CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Sơ lược về sự phát triển của nền y, dược cổ truyền trên Thế giới Có thể nói, ngay từ thời xa xưa cùng với quá trình quan sát tự nhiên và tìm kiếm thức ăn, con người đã bắt đầu tích luỹ cho mình những kiến thức về sử dụng thực vật phục vụ nhiều mục đích khác nhau cho cuộc sống, trong đó có việc sử dụng dược tính của các loài thảo mộc cho mục đích chữa bệnh. Ngày nay chúng ta vẫn còn dựa vào các đặc tính chữa bệnh của các loài thảo mộc này để bào chế khoảng 75% các loại thuốc [1]. Trải qua nhiều thế kỷ, các dân tộc hay các cộng đồng người trên khắp thế giới đã phát triển những phương thuốc cổ truyền của họ, một số phát triển thành học thuyết như trong YHCT Phương Đông có học thuyết âm dương, ngũ hành, vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay hay như một số phương thuốc và cách chữa bệnh có vẻ lạ lùng thần bí như các tộc người ở châu Phi và nhiều nơi khác.
Từ thế kỷ XIX đổ về trước Hầu hết những hiểu biết của con người về dược tính của thảo mộc đều chưa mang tính phổ biến rộng, đôi khi còn mang mầu sắc của tâm linh [1]. Những kiến thức về dược thảo và phương pháp trị bệnh bằng cây thuốc hầu hết được truyền lại bằng miệng hay theo kiểu “gia truyền” cho một hay một vài thành viên trong gia đình, dòng tộc, điều này thậm chí vẫn còn được duy trì cho đến ngày nay tại nhiều vùng quê trên khắp Thế giới và ngay cả ở nước ta, việc ghi chép lại những phương thuốc và cách trị bệnh trong thời kỳ này hầu như chưa có nhiều, điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như đã nói trên, bên cạnh đó hệ thống văn bản chữ viết trong giai đoạn này cũng chưa phát triển rộng rãi. Tuy vậy, nhân loại cũng đã tìm thấy một số những ghi chép cổ có thể LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 coi là những tác phẩm kinh điển đầu tiên trong việc sử dụng cây thuốc và các phương pháp trị bênh như: Tại Trung Quốc, tác phẩm Kinh Thần Nông được viết vào thế kỷ I TCN, có 364 mục trong đó có 252 mục nói về các loại thuốc có nguồn gốc từ thảo mộc, hay như cuốn Hoàng Đế Nội Kinh cũng được viết vào giai đoạn này; Tại Ấn Độ, trong bộ sử thi Vedas được viết vào năm 1500 TCN và cuốn Charaka Samhita được các thẩy thuốc Charratta viết tiếp theo bộ sử thi Vedas cũng đã trình bày chi tiết 350 loài dược thảo; Tại châu Âu, vào thế kỷ I SCN một thầy thuốc Hy Lạp tên là Dioscorides đã viết một cuốn sách dược thảo đầu tiên ở châu Âu, đó là quyển “De materia”, cuốn sách này đề cập đến 600 loài thảo mộc, gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến y học phương tây và là tài liệu tham khảo chính được dùng ở châu Âu cho đến thế kỷ XVII; Tại Ả Rập, nơi trung chuyển giữa châu Âu và châu Á cùng với sự kế thừa của thời kỳ Hy Lạp – La Mã cổ do vậy mà người Ả Rập rất tinh thông về y dược, sự tiếp xúc với cả hai nền y học cổ truyền của Ấn Độ và Trung Quốc đã giúp họ phát triển những kiến thức đáng kể về y học và dược thảo. Acicenna (980 – 1037 SCN), tác giả cuốn “Các quy tắc y học” (Canon of Medicine) là thầy thuốc nổi tiếng vào thời kỳ đó, v.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ trong giao thương giữa các lục địa, đặc biệt là giai đoạn từ thế kỷ VI – XIX việc buôn bán giữa châu Âu và châu Á được mở rộng mạnh mẽ đã giúp cho việc trao đổi nguồn dược thảo [1], những kinh nghiệm trong việc sử dụng y học tinh thông châu Âu cũng bắt đầu phát triển mạnh thông qua các bài học về kiến thức y học từ khắp nơi trên thế giới. Từ thế kỷ XX đến nay Từ khoảng đầu thế kỷ XIX, các loại thuốc mới đều được tổng hợp trong phòng thí nghiệm, hoặc được chiết xuất từ thảo mộc. Thành tựu đầu tiên phải kể tới đó là việc tách ra được những thành tố như: morphin, cocain, penicillin, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.v… của các nhà khoa học hàng đầu lúc đó như Louis Pasteur, Alexander Fleming, v.v… Chính những kết quả này đã góp phần làm giảm nguy cơ đe doạ đến tính mạng con người bởi các chứng bệnh như giang mai, viêm phổi, lao, các bệnh do nhiễm trùng, v. khiến những chứng bệnh này không còn là nguyên nhân chính gây tử vong ở các nước phát triển trong thời kỳ đó [1].
