiếm 3,4%).

Về bộ phận sử dụng, kết quả thống kê có thể trình bày trực quan qua biểu đồ cơ cấu: Thân cây là bộ phận được khai thác phổ biến nhất với 41,0% tổng số loài, tiếp đến là lá cây chiếm 18,0%, toàn cây chiếm 15,0%, rễ củ chiếm 14,0%, quả và vỏ thân đều chiếm 3,0%, hoa và hạt đều chiếm 2,0%, nhựa cây và búp chồi non chiếm 1,0%.

Nguyên nhân người Mường ưu tiên dùng thân và lá xuất phát từ quan niệm y học dân gian cho rằng dược tính tập trung mạnh nhất ở trục dẫn dinh dưỡng của cây. Đáng chú ý, 100% nguồn dược liệu cung ứng cho các bài thuốc gia truyền đều được thu hái trực tiếp từ rừng tự nhiên. Thói quen này bắt nguồn từ quan niệm tâm linh rằng cây thuốc mang về vườn nhà khi nghe tiếng gà gáy, chó sủa sẽ mất đi công hiệu chữa bệnh, dù trên thực tế có đến 60% loài cây (khoảng 226 loài) hoàn toàn có khả năng sinh trưởng hoang dại quanh vườn hoặc trồng xen làm gia vị, bờ rào.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn vốn gen thực vật quý và phát huy giá trị kinh tế của tri thức bản địa, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Quy hoạch và xây dựng 02 vườn bảo tồn gen cây thuốc bản địa: Tập trung nhân giống và thuần hóa 50 loài thảo dược quý hiếm, có nguy cơ cạn kiệt cao như Hoa tiên, Hoàng đằng, Mộc thông, Xạ đen và Bách xanh. Thời gian thực hiện từ năm 2024 đến năm 2026, do Ban Quản lý Vườn Quốc gia Ba Vì chủ trì phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
  • Chuẩn hóa quy trình thu hái và sơ chế dược liệu: Giảm 25% tỷ lệ thất thoát hoạt chất sau thu hoạch thông qua các khóa tập huấn kỹ thuật phơi sấy, đóng gói bao bì hợp vệ sinh cho 100% thầy lang và người thu hái tại địa phương. Thời gian triển khai trong vòng 12 tháng, do Trạm Y tế xã Ba Trại và Hội Đông y huyện Ba Vì phối hợp thực hiện.
  • Phát triển mô hình Hợp tác xã chuyên canh cây thuốc: Tổ chức chuyển đổi 30 hecta đất đồi kém hiệu quả sang trồng các loài dược liệu thương phẩm dễ chăm sóc như Khổ sâm, Cối xay, Ý dĩ, Hy thiêm, hướng đến mục tiêu nâng thu nhập bình quân của hộ tham gia lên trên 15 triệu đồng mỗi năm. Thời gian thực hiện giai đoạn 2025 - 2028, do Ủy ban nhân dân xã Ba Trại phối hợp Liên minh Hợp tác xã điều hành.
  • Số hóa và đăng ký sở hữu trí tuệ tri thức y dược dân gian: Hoàn thành tư liệu hóa khoa học 100% bài thuốc gia truyền, thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng giữa cộng đồng người Mường và các đơn vị nghiên cứu dược phẩm. Thời gian hoàn thành trong 24 tháng, do Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và thực tiễn chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Thực vật học, Lâm học, Dược học: Sử dụng cơ sở dữ liệu 377 loài cây thuốc và 121 họ thực vật làm tài liệu giảng dạy, đối sánh danh pháp và định hướng phân lập hoạt chất sinh học mới.
  • Cán bộ quản lý Vườn Quốc gia và Ban quản lý rừng đặc dụng: Áp dụng các chỉ số phân bố sinh cảnh (44% loài ở núi, 19% ở đồi) để xây dựng phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và lập phương án tuần tra ngăn chặn khai thác tận diệt.
  • Doanh nghiệp sản xuất dược liệu và bác sĩ Y học cổ truyền: Tiếp cận nguồn tri thức kinh nghiệm về 282 loài thực vật hai lá mầm, phục vụ nghiên cứu bào chế thuốc có nguồn gốc tự nhiên và phát triển chuỗi cung ứng nguyên liệu chuẩn hóa.
  • Cơ quan quản lý nhà nước về chính sách dân tộc và phát triển nông thôn: Tham khảo mô hình sinh kế gắn liền với bảo tồn nhằm xây dựng chính sách xóa đói giảm nghèo bền vững cho 58% đồng bào Mường tại các xã vùng đệm rừng đặc dụng.