Ngành dược hiện đại đã cho ra đời các loại thuốc có hiệu quả cao, dễ sử dụng, điều này đã khiến cho người bệnh ở châu Âu và châu Mỹ quen với việc sử dụng những liều thuốc có thể làm hết tức thời các triệu chứng bệnh, cùng với đó là sự nghi ngờ về tính hiệu quả của các bài thuốc dân gian, dược thảo và mọi người bắt đầu xem dược thảo như là lỗi thời và “quái đản”. Với mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn, việc sử dụng dược thảo bị đặt ngoài vòng pháp luật tại một số nước thuộc châu Âu và châu Mỹ (điển hình như: Anh, Mỹ,. Điều này khiến cho dược thảo tại một số quốc gia nay đứng bên bờ của sự diệt vong. Tuy vậy, vào cuối những năm 30 vẫn có khoảng 90% các loại thuốc được các bác sỹ kê toa hay bán tại các hiệu thuốc có nguồn gốc từ dược thảo [1], và sức sống của dược thảo truyền thống vẫn luôn được khẳng định bởi khẳ năng thâm nhập sâu trong đời sống con người thuộc mọi tầng lớp, đặc biệt là những người nghèo ở những quốc gia kém phát triển hơn trên thế giới.
Một nguyên nhân nữa là thói quen chữa bệnh và sử dụng thuốc của người dân tại những quốc gia này vẫn còn thiên về các loại thuốc truyền thống, trong khi không phải ai cũng có đủ điều kiện để tiếp cận với những loại thuốc tiên tiến. Bên cạnh đó, con người cho dù đã có nhiều thành tựu vượt bậc trong ngành hoá dược hiện đại, nhưng vẫn còn tiềm ẩn nhiều mối nguy cơ rủi ro từ những phản ứng phụ đem lại, điển hình là bi kịch “chất thalidomide” vào năm 1962 ở Anh và Đức, khi 3.000 trẻ em dị dạng được sinh ra vì các bà mẹ đã LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 dùng thuốc có chất này để trị chứng ốm nghén trong thời gian mang thai [1]. Cùng với rất nhiều các bằng chứng khác về các phản ứng phụ do thuốc có nguồn gốc hoá dược tổng hợp có thể gây ra, nhưng chúng được che dấu đi bởi những nguyên nhân một phần do nôn nóng trong nghiên cứu, hoặc do lợi nhuận kinh tế đem lại, v. chính những biến cố này đã đánh dấu một bước ngoặt trong thái độ của công chúng đối với các loại thuốc hoá dược.