Câu hỏi thường gặp

Hệ thực vật cây thuốc của người Mường tại xã Ba Trại có quy mô và cấu trúc như thế nào? Nghiên cứu đã ghi nhận 377 loài cây thuốc thuộc 289 chi, 121 họ, nằm trong 5 ngành thực vật có mạch. Trong đó, ngành Hạt kín chiếm tỷ lệ áp đảo với 356 loài (94,4%), phân bổ chủ yếu ở lớp Hai lá mầm (282 loài) và lớp Một lá mầm (74 loài).

Những họ thực vật nào chiếm tỷ lệ loài đa dạng nhất trong hệ thống cây thuốc tại đây? Họ Thầu dầu dẫn đầu danh sách với 22 loài (chiếm 5,8%), kế tiếp là họ Cúc với 18 loài (chiếm 4,8%), họ Dâu tằm với 16 loài (chiếm 4,2%), cùng hai họ Đậu và họ Gừng đều sở hữu 13 loài (chiếm 3,4% mỗi họ).

Vì sao các thầy lang người Mường chủ yếu thu hái cây thuốc từ rừng tự nhiên thay vì tự trồng? Hiện tượng 100% thảo dược được lấy từ tự nhiên bắt nguồn từ quan niệm tâm linh rằng cây trồng quanh nhà khi nghe tiếng gà gáy, chó sủa sẽ suy giảm hoạt tính trị bệnh, đồng thời do điều kiện rừng núi Ba Vì cung cấp nguồn tài nguyên tự nhiên vô cùng dồi dào.

Bộ phận nào của thực vật được đồng bào Mường khai thác nhiều nhất để bào chế thuốc? Thân cây là bộ phận được khai thác nhiều nhất với 41,0% tổng số loài (125 loài), theo sau là lá cây chiếm 18,0% (69 loài), toàn bộ cây chiếm 15,0% (65 loài) và rễ củ chiếm 14,0% (52 loài).

Công trình nghiên cứu này đóng góp những giá trị khoa học gì cho Vườn Quốc gia Ba Vì? Luận văn chứng minh tri thức sử dụng cây thuốc của người Mường xã Ba Trại đại diện cho 33,2% tổng số 1.136 loài và tới 94,53% tổng số 128 họ thực vật của Vườn Quốc gia Ba Vì, tạo cơ sở dữ liệu chuẩn xác cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập danh lục toàn diện gồm 377 loài cây thuốc thuộc 289 chi, 121 họ thuộc 5 ngành thực vật bậc cao có mạch tại xã Ba Trại.
  • Ngành Hạt kín chiếm vị trí thống trị với 356 loài (94,4%), trong khi dạng sống thân thảo chiếm tỷ trọng cao nhất với 151 loài (40,0%).
  • Sinh cảnh rừng núi tự nhiên là nơi cư trú của 169 loài (44,0%), và thân cây là bộ phận thu hái chủ lực với tỷ lệ 41,0%.
  • Tri thức bản địa của người Mường đại diện cho 33,2% tổng số loài thực vật bậc cao đã được công bố tại Vườn Quốc gia Ba Vì.
  • Nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp giữa bảo tồn gen, chuẩn hóa kỹ thuật, phát triển kinh tế hợp tác xã và bảo hộ tri thức dân gian.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là bảo tồn thành công nguồn tài nguyên tri thức y dược bản địa trước nguy cơ mai một, đồng thời mở ra hướng phát triển kinh tế lâm sản ngoài gỗ bền vững. Các cấp quản lý cần khẩn trương triển khai chương trình bảo tồn nguồn gen và số hóa dữ liệu trong giai đoạn 2025 - 2027. Hãy liên hệ với các đơn vị nghiên cứu lâm nghiệp để tiếp cận toàn văn công trình và cùng chung tay gìn giữ vốn quý y học cổ truyền dân tộc.