Mọi người nhận ra rằng sự thuận lợi trong cách chữa trị bằng thuốc hoá dược có thể kèm theo là những rủi ro khó lường và công chúng bắt đầu có sự nhìn nhận lại những giá trị đối với dược thảo, kết quả là ngày càng có nhiều loại thuốc chiết xuất từ thảo mộc được sử dụng. Thế giới ngày nay có xu hướng quay trở về với cây thuốc và thuốc do thiên nhiên tạo ra “thảo mộc” hơn là hoá chất được tổng hợp mà ảnh hưởng lâu dài ta chưa biết được [22],[24]. Việc tìm hiểu nghiên cứu tự nhiên nhằm tìm ra các phương thuốc có thể giúp con người tránh được những loại bệnh hiện đang được coi là nan y và nhiều chứng bệnh khác có vẻ chỉ có thể tìm thấy ở tự nhiên và những cây thuốc đó tập trung chủ yếu ở cánh rừng mưa nhiệt đới, điều này đã được nhiều nhà khoa học hàng đầu trên thế giới công nhận. Sơ lược về sự phát triển của nền YHCT Việt Nam Sự phong phú về văn hoá từ hơn 50 dân tộc, có vị trí địa lý là trung tâm của Đông nam Châu Á, điều kiện địa hình phong phú kéo theo các đặc điểm về thế giới động thực vật cũng vô cùng đa dạng, đến nay các nhà khoa học xác định được khoảng trên 11.000 loài thực vật, trong đó đã ghi nhận trên 3.200 loài thực vật bậc cao dùng làm thuốc [22],[25],[28].
Ngay từ thời các vua Hùng qua các văn tự hán nôm còn sót lại và qua các truyền thuyết, tổ tiên ta đã biết dùng cây cỏ làm gia vị kích thích ăn ngon miệng cũng như chữa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 nhiều chứng bệnh, vào khoảng thế kỷ thứ II TCN đất Giao Chỉ đã được biết đến qua nhiều loài cây thuốc quý [16]. Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, ông cha chúng ta đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm, kiến thức qúy báu từ những loài cây, con xung quanh mình để phục vụ cho việc chăm sóc sức khoẻ và chữa bệnh, một phần những kiến thức đó lần đầu tiên đã được ghi chép lại trong cuốn sách về y dược do Phan Phù Tiên biên soạn có tên “Bản thảo cương mục toàn yếu” vào thế kỷ XIV. Tiếp sau thế hệ của Phan Phù Tiên có đại danh y Tuệ Tĩnh (tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh), là một nhà tu hành nhưng ông có nhiều kiến thức uyên thâm về y dược và được nhân dân ta suy tôn là vị “thánh thuốc nam” với tư tưởng cứu nhân độ thế, ông không những trị bệnh cứu người mà còn phổ biến nhiều kinh nghiệm trị các bệnh thông thường cho nhân dân. Sau khi mất, ông đã để lại bộ sách quý “Nam dược thần hiệu” với phương châm “Thuốc nam chữa bệnh người nam” bộ sách gồm 11 quyển với 496 vị thuốc nam, trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật và 3.932 phương thuốc đơn giản để trị 184 chứng bệnh của 10 khoa lâm sàng.
Ngoài ra, ông còn viết cuốn “Hồng nghĩa tác tư y thư” gồm hai bài “Hán nôm phú”, tóm tắt công dụng của 130 loài cây thuốc cùng 13 đơn thuốc và cách trị cho 37 chứng sốt khác nhau [16]. Đến thời Lê Dụ Tông xuất hiện Hải Thượng Lãn Ông – Lê Hữu Trác, ông là người đã biên soạn bộ sách “Lãn ông tâm lĩnh” gồm 28 tập 66 quyển. Bộ sách được coi là Bách Khoa toàn thư của YHCT Việt Nam [16]. Dưới thời Pháp thuộc (1884 – 1945), chính sách ngu dân đã loại Y học dân tộc nước ta ra khỏi chính sách bảo hộ.
Tuy nhiên vẫn có một số nhà thực vật học người Pháp nghiên cứu nhưng với mục đích khai thác tài nguyên như: Crévost, Pétélot.